Hoa Ngọc Lan là quyển truyện ngắn nói về đời sống hằng ngày của những nhà tu đằng sau cửa "tam quan huyền bí" Dù là truyện nhưng tác giả đã nhẹ nhàng lồng vào đó những giáo lý căn bản của đạo Phật. Những lời dạy của chư tổ, oai nghi, thiết yếu cho những người mới vào đạo...
Hoa Ngọc Lan
Tác giả: Thích Chơn Thiện
Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh. PL. 2542 – DL. 1998
Mục Lục
Lời đầu sách
Chương I: Nếp sống nhà Chùa Huế và công việc hành điệu, tu tập.
Chương II: Tỳ ni, Sa di luật, Oai nghi và Cảnh Sách.
Chương III:
1/ Tám điều giác ngộ của một bậc Thượng sĩ
2/ Lời di huấn của Thế Tôn
3/ Các thao thức về "Con đường" và việc "thực hiện Con đường"
4/ Tình cảm nhà tu.
LỜI ĐẦU SÁCH
Trước tiên, chúng tôi xin trình bày nhân duyên chọn tên cuốn sách này.
Kỷ niệm thời trẻ là kỷ niệm khó quên. Mỗi lần nhớ Huế là mỗi lần tôi nhớ hoa ngọc lan. Một hôm viếng Chùa, một đại đức đã đọc và giảng bài thơ chữ nho trên vách cho tôi nghe. Tác giả bài thơ là nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Bài thơ ca ngợi đức hạnh của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết qua hoa ngọc lan. Làn hương ngọc lan và đức hạnh của Hòa thượng đã quyện chặt vào tuổi trẻ của tôi từ đó. Tôi yêu bài thơ ấy và học thuộc lòng:
"Tiền thân chưởng tự xuất bồng lai
Duy hướng bồ đề viện lý tài.
Tố nhụy quang tranh đông dạ tuyết
Kỳ phương phẩm đoạt lảnh đầu mai.
Hương chân vương giả thiên thùy thưởng
Trang tỉ thường nga nguyệt ám xai
Duy Phật tùng lai năng thức Phật
Ân cần huệ ngã thử hoa khôi.”
Dịch nghĩa:
Thân trước vốn người tự cõi tiên
Sao vì trí giác đến rừng Thiền,
Sắc màu đông tuyết còn thua thắm
Hương chất hoàng mai lại kém duyên.
Dáng vẻ triều vương trời ái mộ
Hằng nga trang tỉ nguyệt ưu phiền.
Phật duyên tương cảm nên tương ngộ
Cành ngọc lan trao tới cựu hiền.
Ai đã một lần diện kiến Hòa thượng mà có thể quên được hình ảnh giải thoát của Người? Lần đầu tiên hầu Người là lần đầu tiên tôi có ý niệm về giải thoát. Từ đó, tôi nuôi dưỡng ý chí xuất gia. Ba năm sau, đến năm 1961, tôi may mắn có mặt trong hàng đệ tử nhỏ xuất gia của Người. Tôi đã đến với đạo qua Người, nghĩa là tôi đã đến với niềm tin giải thoát trước chánh kiến qua kinh tạng.
Nay nhìn lại, tôi nhận ra nếp sống nhà Chùa là nếp sống tình thương và Trí tuệ. Người trong thơ đã mở nguồn cho tôi vào đạo và mở nguồn cảm xúc cho tôi bây giờ. Tôi chọn tên cho tập sách nhỏ này "Hoa Ngọc Lan" là vì thế.
Tập sách là những mảnh hồi ký, bao gồm các chương:
Chương I: Nếp sống nhà Chùa Huế và công việc hành điệu, tu tập.
Chương II: Tỳ ni, Sa di luật, Oai nghi và Cảnh Sách.
Chương III:
Tám điều giác ngộ của một bậc Thượng sĩ
Lời di huấn của Thế Tôn
Các thao thức về "Con đường" và việc "thực hiện Con đường"
Tình cảm nhà tu.
Xin trân trọng giới thiệu nếp sống ấy đến quý bạn đọc. Mong quý bạn thông cảm qua những giới hạn và thiếu sót của tập sách.
Trân trọng,
Tỳ kheo Thích Chơn Thiện (Xuân 1986, PL. 2529)
Chương I: NẾP SỐNG NHÀ CHÙA HUẾ VÀ VIỆC HÀNH ĐIỆU, TU TẬP
Cạo tóc:
Lần đầu xuống tóc xuất gia có một ý nghĩa thật quan trọng đối với chú Tâm Ngộ. Ðó là mốc điểm thời gian giữa hai nếp sống quá khứ và hiện tại. Bạn có thể hình dung ra được chăng những biến đổi tâm lý lúc ấy của một người trẻ tuổi quyết định từ giã đời sống gia đình?
Hòa thượng bảo chú Tâm Ngộ, "Con được phép xuống tóc khi nào con muốn.”
Thế là Thầy pháp huynh cạo tóc cho chú chiều hôm ấy. Thầy pháp huynh cười thân mật, "Cạo tóc lần ni là vẫy chào quá khứ đó!" Chú Tâm Ngộ chỉ cười nhẹ, chỉ nói lên được một tiếng "dạ" giữa nỗi lòng xao xuyến.
Nhìn từng nhóm tóc xanh rơi xuống, chú nghĩ, "đúng là hình ảnh chào Từ biệt quá khứ; chú đang bắt đầu một nếp sống mới với các tập quán và suy nghĩ mới.”
Học Tỳ ni:
Hôm sau, Hòa thượng bảo chú, "Con hãy tìm học Tỳ ni trước.” Thầy pháp huynh giảng cho chú từng bài kệ Tỳ ni. Chú Tâm Ngộ hỏi về ý nghĩa của các mật ngữ, Thầy đáp, "Ấy! Nó là mật ngữ. Ðã là mật ngữ thì là mật nghĩa. Hãy làm quen với việc để suy nghĩ ra ngoài nó!” Chú đành cặm cụi học thuộc lòng từng bài kệ và câu chú.
Làm việc:
Phần việc chú Tâm Ngộ phụ trách mỗi ngày là quét nhà, một góc vườn và cào rác dương. Thỉnh thoảng chú mới giã gạo hay bửa củi. Chú phải tập làm quen với các việc đó trước khi học đạo. Nói đúng hơn, đó là các việc hành đạo ban đầu của chú.
Một tháng sau, chú được cử hầu quạt và hầu trà cho Hòa thượng. Ðó là thời gian Hòa thượng theo dõi tâm lý của Chú.
Sau sáu tháng, Hòa thượng bảo, "Con có căn Thiền rồi đó. Hãy hành Thiền đi!” Thực sự Hòa thượng biết rõ mấy tháng qua Chú đã hành Thiền vào mỗi giữa đêm.
Thời gian hành điệu, đối với Chú, đi qua thật bình an.
Tạp luận:
Kỷ luật nhà Chùa là "Im lặng như Chánh pháp, nói năng như Chánh pháp.” Nghĩa là hành Thiền hoặc bàn luận giáo lý. Nghiêm lắm! Nhưng Thầy pháp huynh cởi mở đã cho phép các Chú mở mục "Interlude" để nói chuyện trời mưa, trời nắng.
Thầy và các Chú thường họp mặt ở nhà trù kể chuyện lịch sử và các giai thoại nhà Chùa. Thầy nói có duyên và ý vị. Có lúc các Chú đã cười đến chảy nước mắt. Các cuộc họp mặt này ở ngoài tầm mắt của Hòa thượng.
Một lần, Thầy pháp huynh cắt nghĩa sự khác biệt giữa các quả vị Thanh Văn, A la hán, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật, Chú Tâm Ngộ hỏi, "Các quả vị ấy đều là vô phân biệt, tại sao có thể có sự phân biệt cao thấp ở đó?” Thầy pháp huynh ngạc nhiên, "Ý kiến nghe là lạ, đáng suy gẫm.” Rồi Thầy đặt lại câu hỏi trắc nghiệm, "Các chú có mong sớm về Hội Linh Sơn không nhỉ?" Chú Tâm Ngộ đáp, "Dạ ở Linh Sơn không có ý niệm thời gian thì không có sự kiện sớm, muộn. Chúng con chỉ xin an tâm hành đạo thôi.” Ố Lại triết lý! Thầy pháp huynh cười.
Các chú thường cũng có các chuyện vui buồn nhỏ và đặt tên là "chuyện nhà trù", vì chúng được đem ra thảo luận ở nhà trù. Các chuyện linh tinh đó được xếp vào loại "tạp thoại.” Chúng ở ngoài quy củ sinh hoạt của nhà Chùa, nhưng cần thiết.
Tạp tác:
"Tạp tác" là danh từ sáng tạo của các Chú ám chỉ các việc làm ngoài quy định, như xẻ một trái mít chín, nấu một niêu xôi phi thời.
Thầy pháp huynh bảo sinh hoạt "tạp tác" là sinh hoạt mở, hay sinh hoạt khế cơ.
Chú Tâm Thành lập luận triết học về nguyên tắc sống "tam thường bất túc", dựa vào kinh nghiệm tạp tác, rằng:
Ăn ít hơn một tí, sẽ thấy rõ hạnh phúc của cái ăn.
Ngủ ít hơn một tí, sẽ thấy rõ hạnh phúc của giấc ngủ.
Mặc đơn giản, sẽ thấy rõ hạnh phúc của cái mặc.
Trong nếp sống khổ hạnh của nhà Chùa, bạn sẽ tìm thấy hạnh phúc hầu như có mặt khắp mọi nơi. Hạnh phúc hay niềm vui đến thì buồn bã, cô đơn bay xa. Vì thế, các "chuyển mục" và "tạp tác" đã đem lại niềm vui sống cho các Chú trước khi có niềm vui giải thoát.
Tiết mục "tạp thoại" thường được xen kẽ vào mục "tạp tác.” Một lần chú Tâm Thành kể chuyện vui, "có một bà sau khi bán hàng, mua về một kí lô muối; ngày hôm sau, sau khi bán hàng xong, bà ta cũng mua về một kí lô muối nữa; ngày thứ ba, sau khi bán hàng xong, bà ta cũng mua về một kí lô muối nữa, vị chi là ba.” Rồi chú ngưng kể, tiếp tục nhồi khoai lang chiều.
"Chuyện kể lạt quá!" chú Tâm Tín chê.
"Ba kí lô muối rồi mà còn lạt à?" chú Tâm Thành cười. Thầy pháp huynh bật cười theo.
Thầy pháp huynh lại kể, "Ở một căn nhà giữ các người đãng trí, một hôm, một chàng đãng trí lấy trộm chiếc chìa khóa cửa và định bụng sẽ mở cửa đi chơi sau phiên gác của người canh cửa. Lúc ấy, người canh cửa có việc cần về nhà một lát, lúng túng chưa biết tính sao, người canh cửa đánh bạo để cửa mở, và đi về nhà. Liền khi đó, chàng đãng trí cầm chiếc chìa khóa, đứng ngay ngưỡng cửa mà than, “Cửa mở rồi, mần răng mình đi?”
Các chú bật cười, "đúng là đãng trí.”
"Mình cũng đang đãng trí đó. Cửa giải thoát đã mở tự hồi nào mà cứ loay hoay như chàng đãng trí", Thầy pháp huynh bảo.
Ngày Vía và ngày Kỵ, Tết:
Mỗi năm có một ngày dâng lễ cúng, tưởng niệm các bậc sư trưởng quá cố. Chùa sửa soạn hoa trái, cỗ bàn.
Tối đến, các Chú quây quần quanh Thầy pháp huynh, bên tách trà nóng, và nghe Thầy nói chuyện. Thầy thuật lại cuộc đời giải thoát của các sư trưởng, hoặc đọc cho nghe các bài thơ đạo. Thơ của pháp huynh có các phần cuối man mác buồn. Thầy bảo đó là dấu hiệu không hạnh phước của tương lai. Chú Tâm Ngộ thì quan niệm hiện tại của Thầy đã sáng, lựa là chờ đến một tương lai nào. Tương lai của nhà Chùa do Tứ niệm xứ quyết định, mà không phải do các vần thơ. Chú cũng biết viết thành thơ. Bài thơ đầu tay của Chú hồi đầu xuất gia là một bài không có tựa đề:
"Nhân sinh tự cổ thường cư mộng
Vọng tưởng sơn hà hữu hữu không.
Lưu chuyển luân hồi chiêu cảm nghiệp
Ðắm say sắc tướng muội mê lòng.
Si thì tìm tới vùng xao xác
Giác lại tìm lui cửa tịch không
Nếu thấy rỗng tênh tuồng tự ngã,
Thì chi tiếc lục với tham hồng.”
Chú thích nhất một bài thơ của Thầy pháp huynh mà Chú gọi là bài kệ giác:
"Tiền niệm bất sanh thị tâm
Hậu niệm bất diệt thị Phật
Phong hoa tuyết nguyệt thường nhiên
Nhạn lạc oanh đề xuân đáo.”
Ngày kỵ là ngày thay đổi thức ăn đặc biệt, và là ngày nhà Chùa tiếp đón nhiều Tăng, Ni và Phật tử.
Tết Nguyên đán thì Chùa bận rộn nhất. Làm sạch sẽ trong Chùa và ngoài Chùa; gói bánh chưng, bánh tét; tiếp các Phật tử nhộn nhịp đến Chùa trong các màu áo mới. Bận rộn đến nỗi chú Tâm Tín phải buông lời than, "Ðúng là cần xây dựng cảnh giới Tịnh Ðộ ngay tại đây, cảnh giới tự tịnh, không phải làm sạch sẽ....”
Chú Tâm Thành bảo, "Tết của đời mà không phải của đạo.” Chú Tâm Tín lập luận liền, "Khổ đau là do chữ của ấy. Tết là Tết, thế thôi.”
Phật đản và Vu lan là hai ngày lễ lớn; Các chú hoan hỷ nhất trong hai ngày ấy, dù có bận rộn trang hoàng đèn, cờ, v.v...
Thầy pháp huynh nhân dịp ấy giới thiệu đến các Chú những nét lịch sử đặc biệt của Thế Tôn. Hôm nay với nét mặt trang trọng khác mọi khi, và với giọng đầy xúc cảm, Thầy nói chuyện lịch sử đức Phật, đưa các chú trở về xứ Ma Kiệt Ðà, thành Vương Xá, trước Thánh chúng hân hoan và giải thoát.
Chú Tâm Ngộ phát biểu, "Thưa pháp huynh, con thích nhất và xúc động nhất về các nét rất là giản dị và rất người của Thế Tôn. Ngài đi chân không, nhặt cỏ khô làm thảo tọa; núp mưa qua đêm trong chái nhà lá bên vệ đường; dùng cơm trong bếp nấu của người đệ tử mù lòa; ngố tịnh thất với mấy tấm tranh cũ v.v... Thật là tuyệt diệu! trong nét dung dị ấy lại đựng đầy một pháp giới Trí tuệ và Từ bi. Ngài là kết tụ của vũ trụ tinh anh!”
Chú Tâm Thành và Tâm Tín thì lặng lẽ trầm tư. Pháp huynh bấy giờ mới nở nụ cười tươi, Thầy nói, "Tôi cũng nghĩ thế. Chính nét dung dị nhất ấy là điểm siêu việt nhất và siêu phàm nhất.”
Ngày Vu lan là ngày hiếu và hoan hỷ, là ngày Tết của nhà Chùa. Trong không khí chan hòa niềm vui, chú Tâm Thành một độ cảm tác mấy vần thơ nhớ Mẹ:
“Hôm nay con nhớ Mẹ
Ði đã mấy mùa thu
Tình thương lên cao vút
Trông ai xứ mịt mù.
Hôm nay con nhớ Mẹ
Nhớ lời ru từ bé
Ru lắng tâm hồn trẻ
Vào giấc ngủ bình an.
Hôm nay con thấy Mẹ
Là toàn cõi hư không
Và con là cánh én
Bay vào giữa mênh mông.
Hôm nay con nhớ Mẹ
Nhớ đầu mối từ tâm
Nhớ đầu nguồn giải thoát
Con dừngbước kiếm tầm.
Hôm nay con nhớ mẹ
Nhớ bóng dáng hoàng oanh
Hót trên càng liễu biếc
Nhớ Mẹ, nhớ trời xanh.”
Thầy pháp huynh khen khá lắm và nói, "Ôi! Mẹ hiện ra như là Bồ tát Ðịa Tạng!”
Sáng 16/7 âm lịch, chư Tăng đảnh lễ mừng tuổi hạ Hòa thượng. Hòa thượng sách tấn, "Ngày xưa, Thế Tôn chỉ dạy bằng thân và lời. Nay sức khoẻ đã yếu, tôi chỉ dạy bằng chính sự im lặng của tôi. các Thầy nhớ nỗ lực!"
Tiết mục tạp thoại chiều hôm ấy nói về thần thông giáo hóa và giáo dục vô ngôn. Pháp huynh ca ngợi thái độ giáo dục đầy tình người và Trí tuệ đó. Không có một lý lẽ nào biện minh cho giáo dục con roi cả.
Ngày tảo tháp:
Ngày tảo tháp của Chùa là ngày đầu tháng chạp mỗi năm. Tảo tháp là viếng tháp và làm sạch sẽ các tháp, mộ. Dịp này, các chú trình độ văn hóa Tú tài, được thưởng thức văn chương bia ký và học hỏi hạnh tu của chư vị tôn túc.
Thầy pháp huynh nói về truyền thống tháp mộ. Truyền thống này có từ thời Phật. Hình dáng ngôi tháp biểu mẫu mà Thế Tôn phác họa có ba phần chính, nền tháp là một chồng y xếp gấp; thân tháp là hình dáng chiếc bình bát; và đỉnh tháp là hình chiếc tích trượng (gậy). Thế là, tháp là sự sắp đặt lại hành trang của một Tỳ kheo trên đường về giải thoát. Thật ý vị! Về sau, hình dạng đã biến đổi qua các vùng văn hóa khác nhau.
Ðịa điểm tảo tháp sau cùng là khuôn viên tháp trong vườn Chùa. Thầy pháp huynh đã giảng bài châm trên bức chấn phong trên tháp của Hòa thượng. Phật tử Huế đã dựng tháp cho Hòa thượng lúc Ngài còn sống. Bài châm do Hòa thượng Quy Thiện cung soạn:
Hương giang chi nguyệt
Ngự lãnh chi vân
Sơn xuyên dục tú
Ðỉnh xuất kỳ nhân
Giác trần thị huyễn
Duy đạo vi trân
Nghi huynh nghi đệ
Vô Trước Thiên Thân
Chấn khởi Thiền phong
Chiết phục tà thái
Hóa mãn diêm phù
Kỳ huynh nan tái
Vân ám trường thiên
Ba cuồng đại hải
Huệ chúc từ phàm
Duy sư thị lại
Vi Giáo hội chủ
Vi chúng trung tôn
Giáo lưu Nam độ
Thục dự tỉ luân
Pháp hoằng gia vụ
Ðạo kế tông môn
Nghi đoan biểu chánh
Mục kích đạo tồn
Bổng xướng tùy nghi
Nhơn hàm kính ngưỡng
Thanh tịnh nan danh
Ứng dụng vô lượng
Phật Pháp đống lương
Tông môn bảo chướng
Tuyển Phật tràng trung
Lễ tôn Hòa thượng.
Xuân thành hậu tấn
Cửu phụ đức âm
Vô nhỉ biểu thành
Kiền bị chuyết châm
Nguyện thùy liên nhãn
Phủ giám qùy thầm
Vĩnh phụng trần sát
Tương thử thâm tâm.
Tạm dịch:
Trăng sông Hương
Mây núi Ngự
Núi sông đẹp đẽ
Khéo đúc nên người
Giác đời là huyễn
Chỉ đạo là quý
Xứng huynh xứng đệ
Như Vô Trước, Thế Thân
Chấn hưng nhà Chùa
Chiết phục tà thái
Ðộ xong Ta bà
Người anh về Phật.
Than ôi! mây phủ ngất trời,
Sóng gầm biển lớn!
Ðuốc tuệ thuyền từ
Chỉ còn Ngài là chỗ nương.
Pháp Chủ Giáo hội
Bậc Chúng Trung Tôn
Truyền giáo đất Nam
Mấy ai sánh kịp.
Hoằng pháp là việc nhà
Nối tiếp mối đạo
Hình nghi đĩnh đạc
Trừng mắt là đạo
La đánh tùy cơ
Mọi người đều kính
Thanh tịnh khó bàn.
Ứng dụng vô cùng
Ðống lương Phật pháp
Bình phong nhà Chùa
Trong trường tuyển đạo,
Ðược tôn Hòa thượng.
Kẻ đời sau ở Huế
Từ lâu nhờ đức
Lấy gì bày tỏ lòng thành,
Bèn cung soạn bài châm vụng về
Mong Ngài hạ cố chứng minh,
Nguyện đem thâm tâm
Mãi mãi phục vụ chúng sanh.
Chiều ấy, theo đà, Thầy pháp huynh giảng tiếp hai câu đối trước bàn hậu Tổ và trước điện:
Câu 1:
"Lâm phong thuyết pháp ba ưng trụy,
Ðối Nguyệt đàm kinh thạch điểm đầu.”
(Trước gió nói pháp, hoa muốn rơi,
Dưới trăng luận đạo, đá gật đầu. )
Câu 2:
"Kiến tánh ly trần, siêu phân biệt, nhi tùy duyên tự tại.
Chơn tâm vô vọng, xuất thị phi, dĩ diệu huệ trang nghiêm.”
(Thấy thật tánh, rời tham ái các trần, vượt ra khỏi chấp thủ các tướng, theo duyên mà tự tại. Tu chính tâm, không có sai lầm, thoát khỏi phải trái, lấy Trí tuệ để trang nghiêm)
Khách nhàn du có thể tìm thấy bóng dáng chân lý khắp cảnh Chùa: từ cổng Chùa, tháp, hiên Chùa, và từ nếp sinh hoạt. Chùa xuất hiện như một cảnh giới Tịnh độ thu nhỏ. Tất cả đang nói diệu pháp.
Thầy pháp huynh bảo rằng sự ngăn cách duy nhất giữa mình và chân lý là chính mình. Ðó là bí mật của cuộc đời! Ðiều bí mật đó đẩy con người đến một chọn lựa:
Hoặc nắm giữ tư duy ngã tính và dục vọng để bí mật kia tiếp tục tồn tại; hoặc chế ngự dục vọng và tư duy ấy để giải thoát.
Tảo tháp và kỵ là lúc các chú có dịp mở rộng tầm nhận thức, lòng tôn kính, và có các thức ăn thượng vị. Chú Tâm Tín cho rằng thức ăn thượng vị của nhà Chùa vẫn là quả bùi và chao kho. Có yếu tố đạo tình trong đó, khó giải thích lắm! Sự hân hoan nào, dù là sự hân hoan đến từ quả bùi và chao kho, cũng có tác dụng đánh tan sầu muộn và giảm nhẹ thân bệnh.
Hành Thị giả:
Sau sáu tháng hành điệu, chú Tâm Ngộ được chọn làm Thị giả cho Hòa thượng. Chú học cách thức nấu nướng ngót ba tuần lễ. Chú không thạo việc, nhưng hạnh tế. Chú có nét tịnh khi hầu quạt hay hầu trà, thường được Hòa thượng hoan hỷ dạy chuyện.
Một lần Hòa thượng hỏi trắc nghiệm, "Nếu nói để hạt cải vào trái núi thì được; còn nếu nói để trái núi vào hạt cải cũng được, thì con nghĩ sao?"
Chú bạch, "Con không biết cắt nghĩa sao. Nhưng hẳn con tin rằng nếu không làm được thì đã không có nghĩa tự tại giải thoát.”
"Nghe giọng nói con có lòng thâm tín chư Phật, nhưng rõ thì chưa.”
Chú Tâm Ngộ đã phải suy nghĩ hai ngày mà vẫn chưa sáng lên một lời đáp nào. Qua ngày thứ ba, Thầy pháp huynh gợi ý rằng Phật giáo chỉ nói một chuyện thôi, đó là vô ngã hay duyên khởi. Ðó là giáo lý thậm thâm.
Sau đó, chú bạch, "Kính bạch, núi và hạt cải đều vô ngã. Ðã vô ngã thì không ngăn ngại nhau. Không ngăn nhau thì nhiếp nhau. Hạt cải là pháp giới, nên để bao nhiêu trái núi vào cũng được.”
"Nghe được đó. Mà đó chỉ là chuyện của sách vở", Hòa thượng bật cười.
Chú Tâm Ngộ từ đó cứ rơi vào trầm tư về vấn đề ấy. Một tuần lễ sau, Hòa thượng dạy chú hành Thiền chỉ và Thiền quán, và bảo, "cứ tư duy mãi về vô ngã!” Lâu lâu Hòa thượng lại hỏi dò chú về công phu ấy.
Về sau, có lần chú Tâm Ngộ nói, "Có lúc tôi cảm thấy vô ngã hiện rõ hơn là cuộc đời.”
Một sáng sớm chú vô ý đánh vỡ chiếc bình trà quý đời Thanh. Chú ngỡ là sẽ bị Hòa thượng quở nặng, nhưng không ngờ lại nghe Hòa thượng dạy, "Vỡ thì thôi. Lấy chiếc bình đất thay vào.” Chú thấy lòng mừng khấp khởi. Nỗi mừng kéo dài chưa lâu thì chú lại rơi vào tư lự: "Chiếc bình quý vỡ chỉ làm dấy lên trong mình niềm lo sợ, mà chẳng làm dấy lên một niệm giác tỉnh nào. Sao lại không nghe được một tí vô thường nhỉ?"
Nụ cười trái tim:
Hòa thượng rất oai nghiêm. Khi cười thì đầy hoan hỷ. Là Thị giả hầu cận, chú Tâm Ngộ nhiều lần chứng kiến nụ cười của Hòa thượng ở trong phòng tắm mà chú gọi là nụ cười trái tim.
Một Hoàng hậu đời Thanh bảo, "Con người thật chỉ xuất hiện khi tắm.” Lời nói đó như có thiếu cái gì cần được thêm vào. Con người thật thì ở đâu cũng thật. Hệt như ca dao Việt Nam: "Trúc xinh trúc mọc bờ ao, em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.” Chú đã nhận ra nụ cười của Hòa thượng khi tắm, thanh thoát như nụ cười trên bồ đoàn. Nụ cười và tiếng nói phản ảnh tâm hồn còn trung thực hơn cả đôi mắt. Người ta có thể dấu lòng mình sau đôi mắt, nhưng không thể dấu lòng mình sau ngôn ngữ (âm thanh).
Ðấy là ý nghĩa của nụ cười trái tim.
Câu chuyện Thị giả của chú Tâm Ngộ là câu chuyện dài, nhưng có thể cô kết lại bằng lời phát biểu chân tình của chú, "Ở đời có đối tượng để tôn kính và phục vụ là điều đại hạnh.”
Sự im lặng sáng tạo:
Mỗi sự im lặng có một nội dung riêng. Có sự im lặng đầy lo âu, căng thẳng, hay trống rỗng, v.v..., vùng im lặng quanh bồ đoàn của Hòa thượng có một nội dung khác. Chú gọi là sự im lặng không tên, hay sự im lặng của chánh pháp. Giáp mặt với sự im lặng đó, thoạt đầu chú thấy lúng túng ở hai bàn tay; dần dần thích ứng và hân hoan. Tại đó, tâm chú được nhiếp tịnh.
Có khi chú gọi sự im lặng ấy là sự im lặng hòa thượng. Nay thì chú gọi là sự im lặng sáng tạo, bởi vì nó rất sống động và mới mẻ qua từng chốc. Chú có thể nhàm chán nhiều thứ, nhưng không khi nào nhàm chán sự im lặng đó. Chính nó lại có tác dụng xua tan các chán nản, mệt mỏi, cô đơn.
Học luật Sa di:
Hòa thượng thân hành dạy Luật, Tỳ ni, Oai nghi và Cảnh Sách cho chú Tâm Ngộ mỗi chiều.
Hòa thượng đi qua các ngôn ngữ và ý nghĩa rất nhanh. Chú Tâm Ngộ phải dành tất cả thì giờ còn lại trong ngày để sửa soạn trước mới theo kịp. Nhưng đi vào phần hành sự, thì Hòa thượng dạy rất kỹ. Sau bốn tháng học xong bộ luật Sa di (bao gồm Tỳ ni, Oai nghi và Cảnh Sách), chú Tâm Ngộ đã có một bước tiến khá dài. Các dục vọng, ưu sầu chìm lắng thật sâu (có thể nói là tan đi) trong thời gian đó. Chú đã tâm sự, "Sau này, nếu tôi rành rẽ về sự, và thông thạo giáo lý, tôi cũng không thể biểu hiện được cách dạy đặc kỳ của Hòa thượng. Lối dạy vừa trao truyền kiến thức vừa làm tiêu lòng dục của người đệ tử. Kiến thức uyên bác kết hợp với kỹ thuật giáo dục tiên tiến chưa thể đem lại kết quả đó, trừ phi trong ngôn ngữ và thái độ giảng dạy có chuyên chở giải thoát của tự thân.”
Lễ thọ Sa di giới:
Ngày lễ vía đức Phật A Di Ðà năm 1963 là ngày thọ Sa di giới của các chú Tâm Thành, Tâm Tín và Tâm Ngộ. Hòa thượng Tường Vân làm Ðàn đầu, và Hòa thượng Châu Lâm làm Yết ma. Buổi lễ đã để lại nhiều xúc động cho các giới tử.
Nghi thức vọng lễ ân quốc gia, xã hội và gia đình nói với các giới tử rằng hãy gác lại các ân nghĩa ấy trong suốt thời gian hành pháp xuất thế. Nói đúng hơn, chính đời sống xuất thế là hình thức đáp lại các ân nghĩa ấy một cách cao thượng hơn. Các giới tử đã đi qua phần nghi lễ một cách ngậm ngùi, nhưng cương quyết.
Ðến phần xuống tóc, Hòa thượng dạy:
"Lành thay bậc đại trượng phu
Thấu rõ đời là vô thường
Bỏ thế tục mà hướng Niết bàn
Thật hiếm có siêu việt.
Xả thân hình giữ khí tiết
Cắt ân ái, từ giã thân thuộc
Xuất gia hoằng dương Phật pháp
Thề độ hết thảy mọi người.”
Lời dạy đó đã xác định hai việc làm chính của người xuất gia:
Học, hiểu và hành giải thoát;
Giới thiệu con đường giải thoát đến mọi người.
Lễ thọ Cụ túc giới:
Cụ túc giới là giới Tỳ kheo.
Chỉ bốn tháng sau ngày thọ Sa di giới, chú Tâm Ngộ được Hòa thượng cho phép thọ Cụ túc giới tại giới đàn thống nhất tổ chức tại Việt Nam Quốc Tự, Saigon, vào năm 1964. Chú bối rối trước quyết định ấy của Hòa thượng, bởi sợ khó kham giữ Giới bổn Ba La Ðề Mộc Xoa (250 giới). Thấy rõ nỗi lo lắng đó, Hòa thượng dạy lời trấn an, "Giới Cụ túc tuy có 250 giới, nhưng với căn tánh của con, con chỉ cần giữ gìn một điều là đủ, đó là ý giới. Cứ giữ tâm ý an tịnh như con đang giữ.” Chú cúi đầu phụng hành. Bấy giờ chú vừa tròn 22 tuổi đời.
Niềm xúc động lúc thọ Cụ túc và Bồ tát giới còn lớn lao hơn nhiều so với niềm xúc động lúc thọ Sa di giới. Bấy giờ là lúc Chú cần khẳng định rõ ràng với tự thân rằng giải thoát là lẽ sống duy nhất, và hoằng đạo là sứ mệnh phục vụ đời. Trước lý tưởng xuất gia, chú cảm thấy mình bé nhỏ hơn bao giờ hết. Con đường trước mặt là để buông, mà không phải để nắm; để phục vụ, mà không phải để thụ hưởng. Chú phải xử lý thế nào với đôi bàn tay bé nhỏ của chú? với hiểu biết và định lực mỏng manh của chú? Hành trang hiện tại, chú chỉ có một niềm tin được khơi dậy và được nuôi dưỡng nhờ Hòa thượng, chú phải làm gì với niềm tin này? Các câu hỏi ấy liên tiếp dấy khởi lên trong lòng chú, kết thành một tràng ưu tư triền miên.
Tay mân mê chiếc y vàng 21 điều (Ðại y) mà Hòa thượng đã trao cho Chú trước ngày thọ đại giới, chiếc y mà Hòa thượng đã sử dụng qua một thời gian dài, chú Tâm Ngộ cảm động đến ứa nước mắt. Những hạt nước mắt hạnh phúc của ngày thọ giới trào ra từ cõi lòng đầy lo âu của chú. Các ngày tháng tiếp theo là những ngày tháng của trách nhiệm và ưu tư khiến lòng chú trĩu nặng...
Một hôm, Hòa thượng gọi chú đến và bảo, "Tu là giữ chánh niệm. Ðừng để lòng dao động vì bất cứ suy nghĩ nào, dù là suy nghĩ về tương lai giải thoát. Theo dõi và giữ gìn tâm an tịnh trong hiện tại là đủ. Cái gì phải đến sẽ đến. Ðừng bận tâm về nó.” Chú khắc ghi lời dạy vào lòng, nhưng tâm vẫn cứ dao động, dao động qua nhiều tháng ngày sau nữa.
Ngày thọ Cụ túc giới, về sau chú Tâm Ngộ hiểu, đánh dấu ngày đầu chú thực thụ đi vào Hội chúng giải thoát, ngày của sự sửa soạn những bước đi. Luôn luôn là những bước đi; luôn luôn ở trên con đường, mà không phải là nơi đến. Từ đó, chú cảm thấy an lạc hơn trong từng bước đi, tan đi nhiều dao động của tâm lý cũ. Cái tâm lý trách nhiệm nghĩ về nơi đến.
An cư và Tự tứ:
Mỗi năm, nhà Chùa sống trọn ba tháng, từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy âm lịch, để kiểm thúc thân tâm gọi là An cư hay Kiết hạ.
Lễ thọ An cư được cử hành đơn giản. Tất cả nương tựa vào sự hướng dẫn của Hòa thượng. Mỗi vị Tỳ kheo chỉ nói lên lời phát nguyện cấm túc ba tháng nghiêm trì Giới luật theo thể lệ An cư của tập thể, và cầu nương tựa Hòa thượng như là vị Luật sư hay Thiền chủ. Sau phần phát nguyện đó, Hòa thượng tuyên bố các phạm vi sinh hoạt của chư Tăng giới hạn trong phạm vi Chùa, trừ buồng kho và nhà trù. Chỉ khi có duyên sự đặc biệt và được Chúng chấp thuận thì Tỳ kheo mới được phép đi ra khỏi phạm vi quy định trong một khoảng thời gian giới hạn.
Lễ Tự tứ cũng tiến hành đơn giản. Ðấy là lễ kết thúc mùa An cư, trở lại với sinh hoạt tu tập bình thường. Các ngày trước và sau lễ Tự tứ là các ngày hoan hỷ nhất của chư Tăng.
Ngày Bố tát:
Còn gọi là ngày Trưởng tịnh. Sáng ngày rằm và ba mươi âm lịch (ngày 29 âm lịch, nếu là tháng thiếu) mỗi tháng, chư Tăng cố đô Huế tề tựu về Chùa Linh Quang, Huế, để làm lễ Bố tát. Ngày hôm đó có mặt rất đông các Phật tử tại gia thọ Thập thiện giới và Bồ tát giới nữa. Tại Linh Quang, chư Tăng được nghe tụng Giới bổn Ba La Ðề Mộc Xoa và kinh Phạm võng (Bồ tát giới xuất gia), và được dịp chiêm ngưỡng chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa. Ðấy là hai ngày đầy hoan hỷ và phấn khởi mỗi tháng. Tâm giải thoát được thêm duyên hưng phấn.
Chú Tâm Ngộ phát biểu, "Nếu hồi nhỏ, những ngày theo mẹ đến Chùa, về ngoại đã để lại các ấn tượng về quê hương như thế nào, thì ngày nay hình ảnh của những ngày Bố tát cũng để lại hình ảnh của quê hương giải thoát như thế.”
Lễ Sám hối:
Nhà Chùa Sám hối mỗi ngày vào thời công phu chiều. Nhưng, vào chiều 14 và 29, 30 âm lịch (ngày 28, 29 nếu là tháng thiếu) mỗi tháng, tất cả Chúng đều vào dâng lễ sám (trừ Hòa thượng), chuẩn bị tâm thanh tịnh cho ngày Bố tát.
Sám hối là tự nhìn thấy các điểm sai lầm của thân, khẩu, ý, và tự hứa không tái phạm trước ảnh, tượng Thế Tôn.
Kết thúc lễ sám (phần sám) là bài kệ:
"Tội tùng tâm khởi, tùng tâm diệt
Tâm nhược diệt thời, tội diệt vong.
Tội vong tâm diệt lưỡng cu không.
Thị tắc danh vi chân Sám hối.”
Tạm dịch:
Tội do tâm khởi, cũng do tâm diệt
(tội do tâm khởi, đem tâm sám)
Tâm đã tịnh rồi, tội liền tiêu.
Tội tiêu tâm tịnh thảy đều không
Thế mới gọi là chân Sám hối.
Bài kệ dạy rõ các sai lầm là khởi lên từ tâm, thì cũng từ tâm mà loại bỏ các sai lầm ấy; không thể chờ đợi một phép lạ nào khác. Khi tâm lý ổn định và thanh tịnh, thì sai lầm sẽ không còn chỗ tồn tại. Nếu có Trí tuệ thấy rõ tánh duyên sinh không thực của thân hành, khẩu hành và ý hành, tất cả đều không thật, thì tâm an lạc giải thoát sẽ khởi, và tâm vọng động sẽ lắng. Làm được vậy mới thể hiện đúng nghĩa của Sám hối. Nội dung của lễ Sám hối, như vậy là hình thức nhắc nhở người xuất gia trở về trách nhiệm tự tâm loại bỏ các vọng tâm, phiền não; trở về với Thiền quán vô ngã của thân và tâm.
Lễ Chúc Tán:
Lễ chúc tán được cử hành vào 4g30 sáng rằm và mồng một mỗi tháng. Hòa thượng luôn luôn có mặt trong lễ này để niêm hương, đảnh lễ Phật, Pháp và chư Tổ, dù là những sáng mùa đông buốt lạnh.
Buổi lễ bao gồm phần nguyện hương, tán hương, tụng lời nguyện của tôn giả A Nan, chú Lăng nghiêm, thập chú và lạy thù ân.
Sau phần niêm hương, Hòa thượng đảnh lễ Phật cho đến hết năm đệ Lăng nghiêm thì trở vào tịnh liêu. Chư Tăng tiếp tục cho đến cuối lễ.
Chỉ nghe giọng xướng pháp ngữ của Hòa thượng là đủ thấy lòng lắng tịnh và trang nghiêm, thanh thoát.
Bài nguyện hương chuyên chở đủ các nét tinh yếu của con đường giải thoát:
"Nguyện đám mây hương mầu nhiệm này
Bay khắp đến mười phương pháp giới
Ðể dâng cúng hết thảy chư Phật
Chư Pháp, chư Bồ tát, Thinh văn
Và hết thảy Thánh Hiền.
Mây hương kết thành đài Duyên khởi sáng
Ứng tánh làm Phật sự
Xông hương khắp chúng sinh
Khiến chúng sinh phát tâm cầu giải thoát
Rời xa các hành động sai lầm(của thân, khẩu, ý)
Thành tựu đạo Vô thượng.”
Mây hương của nhà Chùa là mây hương gồm năm phần: giới, định, tuệ, giải thoát và tri kiến giải thoát. Dâng cúng mười phương chư Phật, chư Bồ tát và chư Thánh, Hiền là dâng cúng công đức tu tập giới, định, tuệ, giải thoát và tri kiến giải thoát, mà không phải là hương trầm. Hương trầm chỉ là phương tiện bày tỏ. Công đức tu tập giải thoát đó nhằm chứng nhập pháp giới Duyên khởi và khai mở tâm chúng sinh cho tỏ ngộ mà chuyển mê thành giác. Cầu mong tất cả thành Phật quả.
Lời nguyện hương quả là cao thượng, tuyệt vờí!
Bài tán hương, toàn chúng đồng tán, với ý nghĩa tương tự được diễn dạt một cách khác rằng:
"Ðốt lên năm phần hương trong tâm
(giới, định, tuệ, giải thoát và tri kiến giải thoát)
Cho hương bay đến khắp pháp giới.
Như Hương Yên Ðồng Tử nghe hương trầm
Mà tỏ ngộ thật tướng nhờ Thiền quán mùi hương (hương do duyên sinh, vô ngã)
Phép Thiền quán về mũi và hương thật thoát tầm tư duy.
Như hoa linh thoại nở đúng thời tiết tốt đẹp,
Mới xứng nghĩa dâng cúng Phật"
Tất cả cũng chỉ để nhắc nhở Tăng chúng về công phu tu tập giới, định, tuệ và pháp Thiền quán vô ngã, vô thường.
Lời nguyện của tôn giả A Nan trong bài tựa kinh Thủ lăng nghiêm bao gồm hạnh tự độ và độ tha (hạnh Thinh văn và Bồ tát):
Nguyện đoạn trừ tất cả vọng tưởng để thành tựu giải thoát.
Nguyện độ hết thảy chúng sanh trước khi vào Niết bàn. Nếu còn một chúng sanh chưa thành Phật thì quyết sẽ còn ở lại sinh tử để hóa độ.
Qua lời nguyện lớn ấy, ai dám bảo tôn giả A Nan là bậc Thinh văn hữu học, mà không phải là Bồ tát?
Phần lạy thù ân là phần chúng Tăng nuôi dưỡng lòng tôn kính và biết ân Phật, Pháp, Bồ tát và Tăng bảo.
Sau lễ chúc tán là phần chấp tác của các chú, và là tuần trà đầy Thiền vị của chư Tăng.
Lễ Quy y Lễ Hằng Thuận:
Ðây là hai lễ dành cho các Phật tử. Lễ Quy y là lễ trao truyền "Tam quy" và "Ngũ giới" cho các Phật tử tại gia (các người đời), không phân biệt hạng tuổi, giai cấp hay phái tính. Sau buổi lễ các giới tử trở thành người Phật tử tại gia, ở mặt hình thức. Hòa thượng thường chủ trì buổi lễ này.
Lễ Hằng thuận là lễ đám cưới, thực hiện phần giáo lễ trước khi thực hiện phần gia lễ dành riêng cho hai nhà trai và nhà gái. Lễ được cử hành tại Chùa, thường đặt dưới sự chủ trì của Thầy trưởng và Thầy pháp huynh.
Nghi lễ đơn giản bao gồm phần cầu an, trao nhẫn cưới và các lời dạy của chư Tăng. Thầy trưởng và Thầy pháp huynh thường nói lại kinh " Ðảnh lễ sáu phương" (thuộc Nikàya và A hàm), nhấn mạnh phần bổn phận vợ đối với chồng chồng đối với vợ, trước lúc trao nhẫn.
Lễ cưới, với hình thức giáo lễ, ở ngoài phần hành đạo của chư Tăng; nhưng nhà Chùa đã phương tiện thực hiện theo yêu cầu của các gia chủ, và gọi đó là lễ hằng thuận. Hằng thuận vừa mang ý nghĩa phương tiện "hằng thuận chúng sanh" của nhà Chùa, vừa mang ý nghĩa hướng dẫn người đời sống hằng thuận.
Ứng phó đạo tràng:
Ứng phó đạo tràng là công việc hóa duyên của nhà Chùa, bao gồn các lễ cầu an, cầu siêu và đám tang tại các tư gia. Có Chùa khá bận rộn với các việc ứng phó đạo tràng; có Chùa chuyên sâu tu tập.
Thầy pháp huynh, chú Tâm Tín và Tâm Thành thỉnh thoảng đi hóa duyên. Thầy bảo rằng đấy là một hình thức hoằng đạo đối với những người sơ cơ, hầu giúp họ có nhân duyên đến với đạo và tin đạo. Nghi lễ Phật giáo, lời kinh Phật, cung cách của nhà Chùa đều có tác dụng khơi dậy niềm tin Phật từ các gia chủ và các thân nhân. Những câu chuyện đạo trao đổi với các gia đình đến hóa duyên đều nhằm vào việc khai mở thiện tâm cho họ, vì căn cơ của người đời khác nhau nên việc hoằng đạo cần được thể hiện qua nhiều ngõ phương tiện khác nhau để dẫn dắt họ dần dần đến với pháp bố thí, trì giới, học hỏi và tu tập giáo lý. Ðừng ngộ nhận Phật giáo truyền thống với các hình thức ứng phó đạo tràng có tính giai đoạn ấy, trên quá trình phát triển Phật giáo.
"Biến cố" Tình cảm.
Không phải các câu chuyện tình cảm thơ mộng không có xẩy ra trong thế giới giải thoát của nhà Chùa. Trên đường ứng phó, chú Tâm Tín đã khó quên được hình dáng của một thiếu nữ đẹp. Có lúc chú thơ thẩn ở góc vườn Chùa. Thầy pháp huynh tinh ý nhận ra, bảo chú Tâm Thành, Tâm Ngộ tế nhị giám sát và tác động vào tâm lý giác tỉnh.
Chú Tâm Thành đã phải than, " Trời đã sinh ra mình, còn bày chi các thiếu nữ xinh đẹp!"
"Chú than giống Châu Du bên Tàu quá. Lẽ đáng phải nói trời đã sinh ra các thiếu nữ, còn sinh chi các tu sĩ. Mình phải là Lượng Cơ!", chú Tâm Ngộ tiếp.
Hai chú cùng cười rồi đi vào công tác tâm lý. Sau vài cuộc họp mặt ở gốc nhãn vườn sau, chú Tâm Tín đã tự thú tình trạng ám ảnh về tình nhớ ấy. Chú hỏi, "Làm sao để chóng quên nhỉ?"
"Anh em tôi chưa có kinh nghiệm "nhớ" thì làm răng có kinh nghiệm "quên.” Có điều tôi tin rằng cứ trở về với nếp sống của mình thì sẽ loại bỏ được các phiền não, gồm cả "tình nhớ", bởi tự thân của nếp sống là loại bỏ chúng", chú Tâm Thành đáp.
Sau sự vụ tình nhớ, Thầy pháp huynh đã mời nhà giáo Bình nói chuyện về xã hội và các tâm lý tình cảm xã hội cho các chú. Thầy quan niệm người tu cũng cần hiểu đời để tự chủ và để hoằng đạo khế cơ.
Các căn bệnh:
Người đời không mắc thân bệnh, thì mắc tâm bệnh. Bệnh là một trong tám thứ khổ. Nếp sống nhà Chùa là phương cách trị liệu nguyên nhân của các bệnh: trị liệu tham, sân, si. Tuy thế, trên đường đi người tu vẫn vướng bệnh:
Thầy pháp huynh thì vướng trà, thuốc lá;
Chú Tâm Tín thì ngắm mây trời lãng đãng;
Chú Tâm Thành thì so đo thiệt, hơn;
Chú Tâm Ngộ thì nặng tư lự và ngại đám đông;
Sống vui vẻ, hòa ái và giữ quân bình tâm lý qua các sinh hoạt "tạp tác", "tạp thoại" là cách tốt để thắng vượt nhiều căn bệnh. Nghệ thuật của sự thắng vượt là sự thể hiện hòa điệu.
Lợi tha:
Thầy pháp huynh thường ca ngợi phẩm kinh Phổ Môn (Universal Gate), tự thể hiện và khích lệ các chú thể hiện theo khả năng có thể của mình. Bên cạnh công phu Thiền quán, nhà Chùa cần quan tâm cụ thể đến an lạc của quần chúng chung quanh. Thầy làm việc lợi tha một cách lặng lẽ. Thầy được nhiều Phật tử hộ trì, nhưng vật chất không được Thầy giữ lại gì, tất cả "hồi hướng" cho những người nghèo khổ chung quanh. Thầy hướng dẫn một số các trẻ em nghèo học tập và hướng dẫn các Phật tử vào nếp sống đạo hạnh dưới hình thức "hướng dẫn tâm lý.” Với Thầy, giáo dục là chỉ đường; và giải thoát là đi ra khỏi các phiền não tức thời.
Giới trí thức và sinh viên có nhiều dịp trao đổi nhận thức với Thầy. Nhiều vấn đề liên hệ đến Phật giáo đã được đặt ra như là:
Phật giáo là một Tôn giáo? một hệ thống triết học?
Quan niệm về khổ đau và hạnh phúc của đạo Phật?
Tinh thần cách mệnh trong Phật giáo?
Phật giáo là bi quan, yếm thế?
Phật giáo thiếu tính thiết thực?
Phật giáo là duy tâm? là vô thần?
Phật giáo ít quan tâm đến đời sống hiện tại?
Phật giáo không phải là một hệ thống giáo dục?
Các vấn đề văn học, nghệ thuật của Phật giáo?
Và đã được Thầy giải đáp rằng:
Phật giáo không phải chỉ là một Tôn giáo hay một hệ thống triết học. Các danh từ cần được định nghĩa lại trước khi đề cập đến Phật giáo.
Nếu Tôn giáo được hiểu như là một tín ngưỡng tôn thờ một đấng sáng thế, thì Phật giáo không phải là một Tôn giáo. Nếu Tôn giáo hiểu như là hình thức tín ngưỡng giải thoát, thì Phật giáo là một Tôn giáo.
Nếu một hệ thống triết học là một hệ thống tư tưởng bàn về con người và vũ trụ, bao gồm nhận thức luận, giá trị luận và bản thể luận, thì Phật giáo cũng là một hệ thống triết học; nhưng nhiều hơn thế, Phật giáo còn có nghĩa đạo học, không phải chỉ bàn về giải thoát mà còn thực hiện giải thoát.
Nếu khoa học là biểu hiện tinh thần thực nghiệm, hợp lý và hệ thống, thì Phật giáo có đủ các tinh thần ấy. Phật giáo còn vượt xa hơn khoa học ở mặt thực hiện chân lý, đi vào thực tướng.
Về hạnh phúc và khổ đau, Phật giáo trình bày đủ hai mặt tương đối và tuyệt đối.
Về mặt tương đối, thì có hạnh phúc của buông xả và nắm giữ, của các cảm thọ hỷ, lạc, và có khổ đau qua các cảm thọ.
Về mặt tuyệt đối, thì tất cả các pháp do nhân duyên sinh (các pháp hữu vi) đều vô thường và đem lại khổ đau. Hạnh phúc chân thật thì đồng nghĩa với Niết bàn, hay ái diệt, khổ diệt.
Do vì nhận thức tất cả đời là bể khổ, mà có ngộ nhận cho rằng Phật giáo là bi quan yếm thế.
Bi quan, yếm thế là thuộc thái độ sống, mà không phải là nhận thức. Tuyên bố đời là khổ của Phật giáo là thuộc nhận thức. Nhận thức thì là đúng hay sai, như đáp số của một bài toán. Không thể nói đáp số ấy là bi quan hay lạc quan.
Phật giáo vừa nói lên thực trạng khổ đau của vô thường, đồng thời chỉ rõ con đường đi ra khỏi khổ đau ngay trong hiện tại, tại đây, thì làm sao có thể kết luận Phật giáo là bi quan, yếm thế?
Nhận thức và thái độ sống của Phật giáo, hơn thế, còn nhuốm tinh thần cách mệnh nữa. Giữa khi các học phái đương thời của Ấn Ðộ tôn thờ đấng Phạm thiên sáng tạo ra vũ trụ, thì Phật giáo phủ nhận Phạm thiên ấy; giữa khi các học phái chủ trương phân biệt và kỳ thị giai cấp, thì Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp.
Nói rằng giáo lý Phật giáo thiếu tính chất thiết thực, thì hoàn toàn trái ngược với hệ thống giáo lý ấy. Một trong các tính chất nổi bật nhất của Phật giáo là tính thiết thực hiện tại. Ðức Thế tôn dạy con người sống vào hiện tại, không tiếc muối quá khứ và không mơ ước tương lai; chỉ sống với hiện tại của ly tham. Ngài dạy đến hạnh phúc của đời sống gia đình, kinh tế gia đình, tổ chức một xã hội thịnh vượng; làm sao có thể hiểu đó là một hệ thống giáo lý thiếu thiết thực?
Về duy tâm, duy vật, v.v..., Phật giáo thì không chủ trương "duy" nào cả. Cái gọi là duy tâm, duy thức của Phật giáo chỉ là duy vô ngã, hay duy Duyên khởi. Phật giáo quan niệm hết thảy các pháp đều duyên sinh, vô ngã nên tự thân không phải là duy tâm, duy vật, hữu thần hay vô thần... Có thể tạm thời gọi Phật giáo là Phiếm thần (Pantheism) hay vô duy (Non ism).
Ðức Phật giảng dạy con đường giải thoát khế cơ rất thiết thực, nên hệ thống giáo lý của Ngài vừa có đủ các tính chất của một hệ thống giáo dục rất nhân bản và toàn diện, có đủ các tinh thần tự tri, tự trách nhiệm, tự tín, tự chủ, phê phán, sáng tạo, thiết thực, chỉ đường, v.v...
Với các tinh thần giảng dạy trên, không thể kết luận Phật giáo ít quan tâm đến đời sống hiện thực. Các vấn đề trên, vừa được khái lược đề cập, đều là đề tài của các thiên khảo luận dài.
Về vấn đề văn học, nghệ thuật, Phật giáo là một con đường sống của mọi căn cơ nên là một nền văn hóa giải thoát có đủ các mặt biểu hiện về mỹ thuật, văn học, âm nhạc, hội họa và kiến trúc phản ảnh nền văn hóa ấy kết hợp với văn hóa địa phương.
Ngôi Chùa Việt Nam thì biểu hiện kiến trúc của thời đại Việt Nam kết hợp với phần thể hiện các đường nét từ hòa, khiêm cung và an tịnh.
Tượng ảnh Phật giáo Việt Nam cũng thế. Nhà điêu khắc ảnh, tượng Phật giáo Việt Nam thể hiện nét Từ bi, hỷ xả và Trí tuệ qua hình dáng người Việt, khác với tượng ảnh Trung Hoa, Ấn Ðộ, Nhật Bản. Tương tự đối với các tháp tự và âm nhạc, hội họa.
Phật giáo thì chỉ có một, nhưng ở Ấn thì thiên về tịnh cư (trí), ở Tàu thì nặng về lễ, ở Nhật thì nghiêng về mỹ thuật, tại Việt Nam thì có khuynh hướng dung hòa để thích ứng với hoàn cảnh lịch sử Việt Nam.
Dù thích ứng với văn hóa xứ sở, Phật giáo Việt Nam vẫn duy trì tính cách độc lập của Phật giáo, vì thế đồng là chuông mà âm hưởng tiếng chuông Chùa thì khác hẳn âm hưởng tiếng chuông nhà thờ.
Thuyết pháp:
Các buổi nói chuyện của Thầy pháp huynh với Phật tử, người đời và các chú đều có ý nghĩa của thuyết pháp. Pháp huynh còn phụ trách các buổi thuyết giảng có tổ chức trước các nhóm quần chúng. Thầy luôn luôn nói chuyện dễ hiểu, thiết thực và vui vẻ. Mục đích của các buổi nói chuyện Thầy nhắm đến, luôn luôn giúp người nghe đi ra khỏi các tác nhân của phiền muộn, khổ đau.
Nói về ăn chay, ăn mặn trước quần chúng bình dân, Thầy dẫn chứng các lời dạy của Thế tôn về tế đàn (tế đàn tốt là không giết súc vật; tốt hơn nữa là tế đàn bố thí; tốt hơn nữa là giới định; và tốt nhất là tế đàn chánh kiến, Trí tuệ) để minh chứng rằng ăn chay là tốt hơn. Thầy phân tích rõ ràng các khía cạnh lợi ích về sức khỏe, tâm lý và giản dị. Hóm hỉnh nhất khi Thầy bảo, "Cái ích lợi thiết thực rõ nhất là ăn chay thì khỏi bị mắc xương.”
Một nhóm Phật tử thắc mắc về hình tướng lạy Phật, không biết bàn tay chắp lại thế nào cho đúng, Thầy Cả cười bảo, "người cụt tay thì lấy gì để chắp?" khiến người nghe tỏ ngộ liền.
Về pháp tu Thiền, tịnh, mật, v.v... Thầy đều trình bày rõ, không bác bỏ một pháp môn tu nào, nhưng điểm Thầy nhấn mạnh là: tu là tu tâm; tu tâm là gạt bỏ tham, sân, si ra khỏi các hành động của thân, khẩu, ý. Bằng cách nào cũng được, nếu loại bỏ được các phiền não, khổ đau.
Trao đổi về mặt nghiên cứu giáo lý với các Phật tử có trình độ nhận thức tương đối cao, Thầy cũng vận dụng cùng một nguyên tắc thân giáo, khẩu giáo nhắm đến đích đoạn khổ, giúp người nghe thiết thực đi vào việc đoạn khổ.
Có người hỏi về, lời dạy, "trong 45 năm Ta chưa nói một lời" có ý nghĩa gì?"
Thầy đáp, "Thì Thế Tôn vẫn thuyết giảng 45 năm đó. Ðiều Ngài không nói là thực tướng của các pháp. Thực tướng thì không nói được. Ðiều Ngài thuyết giảng là nhằm giúp người nghe lìa xa tham ái, sân hận và si mê để đoạn tận khổ. Ngài nói bằng thân giáo và khẩu giáo để dẫn dắt người đời từ đây đến Niết bàn, và dừng lại ngôn ngữ ngang đó. Ngài không từng nỗ lực chứng minh hay thuyết giảng Niết bàn là gì, bởi Niết bàn vượt khỏi hành uẩn, thức uẩn và tưởng uẩn, vượt khỏi ngôn ngữ và diễn đạt. Chẳng những Niết bàn không nói được, mà mọi hiện hữu ở đời chẳng có ngôn ngữ nào của loài người nói được, bởi thực tướng của mọi hiện hữu đều vô tướng cả và vì thế đều thoát ly ngôn ngữ. Thực tướng của chúng cũng thuộc cảnh giới vô ngã của Niết bàn. Lẽ đáng lời dạy trên phải được phát biểu rằng: Trong 45 năm Như Lai không nói một cái gì cả, thì tương ứng với sự thật hơn. Như kinh Kim Cương dạy: "Như Lai vô sở thuyết" (không có cái gì được nói bởi Như Lai). Ngài dạy nhiều điều, nhưng là dạy về khổ, nguyên nhân của khổ và con đường đoạn diệt khổ, mà không minh chứng thực tướng là gì? giải thoát tối hậu là gì?
Theo chỗ tôi hiểu là thế.”
Một Phật tử khác hỏi, "vật có trước tâm, hay tâm có trước vật?"
Với giáo lý nhà Phật, sắc uẩn là thuộc thân sắc vật lý và thế giới vật lý; thọ, tưởng, hành và thức uẩn thì thuộc tâm lý hay tâm. Cả Năm uẩn (vật và tâm) cùng có, không thể có sự kiện uẩn nào có mặt trước uẩn nào. Cụ thể như cái trứng gà và con gà, ai có thể xác định được cái trứng gà có trước con gà hay con gà có trước trứng gà? Theo Phật giáo, tất cả là duyên sinh, mà không có vấn đề trước sau.”
Chú Tâm Ngộ một lần bạch hỏi, "Bạch Thầy, các pháp là vô ngã, thì cái ngã nào tạo nghiệp? cái ngã nào luân hồi?”
Thầy pháp huynh cười, "Không phải câu hỏi nào cũng cần có lời đáp. Với chú, đó là vấn đề của chú. Hãy tiếp tục tư duy! xem nó như là một công án.”
Nhà giáo Bình vấn nạn pháp huynh, "Hữu tình thì có thể thành Phật, còn vô tình làm sao có thể thành Phật? Tại sao kinh tụng lại nguyện "tình dữ vô tình giai cọng thành Phật đạo?”
Thầy hỏi lại, "Theo 12 chi nhân duyên của giáo lý Duyên khởi thì thức do hành sinh; vậy hành là vô tình hay hữu tình? Hành thì do vô minh sinh, vậy vô minh là vô tình hay hữu tình?..”
Nhà giáo bừng tỏ.
Vấn đề thảo luận văn học, tư tưởng:
Các chú, ở vào trình độ văn học Tú tài, đều thích bàn luận các vấn đề văn học Việt Nam và văn học Phật giáo.
Chú Tâm Thành bạch, "Bạch Thầy, có hai thi phẩm nổi danh trên thi đàn Việt nam vào thế kỷ 18 là Ðoạn trường tân thanh và Cung oán ngâm khúc. Có nhà giáo cho rằng cụ Nguyễn Du và cụ Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo; có ý kiến thì bảo hai thi phẩm ấy chịu ảnh hưởng Tam giáo (Phật, Lão, Nho); lại có ý kiến cho rằng hai thi phẩm ấy nhuốm nặng màu sắc Nho giáo. Không biết mình phải xác định thế nào cho đúng?"
Giá mà có Thầy giáo Bình (Việt văn) ở đây bàn luận thì tuyệt! Tôi không sành văn học, thi ca. Tôi chỉ phát biểu một số ý kiến giới hạn.
Nếu đọc kỹ tiểu sử của hai cụ, thì quả hai cụ chịu ảnh hưởng của đạo Phật, đặc biệt là cụ Nguyễn Du. Chúng ta không thể trưng dẫn lời lẽ của các nhân vật trong thi phẩm để đánh giá hiểu biết của tác giả về Phật giáo. Nhà thơ núi Hồng Lĩnh, Nguyễn Du tiên sinh, chỉ mượn lời Kiều để nói lên một ít tâm sự của mình, mà không cốt để giới thiệu Phật giáo. Vì vậy, một số ý kiến trong thi phẩm chỉ để phản ảnh tâm sự nàng Kiều hơn là để nói lên nhận thức của cụ. Vì vậy không thể đánh giá nhận thức của cụ về Phật giáo qua truyện Kiều.
Nếu dựa vào các vần thơ đầu truyện:
"Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Lạ gì bỉ sắc tư phong
"Trời kia quen thói má hồng đánh ghen.”
thì người ta sẽ cho rằng cụ Nguyễn Du chủ trương thuyết "Tài mệnh tương đố" hay "Hồng nhan bạc mệnh.”
Hoặc giả, nếu dựa vào các vần:
"Cho hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”
thì bảo cụ chủ trương thuyết "Thiên mệnh" hay "Tiền định.”
Thực sự, khi người đời rơi vào hoàn cảnh đoạn trường như Kiều, ai mà chẳng oán trời trách đất như nàng. Khi không tìm ra lối thoát, dù đã lắm vùng vẫy, thì hẳn phải buột miệng kêu: trời ghen, trời định, hay số mệnh. v.. v... Nhưng khi đi ra khỏi nghịch cảnh, thì như Kiều, người đời mới bình tâm đánh giá đúng tự thân và hoàn cảnh. Bấy giờ mới là lúc cụ Nguyễn Du nói lên đúng nhận thức của cụ:
"Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”
hay:
"Có trời mà cũng tại ta
Tu là cội phúc, tình là giây oan.”
Tại đây, Cụ xác định Nhân quả của Phật giáo, nói lên trách nhiệm của tự thân về các hành động quá khứ và hiện tại của mình. Trời ấy rõ là chỉ hoàn cảnh khách quan do nghiệp nhân quá khứ để lại; ta ấy là chỉ hành động của tự thân trong hiện tại.
Hẳn là qua thi phẩm "Ðoạn trường", cụ không thể giới thiệu đủ các khía cạnh tế nhị của luật Nhân quả, Nghiệp báo. Dù vậy, cũng đủ chứng tỏ cụ chịu ảnh hưởng sâu đậm của giáo lý nhà Phật. Ðó là chưa trưng dẫn các từ ngữ rất là nhà Chùa và rất là Phật giáo mà thi phẩm đã sử dụng, ở ngoài đời không có; và chưa kể đến những cảm nhận tinh vi của người đọc vốn đã thâm nhập giáo lý giải thoát, rằng qua các lời lẽ rất tình tự và rất đời trong truyện vẫn gợi cảm lên các hình ảnh rất là đạo và rất là thoát. Sự gợi cảm ấy bàng bạc, chứ không phải là tình cờ. Nếu muốn đánh giá cụ Nguyễn Du có thâm nhập giáo lý nhà Phật hay không, thì đánh giá ở mặt thâm nhập gợi cảm đó. Nhưng đây, không phải là điểm có thể bàn về văn học như ở học đường. Tôi lấy thí dụ vài câu tượng trưng để các chú chiêm nghiệm:
"Như nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi nào cho vẩn được mình ấy vay"
"Chữ trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan"
Hoặc:
"Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"
Trường hợp cụ Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều cũng thế, dù, theo tôi, cụ Ôn như hầu không có tài thi ca bằng cụ Nguyễn Du, và không thâm nhập Phật giáo bằng cụ.
Khi người cung nữ quá cô đơn, phiền muộn, thì hẳn phải oán than:
"Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào"
Hay:
"Quyền họa phúc trời tranh mất cả,
Chút tiện nghi chẳng trả phần ai.
Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.” (89 92)
"Tay tạo hóa cớ sao mà độc
Buộc người vào kim ốc mà chơi.
Chống tay ngồi ngẫm sự đời
Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo câm.” (329 332)
Khi mơ ước về tình duyên không thỏa, tâm hồn bấn loạn, người cung nữ không còn có bình tĩnh để nhìn rõ nguyên nhân, hậu quả, mà chỉ nói lên lời hờn dỗi:
"Hẳn túc trái làm sao đây tá?
Hay tiền nhân hậu quả xưa kia?
Hay thiên cung có điều gì
Xuống trần mà trả nợ đi cho rồi?"
Khi đã vào sâu thất vọng về tình duyên thì người cung nữ với tâm cùng quẫn nghĩ đến lối thoát:
"Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa
Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên.
Thoát trần một gót thiên nhiên
Cái thân ngoại vật là tiên trên đời.” (113 116)
(Nhà Chùa đâu phải là nơi để nghỉ mát, hưởng nhàn?)
“Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật
Mối thất tình quyết dứt cho xong.
Ða mang chi nữa đèo bồng,
Vui gì thế sự, mà mong nhân tình.” (109 112)
Lời ta thán của người cung nữ, vì vậy, không phải là nhận thức thực sự của Ôn Như Hầu về Phật giáo. Nhưng xuyên qua các lời lẽ thuật ngữ được dùng trong thi phẩm Cung oán, có thể kết luận Ôn Như Hầu có chịu ảnh hưởng nhiều về giáo lý nhà Phật:
"Vắt tay nằm nghĩ cơ trần
Nước dương muốn rảy nguội dần lửa duyên.” (47 48)
"Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.” (67 68)
"Tiêu điều nhân sự đã xong
Sơn hà cũng huyễn, côn trùng cũng hư.” (95 96)
"Tình buồn cảnh lại vô duyên
"Tình trong cảnh ấy, cảnh bên tình này" (267 268)
Hai câu 267 268 ảnh hiện giáo lý nhà Phật rõ.
Chỉ có từ thi ca đời Lý, Trần mới nhận rõ ra nền văn học và thi ca Phật giáo. Ðấy là các công trình biên khảo lớn. Thi ca Phật giáo vừa nói lên giáo lý giải thoát vừa làm phong phú thêm nền thi ca, văn học Việt Nam.
Về tư tưởng Việt Nam và Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, đây là đề tài tế nhị hơn nhiều. Cho đến nay vẫn chưa có công trình thật giá trị nào xác định vị trí tư tưởng Việt Nam và Tư tưởng Phật giáo Việt Nam. Chỉ có một số bài biên khảo và một ít cuốn sách nhỏ đề cập đến một số khía cạnh mà thôi, và đang ở trong vòng bàn luận.
Tôi nghĩ rằng một dân tộc đứng vững hẳn phải có một nền văn hóa riêng và tư tưởng riêng. Sắc thái tư tưởng riêng ấy biểu hiện ra thành nếp tư duy và thái độ sống riêng biệt của một dân tộc. Tìm thấy sắc thái đặc biệt của tư tưởng là tìm thấy tư tưởng.
Việt Nam có một thế đứng lịch sử đặt biệt trong suốt mấy nghìn năm lịch sử kiên cường đấu tranh giữ nước và dựng nước. Ðây là sắc thái đặc biệt. Không thể nói chỉ người Việt yêu nước và yêu chuộng hòa bình, bởi vì dân tộc nào cũng thế cả. Nhưng phải nói sự biểu hiện tính độc lập, bất khuất của người Việt mãnh liệt hơn. Sự biểu hiện ước vọng hòa bình cũng thế, mãnh liệt hơn. Phương chi, các địa danh Việt Nam đều nói lên khát vọng hòa bình thống thiết đó: Hưng yên, Nam Ðịnh, Ninh Bình, Thái Bình, Nghệ Tĩnh, Kiến Hòa, Quảng Bình, Bình Ðịnh, Phú Yên, Long An, Biên Hòa, An Giang. Các địa danh ấy hiện ra như là các điều khoản của bản Hiến chương dân tộc.
Thế lịch sử tồn tại lại đòi hỏi một tinh thần đoàn kết dân tộc keo sơn. Thời đại nào tinh thần đoàn kết keo sơn đó, không thể hiện được thì thời đại đó đất nước nghiêng ngửa. Hội nghị Diên Hồng chống Nguyên là một điển hình lịch sử của sự việc quân dân nhất trí, vừa biểu hiện tinh thần dân chủ rất sớm (từ thế kỷ 13)
Chất keo sơn của sự đoàn kết, nhất trí của dân tộc phải là lòng cảm thông, tương kính và tình thương yêu đồng bào. Thiên nhiên khắt khe của nhiều vùng đất nước đưa đẩy kinh tế vào nhiều ngõ khó khăn nên cũng đòi hỏi sự có mặt của tình thương yêu, đùm bọc nhau, như ca dao Việt Nam đã nói:
"Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng"
"Lá lành đùm lá rách"
"Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy là khác giống nhưng chung một giàn"
Ðịa thế lịch sử Việt Nam ở giữa vùng giao thoa của nhiều nền văn hóa và giao thông thương mại, nên cần phải dung hợp các nền văn hóa, và có tư tưởng mở.
Các yêu cầu, đòi hỏi, quan yếu đó của lịch sử Việt Nam hẳn là tạo nên một tính tư tưởng thiết thực. Vấn đề là giải quyết sinh tồn của dân tộc trước hết.
Qua các đặc tính đó, tư tưởng Việt Nam, rất Việt, nổi bật lên ba nét lớn đầy tình thương và Trí tuệ:
tính dung hóa (độc lập trong tương quan)
tính thực tại, thiết thực
tính khai phóng
Các sắc thái tư tưởng đó được bao hàm trong giáo lý nhà Phật, một giáo lý của Trí tuệ, vô ngã, vị tha, vô chấp, thiết thực hiện tại, loại bỏ tất cả tinh thần nô lệ; nên khi Phật giáo đặt chân lên đất Việt liền được dân tộc Việt chấp nhận, chung sống, quyện chặt vào nhau như có cùng một sinh mệnh. Khi Phật giáo hưng khởi dưới hai triều đại Lý, Trần, đất nước cũng hưng thịnh chưa từng có. Khi Phật giáo chìm lặn dưới triều Hồ, Nguyễn, thì đất nước lâm vào cảnh nội biến, phân ly và yếu kém. Khi đất nước gặp khó khăn của lịch sử thì tinh thần vô ngã, vị tha của Phật giáo cần thiết cho dân tộc để xây dựng những thế hệ công dân yêu nước vô vụ lợi, biết quên mình vì đại cuộc. Câu chuyện Phù Ðổng Thiên Vương đã nói lên yêu cầu đó. Ðất nước lâm nguy thì lòng yêu nước và Trí tuệ người dân Việt cần lớn nhanh như em bé Phù Ðổng. Nhưng khi dẹp xong giặc Ân, dựng nên công trạng lớn, thì Phù Ðổng từ chối bổng lộc, địa vị hay danh vọng.
Tinh thần khế cơ của giáo lý Phật giáo khi đi vào một dòng văn hóa nào thì hòa nhập vào nền văn hóa đó. Vì vậy, Tư tưởng Phật giáo Việt Nam hẳn có một sắc thái đặc biệt khác với Phật giáo Ấn Ðộ, Trung Hoa và Nhật Bản. Ðó là nội dung của con đường giải thoát của Thiền nguyên thủy (thời Phật) (Tứ Ðế và Duyên Khởi) kết hợp với yêu cầu của lịch sử Việt Nam. Giải thoát tự thân và tha nhân được thực hiện trong điều kiện lịch sử Việt Nam tạo nên một sắc thái rất sinh động, thiết thực, nhập thế và rất dân tộc.
Từ đó, thi ca, văn học, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, mỹ thuật Phật giáo đều nhuốm màu giải thoát của dân tộc Việt.
Thảo luận về kiến trúc và âm nhạc Phật giáo:
Về kiến trúc, sắc thái Phật giáo Việt Nam biểu hiện qua Chùa chiền, tháp mộ. Ngôi Chùa thấp ẩn mình dưới những tàng cây, với mái cong nhẹ có đôi rồng chầu nguyệt, (mặt trăng) vừa nói lên nét yên tĩnh, khiêm tốn hòa mình vào thiên nhiên và cuộc sống (mỗi đầu làng Việt Nam lại có một ngôi Chùa), vừa có mặt hình ảnh rồng tiên của dân tộc. Các ngôi Chùa Việt Nam điển hình nhất thường được xây dựng thành chữ khẩu (): Chánh điện, nhà hậu, nhà đông và nhà tây, tạo nên một sân trong tĩnh mịch mà ấm cúng, mang hình ảnh một vòng tròn kín như sợi dây xích của các pháp.
Tháp mộ thì thay đổi qua các triều đại. Nét chính là hình từng tầng (bảy tầng là cao nhất); đỉnh tháp là tòa sen nhỏ, biểu tượng của "hoa khai kiến Phật" (hoa nở thấy Phật), nói lên sự quyết tâm của các vị xuất gia phải kiến tánh ngay trên đời này, và sau khi chết thì sanh về xứ Phật từ hạ phẩm hạ sanh đến hạ phẩm thượng sanh (của 9 bậc giác ngộ cửu phẩm liên hoa). Ðây là nét kiến trúc riêng của Phật giáo Việt Nam trong mấy thế kỷ sau này. Lối kiến trúc tháp như thế này chịu ảnh hưởng của quan điểm tông phái Tịnh độ.
Thầy pháp huynh góp ý rằng, theo Thầy, nếu đủ nhân duyên dựng nên một ngôi tháp lớn thờ chư Tổ (lịch đại tổ sư truyền giáo ở Việt Nam), thì Thầy sẽ xây dựng theo hình dạng biểu mẫu mà Thế tôn đã dạy (có ba phần: y, bát và tích trượng) với các đường nét mỹ thuật Việt Nam. Thế là ngôi tháp thể hiện sắc thái vừa Phật giáo vừa Việt Nam.
Về âm nhạc, âm nhạc nhà Chùa, theo nhận xét của nhà giáo Bình, là âm nhạc dân tộc. Nhạc khí thì đặc biệt đơn giản, gồm tang, mõ, chuông, khánh, trống cơm và trống lớn. Có ý kiến sành nhạc lý cho rằng nhạc nhà Chùa vừa thoát (không gợi dục) vừa có âm hưởng văn minh.
Thầy pháp huynh bảo, dựa vào kinh tạng, âm nhạc là một thứ lễ vật cao quý để cúng dường đức Phật, giá trị như các vũ khúc và các lễ vật khác. Nhạc nhà Chùa nghe lắng đọng ưu phiền, tâm hồn bay nhẹ đi lên. Âm thanh cũng có thể chuyên chở một phần giáo lý giải thoát của Phật giáo. Nhạc có thể làm tan ưu phiền; và lời có thể nói lên Tứ Ðế, Duyên khởi, Từ bi, Vô ngã, Vị tha, v.v... Một bản nhạc là một bài pháp nhỏ có thể biểu diễn theo các thể điệu mới bằng các nhạc cụ dân tộc, hoặc các nhạc cụ khác, như là các điệu tán Phật, tán Pháp và tán hương đương thời. Hẳn là cần có các nhạc sĩ nhà Chùa để phát huy âm nhạc Phật giáo.
Về hội họa và thi ca Phật giáo cũng thế. Chúng thuộc về văn hóa Phật giáo (văn hóa giải thoát, hay gọi là văn hóa ly dục) cần được phát huy.
Uống trà:
Hầu như chư Tăng Huế đều thích dùng trà. Ở vùng núi lạnh, trà làm ấm người, và làm tan đi các hàn khí, lãnh khí. Trà còn giúp cho tuần hoàn thông máu, giúp trí não tỉnh táo.
Chú Tâm Ngộ bảo uống trà là một nghệ thuật, nếu không muốn nói là trà đạo như người Nhật.
Chú hầu trà cho Hòa thượng mỗi sáng, sau thời công phu sáng. Công việc Chú lo là:
Gánh nước giếng ở Chùa Từ Quang (cách Chùa Tường Vân chừng hơn 200 mét);
Kiếm bổi hóp (ít khi dùng các thứ bổi khác)
Ðun nước từ ấm đất cho đến lúc sôi lên 3 lượt;
Ngâm nóng bình trà, tách trà và chén tống để chiết trà;
Rửa trà bằng nước sôi;
Chế và lọc trà từ chén tống;
Dâng trà lên Hòa thượng đang ngồi cạnh án thư, sau khi dâng chiếc khăn ấm lau mặt và nước nóng để háp đôi mắt.
Chú đứng xa xa nhìn dáng vẻ Hòa thượng lặng lẽ, ung dung nhắp từng tuần trà mà cũng cảm thấy tâm hồn mình lắng chìm vào hân hoan.
Chú bảo rằng, giác tỉnh trong từng cử động khi dùng trà, chế trà cũng là hành Thiền vậy. Phương chi người Nhật gọi là trà đạo.
Uống trà không thể với cung cách nóng nảy, vội vàng, ồn ào, hay với lòng đầy dục vọng. Sẽ hỏng mất Thiền vị!
Người xưa thì truyền lại, "Bán dạ tam bôi tửu, bình minh sổ trản trà, mỗi nhật cứ như thử, lương y bất đáo gia.” Như vậy, uống trà có thể giúp tránh được nhiều bệnh lặt vặt.
Giáo dục nhà Chùa:
Nhà Chùa là một trung tâm giáo dục con người toàn diện. Nổi bật nhất là về phương diện giáo dục tâm lý. Có hai hình thức giáo dục được truyền đạt rõ ràng là thân giáo và khẩu giáo.
Nói đến giáo dục là nói đến mục tiêu của nó. Mục tiêu của giáo dục nhà Chùa là huấn luyện và dạy dỗ chư Tăng sống an lạc ngay trong hiện tại và tại đây, đi ra khỏi các âu lo sầu muộn để dần dần đi ra khỏi mọi nỗi khổ đau trong hiện tại và trong các đời sau. Ðích điểm sau cùng là đoạn hết khổ đau của tự thân và giúp tha nhân đoạn khổ.
Ðối tượng của giáo dục là từng cá nhân, giúp mỗi người đi tới mục tiêu với những gì người ấy đang có và đang là. Ðây là nền giáo dục có gốc người: khởi hành từ con người; đi những bước đi rất là người; và trở về chính con người. Nhưng, con người bấy giờ là con người đang ở trên con đường loại bỏ dần các sai lầm khổ đau cho đến cùng.
Tinh thần giáo dục căn bản của nhà Chùa là tự giác và giúp người khác tự giác. Có thể gọi nền giáo dục này là nền giáo dục đánh thức, mà thuật ngữ giáo dục phương Tây gọi là "Awaken ing Education.”
Môi trường giáo dục là toàn bộ sinh hoạt nhà Chùa từ lúc thức dậy sáng sớm cho đến lúc ngủ, gồm sinh hoạt trong Chùa và ngoài phạm vi nhà Chùa.
Ðức Phật, bậc Thầy hiện tại, các pháp huynh, và kinh, luật chỉ giữ vai trò hướng dẫn, chỉ đường. Các Ngài chỉ trao truyền kiến thức và kinh nghiệm sống giải thoát; còn tiếp thu và thực hiện là trách nhiệm của mỗi người xuất gia.
Kỷ luật tu tập là Giới bổn Ba La Ðề Mộc Xoa (Patimokkha). Nguyên tắc sống tập thể là Lục hòa dựa vào căn bản Giới bổn.
Kỹ thuật giáo dục để giúp đỡ các bạn đồng phạm hạnh và người đời tu tập là Bốn nhiếp pháp (Tứ nhiếp: bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự nhiếp)
Phần giới để dập tắt mọi cuộc tranh chấp trong nội bộ Tăng già, vì các lý do tác động bên trong và bên ngoài, là pháp "Thất diệt tránh.”
Nội dung của giáo dục là: Bốn cuốn luật của Sa di và Tam tạng giáo điển (tùy theo khả năng tiếp thu mà truyền đạt)
Nội dung của hành trì (hay thực hiện) là Thiền định được thực hiện dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau trên căn bản của Giới bổn. Cơ bản của sự thành tựu an lạc, giải thoát là nỗ lực thực hiện con đường Thiền định đó.
Cụ thể của chương trình học tập và tu hành bao gồm các pháp:
Về mặt Trí tuệ: Hiểu rõ giáo lý Tứ đế, Duyên khởi, Nhân quả, Thập bát giới (lục xứ)
Về mặt Thiền định (sức mạnh của tâm lý):
Hiểu và hành Tứ Niệm xứ, Tứ Chánh cần, Tứ Như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Giác chi, và Bát Thánh đạo (có thể chỉ hành một trong bảy pháp đó).
Về mặt giới học: Hiểu và hành Giới bổn Ba La Ðề Mộc Xoa, bao gồm các pháp kiết ma (karma).
Riêng đối với những tu sĩ có khả năng Trí tuệ và ý chí cao, thì được học thêm nhiều kiến thức xã hội (ngoại điển), hoàn bị ngũ minh, hay một phần của ngũ minh (thông giáo lý, thông ngoại điển, thông ngôn ngữ và giảng nói, thông y lý và thông công nghệ) để vừa tự độ vừa độ tha đem lại nhiều lợi ích giải thoát.
Về mặt kinh tế, thì tự túc trong các điều kiện xã hội thiếu nhân duyên hộ trì của hàng Phật tử tại gia. Trong điều kiện xã hội và tổ chức thuận lợi, thì nhà Chùa nhận của cúng dường của đàn na tín thí (vật thực, thuốc men, y áo, chỗ ở) và đáp lại là giảng dạy giáo lý và pháp tu cho đời, cả kiến thức văn học, khoa học, giáo dục, nếu có thể.
Ðể thể hiện nếp sống an lạc và giải thoát khổ đau đó, nền giáo dục nhà Chùa truyền đạt tinh thần sống "Trung đạo", thể hiện sự hòa điệu nội thân, giữa nội thân và ngoại giới; Trung đạo nhận thức và Trung đạo tu tập.
Qua đó, một ngôi Chùa học hỏi và tu tập tốt sẽ là một trung tâm của một nền văn hóa, giáo dục nhân bản và khai phóng.
Nghe Thầy pháp huynh giới thiệu về biển tu học mông mênh như thế, cả ba chú đều buông lời than: "Ôi! Biển tu học mông mênh như thế, biết đâu là bờ! Tụi con như chiếc thuyền nan bé bỏng đi đến đời nào mới qua sinh tử?" Nét mặt các Chú ngã màu tư lự.
Thầy pháp huynh lại bật cười, "Lời than sao mà đầy bóng tối thế? Biển cả lớn mà còn có bờ đến, chứ biển tu thì không có bờ đến, còn mênh mông hơn nữa cơ. Nhưng vì không có bờ, nên không có chỗ đến; vì không có chỗ đến, nên không thật có chỗ đi. Tu là tu cái không đi không đến. Nói khác đi, tu là đến trong từng bước đi, cập bến trong từng bước đi. Ðã cập bến trong từng bước đi, thì biển ấy có còn mênh mông nữa không nhỉ?"
Sao, khi thì con nghe Thầy bảo "bước đi không phải là nơi đến", khi thì Thầy nói "đi có nghĩa là đến.” Ðiều đó khiến con mù mịt tâm trí, chú Tâm Thành bạch.
Thì cả hai câu nói ở hai trường hợp khác nhau ấy đều đúng cả, Hãy tiếp tục suy nghĩ cho tròn!"
Học vấn Nghiên cứu:
Thỉnh thoảng Thầy pháp huynh lại tập họp các Chú để hướng dẫn con đường học và tu.
Các chú cảm nhận qua lời lẽ của Thầy, nghe ngõ đường nào cũng mênh mông. Mục tiêu như hiện thấp thoáng trước mắt nhưng thật sự lúc nào cũng ở ngoài tầm tay.
Có lần chú Tâm Tín bảo: "Thế này thì đi mãi đến già cũng hệt như là chưa đi!”
Thầy pháp huynh cười, "Lo lắng chi chuyện đó. Thì mình cũng đã đi vô lượng kiếp rồi. Hữu chí cánh thành, như nhà nho đã nói. Cần lập tâm, lập nguyện ngay từ đây. Áp dụng Thiền pháp vào thì sẽ thấy nhẹ nhàng mọi chuyện. Như kinh nghiệm đi đường, cứ theo dõi hơi thở và để cho chân tự bước, thì đường xa sẽ hóa gần. Ði sẽ lâu biết mệt. Chuyện học, tu cũng vậy. Hãy để cho buớc thứ nhất nâng bước thứ hai. Luôn luôn tập trung vào bước đi hiện tại.” Thầy pháp huynh thường nhắc nhở khích lệ các Chú trên đường đạo.
"Việc học trước hết là để nuôi dưỡng và phát triển chánh kiến của mình. Bước tiếp theo là để phục vụ đời và đạo. Hiện tại Việt Nam chưa có ba tạng kinh, luật, luận bằng Việt ngữ. Công việc này còn lâu dài lắm mới thực hiện được. Việc thực hiện cần có nhiều tu sĩ thông lý, thông sự và thông thạo sinh ngữ, cổ ngữ. Sự nghiệp đó đang mở rộng cửa chờ đón các thế hệ trẻ", Thầy tiếp.
Chú Tâm Thành bạch, "gần Thầy, con học được nhiều kiến thức, tầm nhìn được mở rộng; đồng thời thao thức càng ngày càng kéo tới như mây mùa thu, khiến tâm lý con cũng u ám, bàng bạc, dao động. Một sự dao động tâm lý cần thiết để mở đường đi tới.”
Chú Tâm Tín, Tâm Ngộ thì cười bạch, "chờ đón thế hệ trẻ, mà không phải tụi con.”
Bấy giờ pháp huynh mới cười, "Biết đâu?”
Nhìn lại:
Hai mươi năm sau, ngày gặp lại nhau vào mùa Phật Ðản, chú Tâm Tín, Tâm Thành, Tâm Ngộ và nhà giáo Bình bây giờ tóc đã hoa râm sớm hơn lứa tuổi một chút lại quây quần bên tách trà nhìn về quá khứ, nhìn hiện tại và nhìn về tương lai của "con đường.” Tất cả ngậm ngùi nhắc đến Thầy trưởng, Thầy pháp huynh. Quý Thầy đã viên tịch, nhưng tiếng nói và dáng dấp như còn thấp thoáng quanh Chùa.
Thầy Tâm Tín đề nghị Thầy Tâm Ngộ, bấy giờ Thầy Tâm Ngộ là huynh trưởng trong ba Thầy, chế một tách trà nóng đặt lên án thư để tưởng niệm Thầy pháp huynh, người đã gần gũi nhất ba Thầy để chia xẻ và khích lệ, trước khi đi vào tiết mục "tạp thoại" của nhóm.
Bắt đầu câu chuyện, Thầy Tâm Ngộ nhìn qua nhà giáo Bình hoan hỷ nói, "Tính theo tuổi đời, có lẽ chúng tôi là những người còn ở lại để cúng cơm cho cư sĩ, người đã hộ trì chúng tôi trong nhiều giai đoạn đầu tu tập mà chúng tôi cần ổn định chí hướng.”
"Ấy! Thầy đừng khách sáo quá đáng. Niềm sung sướng bây giờ là thuộc về tôi. Cho phép tôi ca ngợi công hạnh của ba Thầy trước đã. Quý Thầy đã bước được một bước giải thoát khá dài, trong khi cư sĩ này vẫn tiếp tục ngậm ngùi đi vào gió bụi. Qúy Thầy đã cho tôi nhiều hơn là nhận"
Tất cả lại trở về lại với niềm vui "tạp thoại" năm xưa.
Nhà giáo Bình tiếp, "Tôi nghĩ, đến đầu thế kỷ 21, con người sẽ có cái nhìn mới mẻ về cách tư duy và cách sống, về thiên nhiên và con người. Không biết quý Thầy nghĩ gì về một nếp sống nhà Chùa trong tương lai?"
"Thì cũng như hiện tại. Tương lai chỉ là sự kéo dài của hiện tại", Thầy Tâm Thành nói.
"Có gì đứng yên một chỗ đâu. Văn hóa xã hội thay đổi, thì ở trong cộng đồng ấy, hẳn nhà Chùa cũng có đổi thay", Thầy Tâm Tín phát biểu.
Thầy Tâm Ngộ bảo, "Tôi nghĩ rằng, nói tương lai là hiện tại kéo dài cũng phải; mà nói có đổi thay cũng phải. Cái kéo dài hiện tại đó là nghĩa bất biến; cái đổi thay đó là nghĩa tùy duyên. Nhà Chùa luôn luôn thực hiện nếp sống “Tùy duyên mà bất biến; bất biến mà tùy duyên.” Hướng giải thoát, hành Tỳ ni, và các Giới luật căn bản thì bất biến; phần còn lại là tùy duyên. Nhà Chùa phải đi đến chỗ tổ chức trú xứ mình thành một trung tâm văn hóa của Thiền định và giáo dục. Cần thể hiện nền giáo dục của Thế tôn, trên nguyên tắc. Có phải thế không Thầy Bình nhỉ?”
Ðôi mắt nhà giáo ngời sáng lên, "Câu hỏi của Thầy đã là câu trả lời. Sinh thời Thầy pháp huynh nhiều lúc đã tâm sự rằng nhà Chùa là một trung tâm của văn hóa giải thoát, mà không phải là nơi để cho các mong muốn về danh vọng, lợi dưỡng và chính trị phát triển chính trị theo nghĩa giới hạn Tôi cũng nghĩ thế.”
Thầy Tâm Ngộ tiếp, "Tôi nghe như mơ ước, ưu tư của pháp huynh về con đường, đang quyện tỏa theo hương Ngọc lan quanh Chùa. Tôi ao ước thế hệ này của chúng tôi và các thế hệ kế tiếp sẽ ướp giấc mơ của pháp huynh vào tâm hồn như đã từng ướp cánh Ngọc lan vào tập vở học trò.”
Sao Thầy nói văn vẻ thế?
Thì nói với nhà giáo Việt văn, phải trả bài như thế.
Nhà giáo Bình, "Năm 1985, Thủ tướng India Gandhi đã đọc diễn văn khai mạc một hội nghị Phật giáo thế giới tổ chức tại Ấn, trong đó có nói rằng “Phật giáo là một Tôn giáo rất thu hút tuổi trẻ.”
Cố thủ tướng Nerhu thì viết trong tập The Discovery of India (Sự phát hiện ra Ấn Ðộ),..”. Phật giáo ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến một số lớn nhân loại, trong đó có những người cực thông minh, cực lỗi lạc...” Tôi nghĩ nhà Chùa cần suy gẫm các lời lẽ đó, thế nào để Phật giáo có chỗ đứng trong văn hóa con người tương xứng với tự thân giáo lý.”
Chương II: TỲ NI - SA DI - OAI NGHI - CẢNH SÁCH
TỲ NI SỬ DỤNG HẰNG NGÀY
Hoa Ngọc Lan chỉ giới thiệu phần kệ và ý nghĩa của kệ mà không đi vào mật chú.
Truyền thống kinh tạng Nikàya, A Hàm, Bát Nhã, và Duy Thức không đề cập đến mật chú. Kinh Pháp Hoa và Thủ Lăng Nghiêm có đề cập đến mật chú, nhưng không xem mật chú như là pháp môn tu tập để đoạn trừ các lậu hoặc. Mật chú, ở đây, chỉ là một chiếc bóng xuất hiện ở chặng đầu lộ trình tu tập để ổn định tâm lý đi vào Giới Ðịnh Tuệ.
Có 45 bài Tỳ ni tiêu biểu dành cho 45 việc làm thường ngày của một Sa di. Các bài kệ Việt ngữ dưới đây dựa vào bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Quang.
Thức dậy:
"Ngủ nghỉ mới thức. Nên nguyện chúng sinh
Tất cả trí giác. Ðến khắp mười phương.”
Hiểu và hành:
Vừa mới choàng thức, khi còn trên giường ngủ, Sa di khởi niệm mong cho tất cả có được Trí tuệ giải thoát thấy rõ vạn pháp.
Làm thế là cách Sa di nuôi dưỡng Từ bi chánh kiến và ý chí giải thoát.
Ðánh chuông:
"Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ. Trí tuệ lớn, giác tâm sanh,
Rời địa ngục, ra hầm lửa. Nguyện giác ngộ, độ chúng sinh.”
Hiểu và hành:
Âm thanh thanh thoát của tiếng chuông vốn có tác dụng lắng đọng ưu phiền. Do ưu phiền lắng đọng, mà tâm định sinh; do có định, mà tuệ có. Do tuệ hay chánh kiến có mặt mà tác nhân tà kiến đưa vào địa ngục không còn.
Nghe tiếng chuông là nghe thực tướng của pháp qua âm thanh. Nghe với Trí tuệ vô ngã, với lòng đại bi mong tất cả giải thoát là cách người Sa di nuôi dưỡng và phát triển tâm giải thoát của tự thân.
Mặc áo:
"Khi mặc áo ngoài, nên nguyện chúng sinh
Ðược thiện căn tốt, đến bờ bên kia.”
"Khi mặc quần, nên nguyện chúng sinh
Khoát vào các thiện căn, Ðầy đủ tâm hổ thẹn.”
"Sửa áo buộc dải, nên nguyện chúng sinh
Kiểm buộc thiện căn, không để tán mất.”
Hiểu và hành:
Khi mặc áo quần, người Sa di không để tâm đi vào các vọng tưởng, tạp tưởng; khởi tâm mong cho tất cả không quên kiểm soát các tâm tham, sân, si và giữ gìn các tâm vô tham, vô sân, vô si; biết hổ thẹn về các tạp tưởng sai trái, phóng dật của tự thân để tiến tu giải thoát.
Tâm hổ thẹn là loại tâm lý ngăn cản đi vào các sai lầm, nuôi dưỡng các thiện tâm.
Rời chỗ nằm:
"Từ giờ dần đến tối,
Hết thảy chúng sinh hãy tự giữ mình, lánh xa lối đi,
Nếu rủi bị mất mạng dưới chân người tu
Thì mong cho chúng sinh ấy, liền thác sinh về Tịnh độ.”
Hiểu và hành:
Từ đầu ngày, từ khi đặt chân xuống đất, Sa di khởi niệm Từ bi quan tâm đến sự an toàn tính mệnh cho chúng sinh, mong tất cả được giải thoát. Ðây là hình thức người Sa di ổn định tâm lý tự thân và nuôi dưỡng lòng bi.
Ði:
"Nếu cất bước chân, nên nguyện chúng sinh
Thoát biển sinh tử, có đủ thiện pháp.”
Hiểu và hành:
Hình ảnh hay sự việc đi ra khỏi giường nằm và đi ra khỏi ngôi nhà nhắc nhở Sa di nhớ đến sứ mệnh và mục tiêu giải thoát của người xuất gia; ấy là, tự mình đi ra và giúp những người khác đi ra khỏi ngôi nhà khổ đau của Tam giới, đi ra khỏi căn nhà dục vọng của cuộc đời.
Khởi niệm mong tất cả thoát khỏi biển khổ là cách nuôi dưỡng tâm đại bi và Trí tuệ giải thoát.
Ra khỏi nhà:
"Khi từ nhà ra, nên nguyện chúng sinh
Vào sâu Phật trí, thoát khỏi ba cõi.”
Hiểu và hành:
Tương tự ý nghĩa của kệ số 6, kệ này nhắc lại mục tiêu giải thoát: đi ra khỏi dục ái, hữu ái và vô hữu ái để đoạn tận vô minh mà vào sâu trí giác của Phật. Khởi niệm mong tất cả đắc Phật trí là nuôi dưỡng tâm đại bi và đại trí của tự thân.
Công việc vệ sinh:
"Khi đi đại, đi tiểu, Nên nguyện chúng sinh,
Trừ bỏ tham, sân, si. Khử hết tội lỗi.”
Hiểu và hành:
Khi cơ thể đưa hết chất dơ ra ngoài, người Sa di cần giác tỉnh liền rằng đó là vật gờm nhớm cần được tống ra đúng lúc. Cũng vậy, tham, sân, si là cấu uế của tâm cần được loại bỏ gấp ra khỏi tâm; nếu không thì chúng sẽ gây nên nhiều tội lỗi tác hại.
Ý thức như thế để trở về tu tập Giới Ðịnh Tuệ. Giới và Ðịnh thì đối trị tham; Tuệ thì đối trị si; Từ bi thì đối trị sân.
Mong cầu tất cả chúng sinh thoát ly sinh tử (ra khỏi tham, sân, si) là nuôi dưỡng tâm đại bi và đại trí.
Rửa sạch:
"Việc xong đến nước, Nên nguyện chúng sinh,
Trong pháp xuất thế. Mau chóng mà đến.”
Hiểu và hành:
Theo sau đại, tiểu là việc dùng nước để tẩy uế. Như việc tẩy uế cần được thực hiện liền, không trì hoãn; cũng vậy, mong cầu chúng sinh cấp thiết dùng nước Trí tuệ, phạm hạnh để tẩy sạch các cấu uế tham, sân, si của tâm.
Tắm rửa:
"Tẩy rửa thân thể, Nên nguyện chúng sinh,
Thanh tịnh nhuần nhuyễn. Hoàn toàn hết dơ.”
Hiểu và hành:
Việc rửa sạch thân cần được làm gọn, khéo và nhuần; cũng vậy, tâm cấu uế được tẩy sạch thuần khiết. Sa di cần hiểu điều đó, và mong cầu tất cả làm được điều đó.
Rửa tay:
"Lấy nước rửa tay. Nên nguyện chúng sinh
Có bàn tay sạch. Nắm giữ Phật Pháp.”
Hiểu và hành:
Sa di cần biểu hiện lòng sùng mộ Pháp qua cử chỉ tôn kính kinh điển: nắm giữ kinh điển với đôi bàn tay sạch. Nhưng mục tiêu nhắm đến là cái tâm vô cấu để đón nhận diệu pháp. Vì vậy, người xuất gia khởi đại bi tâm mong cầu tất cả làm được điều đó.
Rửa mặt:
"Lấy nước rửa mặt, Nên nguyện chúng sinh,
Ðược pháp thanh tịnh, Hết hẳn dơ bẩn.”
Hiểu và hành:
Trong động tác rửa mặt, cũng như các việc làm ở trên, người Sa di không để quên mục tiêu ở trên con đường: đó là việc tẩy sạch tham, sân, si, và mong tất cả tẩy sạch tham, sân, si.
Uống nước:
"Phật nhìn một bát nước, Tám vạn tư vi trùng,
Nếu không trì chú này, Như ăn thịt chúng sinh.”
Hiểu và hành:
Qua thiên nhãn, huệ nhãn và pháp nhãn, Thế tôn thấy có vô số vi trùng trong một bát nước; và thấy ra tâm chấp tướng của người tu. Ðể giúp người tu đi ra khỏi mặc cảm tội lỗi về giải thoát, và để củng cố lòng từ, Thế tôn dạy bài kệ và câu chú ở mục 13.
Pháp y năm điều:
"Lành thay áo giải thoát. Áo ruộng phước vô thượng
Nay tôi đầu đội nhận. Ðời đời không rời bỏ.”
Hiểu và hành:
Pháp y có hình ô vuông của đám ruộng tượng trưng cho ruộng phước, nơi đó người đời gieo trồng phước đức. Mang y xuất gia là tự mình làm cơ sở đem lại phước đức cho đời trong việc tự độ và độ tha. Khi đắp pháp y, người tu tự nhắc mình về trách nhiệm tự độ và độ tha đó.
Y bảy điều:
"Lành thay áo giải thoát. Áo ruộng phước vô thượng
Nay tôi đầu đội nhận. Ðời đời thường được mặc.”
(Tương tự kệ 13)
Y lớn:
"Lành thay áo giải thoát. Áo ruộng phước vô thượng
Vâng giữ Như Lai mạng. Hóa độ cho tất cả.”
Hiểu và hành:
Khi mang y lớn, hoặc khi thấy y lớn, người xuất gia cần giác tỉnh liền rằng tự thân đang giữ sứ mệnh giới thiệu con đường giải thoát đến với mọi người.
Dụng cụ lót nằm: (ngọa cụ)
"Ngọa cụ Ni sư đàn. Nuôi lớn tâm tánh,
Mở rộng lên thánh địa. Cung kính giữ sứ mệnh Như Lai.”
Hiểu và hành:
Ni sư đàn là từ dịch âm của Nisìdanna, có nghĩa là vật để lót nằm hay ngồi.
Như tấm lót đỡ thân, giới định tuệ nâng đỡ tâm giải thoát. Lúc nằm, người tu quyết tâm phát triển giải thoát, không rời khỏi tâm giải thoát như không rời tấm tọa cụ, cung kính hoằng đạo lợi sinh.
Lên điện Phật:
"Ðược nhìn thấy Phật. Nên nguyện chúng sinh
Ðược mắt vô ngại. Thấy hết thảy pháp.”
Hiểu và hành:
Nhìn thấy Phật không phải là dừng lại ở thân tướng của Ngài, mà là để chiêm ngưỡng Trí tuệ giải thoát mà Ngài đã thành tựu. Thấy Phật, vị Sa di liền khởi niệm đại từ mong tất cả có cái nhìn rõ suốt thế giới.
Ở đây vẫn không đi ra ngoài mục tiêu giáo dục của nhà Chùa: nuôi dưỡng Trí tuệ và Từ bi.
Tán thán Thế Tôn:
"Ðấng pháp vương vô thượng
Ba cõi không ai bằng
Bậc Thầy của trời người,
Bậc cha lành của muôn loài,
Dù chốc lát nương tựa Ngài
Cũng trừ được vô số nghiệp.
Dù xưng tán Thế Tôn
Ðến ức kiếp cũng không cùng.”
Hiểu và hành:
Bài kệ tán thán Phật này thường được chư Tăng và Phật tử đọc đầu mỗi buổi lễ, xưng tán Ngài đã rốt ráo giải thoát, đã mở đường giải thoát cho tất cả do lòng thương tưởng trời, người. Nếu tin và hành giải thoát dù chốc lát cũng sẽ được phước giải thoát lớn, vơi đi nhiều si mê và phiền não.
Tán thán Phật là nuôi dưỡng lòng sùng mộ giải thoát, vừa huân nhiếp các đức tánh của Phật, vừa tự hưng phấn tâm tư giải thoát của người tu.
Chân ngôn đảnh lễ khắp cả:
"Án phạ nhật ra hộc.”
Hiểu và hành:
Khi đảnh lễ Thế Tôn, nhờ năng lực thần chú mà sự đảnh lễ thể hiện đến khắp pháp giới.
Nếu sự kiện đảnh lễ phổ cập đến pháp giới, thì tính chất của các pháp là có tính phổ cập đó. Ðó là tính tương dung tương nhiếp, hay tính "một là tất cả, tất cả là một.” Ðây là ý nghĩa của "lý" về đảnh lễ.
Về sự, chân ngôn ấy giúp người Sa di khai thông được tâm chấp thủ tướng của tự thân, xóa đi tâm lý so đo. Chân ngôn ấy hộ trì người tu quen dần với thực pháp vốn vô ngại, khi tự thân chưa có đủ tuệ giải thoát và tín giải thoát.
Chân ngôn trên còn gián tiếp giúp Sa di nuôi dưỡng và mở rộng lòng sùng mộ giải thoát đến vô cùng.
Lạy Phật:
"Trên trời dưới đất không ai bằng
Mười phương thế giới không sánh kịp,
Toàn thể thế gian con nhìn thấy
Hết thảy không có ai bằng Phật.”
Hiểu và hành:
Lời tán thán này là nội dung của lời tán thán Phật của tôn giả Xá Lợi Phất trong kinh tạng Nikàya.
Tất cả ba cõi đều đang bị vướng mắc sinh tử, hay chỉ đang ở trên đường hoặc cuối đường ra sinh tử. Thế Tôn là bậc đã hoàn toàn thoát ly sinh tử, có khả năng mở ra con đường đoạn diệt sinh tử, nên Ngài là bậc vô tỉ.
Tán thán Phật là hình thức củng cố và nuôi dưỡng niềm tin và sùng mộ giải thoát của người tu.
Cúng bình sạch (cúng nước):
"Tay cầm bình sạch. Nên nguyện chúng sanh
Trong ngoài không dơ. Sạch sẽ tất cả.”
Hiểu và hành::
Hình ảnh chiếc bình sạch cũng là một bài học về giải thoát của người Sa di. Không có hiện hữu nào không là bài học giải thoát của người xuất gia cả, chiếc bình sạch nhắc người tu nhìn lại tâm thức mình, sửa soạn cho tâm sạch sẽ hết các cấu uế.
Chiếc bình sạch cũng là hình ảnh thu nhỏ (hay gợi nhớ) cõi nước Tịnh độ được diễn tả trong thời công phu chiều, thể hiện ước mơ giải thoát toàn triệt của người xuất gia. Chiếc bình sạch cũng là trợ duyên hộ trì người tu đi vào hạnh giải thoát của tự độ và độ tha, nuôi dưỡng Trí tuệ và Từ bi vậy.
Chân ngôn súc bình sạch:
(Tương tự kệ, chú 21)
Chân ngôn rót nước:
(Tương tự kệ, chú 21)
Dùng cơm:
"Nhìn thấy bát không. Nên nguyện chúng sanh
Cứu cánh thanh tịnh. Trống không phiền não.”
Hiểu và hành:
Cũng vận dụng cùng một nguyên tắc giáo dục, Tỳ ni dạy người xuất gia rút ra bài học giải thoát từ hết thảy các đối tượng thấy, nghe, xúc chạm, v.v...
Hình ảnh chiếc bát không nhắc người tu hướng tâm về mục tiêu giải thoát: làm rỗng không phiền não trong tâm mình. Cứ liên tục khởi niệm giải thoát như thế hằng ngày (mọi lúc, mọi nơi) thì tâm thức sẽ huân tập giải thoát dần dần cho đến ngày sung mãn, Trí tuệ sẽ bộc hiện.
Bi và Trí cần được tu tập song hành.
Xuất cho Chúng sinh:
"Pháp lực bất tư nghì. Từ bi không chướng ngại,
Bảy hạt bủa mười phương, khắp cho cả pháp giới.”
Hiểu và hành:
Tất cả các pháp, ở trong hay ngoài tâm, đều có tự tính vô ngã tính, tự tại vô ngã cả. Ðó là pháp lực (năng lực bất khả tư nghì của pháp) ở ngoài tư duy hữu ngã. Vì vô tự tính nên vô ngại; vì vô ngại nên bảy hạt cơm có thể bủa khắp mười phương về cả hai mặt lý và sự. Thật sự, chỉ một hạt đã chính là pháp giới.
Bài kệ 25 vừa dạy Sa di về Trí tuệ vô ngã, vừa dạy mở rộng lòng từ.
Thị giả đưa thức ăn:
"Chúng quỷ thần các người. Nay tôi cho đồ cúng
Ðồ cúng này đến khắp. Quỷ thần cùng hưởng chung.”
Hiểu và hành:
Sa di tu tập hạnh từ bằng pháp bố thí, bố thí khắp cho chúng sinh, cho những ai cần thiết của thí và an lạc. Hành kệ 26 là cách phát khởi và nuôi dưỡng từ tâm.
Quán tưởng:
"Phật dạy các Tỳ kheo
Khi ăn tưởng năm điều
Nếu tán tâm nói chuyện
Thì của tín thí khó tiêu.
Ðại chúng nghe tiếng khánh
Tất cả giữ chánh niệm.”
Hiểu và hành:
Việc khởi tưởng năm điều khi ăn là việc làm của Tỳ kheo, nhưng ở đây dạy Sa di tập sự, khi ăn, Sa di cũng khởi tưởng năm điều dưới đây:
Cơm này do đâu mà có?
Xét đức hạnh mình có xứng đáng để nhận phần cơm cúng dường của tín thí không?
Khi ăn, giữ tâm không tham ái, không sân hận và không tà niệm.
Xem thức ăn như là thuốc chữa bệnh đói để tồn tại mà tu tập giải thoát.
Ăn là để sống mà hành đạo giải thoát, chứ không phải để mà thụ hưởng.
Năm điều khởi tưởng đó là một bài học dạy người Sa di cung cách ăn của người sống đời sống Trí tuệ, vừa dạy cách nuôi dưỡng tâm rời tham ái, chế ngự các tạp niệm, vừa nhắc nhở người tu biết ơn tín thí, xã hội để sống vì sự an lạc giải thoát của mọi người.
27a. Chính thức ăn cơm:
"Cầm nắm vật thích ứng đựng thức ăn (chỉ bát & muỗng)
Nên nguyện chúng sinh
Thành tựu pháp khí
Xứng nhận sự cúng dường của người và trời.”
Hiểu và hành:
Như bình bát là vật đựng thức ăn thích ứng của người xuất gia, tâm thức người tu sĩ phải là chỗ chứa đựng thích đáng các pháp giải thoát. Người tu sĩ cần khởi niệm mong cầu tất cả xứng đáng nắm giữ pháp giải thoát và có khả năng giới thiệu đạo giải thoát.
Xứng nhận sự cúng dường của người và trời nghĩa là "ứng cúng", là bậc A la hán đoạn trừ hết lậu hoặc tham, sân, si. Mong cho tất cả chúng sinh đều đắc A la hán, thoát ly sinh tử.
27b. Khởi niệm ba niệm trước khi ăn (mỗi niệm chỉ dùng vài hạt cơm tượng trưng):
"Nguyện loại bỏ hết thảy các điều ác,
Nguyện tu tập hết thảy các điều thiện,
Nguyện cứu giúp hết thảy chúng sinh.”
Hiểu và hành:
Bài kệ 27b nói thẳng mục tiêu giải thoát của người xuất gia mà vị Sa di cần nhớ:
Phần tự độ: bỏ ác; làm thiện, giải thoát.
Phần độ tha: giúp chúng sinh đi ra khỏi tà kiến, khổ đau, trong điều kiện có thể của người tu.
Kết thúc bữa ăn:
"Gọi là bố thí tất hẳn được lợi ích
Nếu vì tâm hoan hỷ mà bố thí
Thì sau sẽ được an lạc.
Ăn xong nên cầu cho chúng sinh
Làm trọn các việc cần làm
Ðầy đủ Phật Pháp.”
Hiểu và hành:
Trong việc thọ thực của người xuất gia, ý nghĩa bố thí thể hiện qua các mặt:
Người Phật tử cúng thức ăn là người thí; người tu là người nhận thí.
Người nhận thức ăn cho người thí niềm vui, công đức, nên bấy giờ là người thí; người Phật tử là người nhận thí.
Nếu cả hai, người thí và người nhận thí, đều vì tâm hoan hỷ mà hành bố thí, thì cả hai đều được phước báo an lạc trong cả hiện tại lẫn tương lai.
Kết thúc bữa ăn, kệ 28 nhắc nhở người tu quay về với mục tiêu giải thoát: làm tròn phạm hạnh thoát ly sinh tử và mong cầu tất cả đều được kết quả như vậy.
Rửa bát:
"Ðem nước rửa bát,
Như nước cam lồ,
Cho các quỷ thần
Tất cả được no đủ.”
(tương tự ý nghĩa của kệ 26 & 27)
Mở bát:
"Ứng khí của Như Lai
Nay con được nắm giữ
Nguyện cùng tất cả
Thành tựu “tam luân không tịch.”
Hiểu và hành:
Bình bát là vật đựng thức ăn của Như Lai.
Tam luân không tịch: người cho, người nhận và vật cho có tự tính vốn vô ngã, thanh tịnh.
Nắm giữ bình bát của Như Lai, việc đó nhắc nhở sự thành tựu đạo nghiệp của Như Lai, sự chứng nhập thực tướng vô ngã. Người tu từ đó khởi niệm mong cầu tất cả chúng sinh đều thành tựu sự nghiệp chứng nhập thực tại vô ngã đó.
Nhận đồ cúng dường:
"Tài thí và pháp thí. Hai pháp thí ấy, không khác biệt nhau
Thí Ba la mật. Ðầy đủ trọn vẹn.”
Hiểu và hành:
Tài thí là bố thí tài vật (ngoại tài) và thân mạng (nội tài). Pháp thí là bố thí pháp giải thoát (giới thiệu con đường giải thoát Giới Ðịnh Tuệ )
Hai pháp bố thí ấy chỉ khác nhau ở mặt sự tướng; nếu hành tài thí Ba la mật và pháp thí Ba la mật thì cả hai hạnh ấy không khác biệt nhau; kết quả của cả hai đều đi vào chỗ vô thủ trước Niết bàn. Giải thoát là hành thí Ba la mật mà không phân biệt tài thí hay pháp thí.
Lấy tăm xỉa răng:
"Tay cầm tăm dương. Nên nguyện chúng sanh
Ðều được diệu pháp. Hoàn toàn thanh tịnh.”
Hiểu và hành::
Tăm dùng của nhà Chùa thường được làm bằng cành dương nhỏ, nên gọi là tăm dương.
Thời điểm xỉa răng là thời điểm sau cùng của bữa ăn; thân vừa no đủ, sung mãn. Từ đó, người ta khởi niệm mong cầu tất cả được sung mãn giải thoát, "no đủ" diệu pháp.
Xỉa răng:
"Nhấm tăm dương chi. Nên nguyện chúng sinh
Tâm tính thuần hóa. Cắn nát phiền não.”
(Tương tự ý nghĩa của kệ 32)
Súc miệng:
"Súc miệng lòng sạch luôn. Nước dơ lên hương hoa
Ba nghiệp hằng thanh tịnh. Cùng Phật về Phật độ.”
Hiểu và hành:
Kệ này dùng khi súc miệng sau bữa ăn, hoặc bất cứ khi nào trong ngày.
Súc miệng là giữ cho miệng sạch. Việc làm này hướng niệm người xuất gia đến việc làm sạch tâm, thanh tịnh cả thân, miệng và ý. Quan trọng là ý nghiệp. Chính tâm phân biệt có tướng dơ, tướng sạch là tâm cấu uế. Phải thấy "nước dơ lên hương hoa", nghĩa là dơ, sạch đều có cùng tự tính vô ngã. Tâm thấy ấy là tâm thanh tịnh (tâm lìa khỏi chấp thủ tướng). Khi tâm hoàn toàn thanh tịnh, thì toàn pháp giới trở nên thanh tịnh. Ðó là nghĩa tâm tịnh thì độ tịnh, hay là nghĩa của câu "Cùng Phật về nước Phật.”
Lấy tích trượng:
"Cầm nắm chiếc gậy. Nên nguyện chúng sinh
Mở hội đại thí. Chỉ đạo như thật.”
Hiểu và hành:
Chiếc gậy là vật chỉ đường, đưa đường. Hình ảnh đó gợi lên hình ảnh Phật pháp là nhân tố chỉ đường vào giải thoát (hội đại thí là pháp thí). Do đó, khi cầm gậy, người tu liền khởi niệm mong tất cả chúng sinh nói pháp và nghe pháp giải thoát để thấy thật đạo.
Sửa soạn đơn ngồi Thiền:
"Nếu soạn chỗ ngồi Thiền. Nên nguyện cho tất cả
Mở bày thiện pháp. Thấy tướng chân thật.”
Hiểu và hành
Sửa soạn chỗ ngồi Thiền không phải là chỉ để ngồi, để hưởng thụ hỷ, lạc..., mà là để vào Thiền quán thấy thật tướng. Chỉ và định chỉ là bước kinh qua để vào đại tuệ. Ðại tuệ mới là đích đến.
Người xuất gia, vì vậy, khi chuẩn bị ngồi tịnh nên khởi niệm đại bi mong tất cả vào đại tuệ, không quên rằng đích đến của tự thân và tha nhân là đại tuệ.
Ngủ nghỉ:
"Ngủ nghỉ theo giờ. Nên nguyện chúng sanh
Thân được yên ổn. Tâm không loạn động.”
Hiểu và hành:
Giấc ngủ đem lại sự ổn định cho thân. Nhưng điểm nhắm đến của giải thoát là tâm an, không bị các triền cái, các kiết sử gây loạn.
Khi đi ngủ, người tu khởi niệm mong sự an lạc của thân và tâm đến với chúng sinh để nuôi dưỡng Từ bi và Trí tuệ của tự thân và của tất cả.
Lấy nước:
"Nhìn thấy nước chảy. Nên nguyện chúng sinh
Có lòng mong thiện pháp. Rửa sạch hết các sai lầm làm dơ bẩn tâm.”
Hiểu và hành:
Lấy nước ở đây hẳn là nước sông, nước suối (lưu thủy).
Như nước có công năng rửa sạch các dơ bẩn của thân, các thiện pháp có công năng khử trừ tham, sân, si (các cấu uế của tâm).
Nước gợi cho người tu nhớ quay về mục tiêu của đời sống giải thoát, mà khởi niệm đại bi mong tất cả vận dụng các thiện pháp vô tham, vô sân, vô si, v.v... để tẩy sạch cáu bẩn của tâm.
Tắm Phật:
"Nay con rưới tắm thân Như Lai,
Thân trang nghiêm của phước và trí,
Mong chúng sinh sạch cấu uế của tâm
Ðể được thân thanh tịnh như thân của Như Lai.”
Hiểu và hành:
Khi nhìn thân tướng tượng Như Lai, người tu liền nghĩ đến sự thành tựu của Phật trí (phước: giới và định; trí: tuệ) mà mong cầu tất cả đoạn trừ hết lậu hoặc, hầu đắc Phật quả, thể nhập pháp thân thanh tịnh, vô tướng.
Ca ngợi Phật:
"Ca ngợi tướng Phật đẹp đẽ, Nên nguyện chúng sinh
Thành tựu thân Phật Chứng ngộ vô ngã.”
Hiểu và hành:
Khi lên chánh điện hành lễ, hoặc bất cứ lúc nào tưởng niệm đức Phật, người xuất gia cần nghĩ đến Phật trí, mà khởi niệm mong cầu tất cả thành tựu phạm hạnh, đắc được Trí tuệ giải thoát ấy.
Ði quanh tháp:
"Nhiễu tháp theo chiều phải. Nên nguyện chúng sinh
Việc làm không trái đạo. Ðược nhất thiết trí.”
Hiểu và hành::
Thân bệnh là khổ. Nỗi khổ đích thực là tâm bệnh. Căn bản của tâm bệnh là chấp thủ ngã tướng. Do chấp thủ ngã tướng mà rơi vào tham, sân, si (chính chấp thủ ngã là si, hay vô minh). Do vậy, khi thấy tướng bệnh khổ, người tu liền khởi niệm đại bi mong tất cả thấy rõ tất cả (nội và ngoại thân) là vô ngã tướng; giác tỉnh vô ngã mà rời xa các căn bản phiền não và tùy phiền não.
Cạo tóc:
"Cạo bỏ râu tóc. Nên nguyện chúng sinh
Thân tâm hết dơ. Trong ngoài sáng sủa.”
Hiểu và hành:
Tương tự các kệ trên, khi tắm rửa thân thể, người tu hướng tâm về giải thoát cho mình và người mà khởi đại bi niệm mong tất cả được sạch sẽ thân và tâm, hoàn toàn thanh tịnh.
Rửa chân:
"Khi rửa chân. Nên nguyện chúng sinh
Ðủ sức thần thông. Ði lại không ngại.”
Hiểu và hành:
Như đôi chân là phương tiện di chuyển của thân, thần thông, Thiền định là phương tiện hoạt dụng của tâm, của Trí tuệ giải thoát.
Khi rửa chân, người tu liền tác ý đến sức mạnh Thiền định của tâm, sửa soạn tu tập tâm hầu để đi lại tự tại trong tam giới, và khởi niệm mong tất cả được như thế.
TỔNG LUẬN VỀ TỲ NI
Ở đây trình bày tổng quát về nguyên tắc thực hành Tỳ ni, tác dụng của Tỳ ni; các cấp độ tu tập Tỳ ni; và tinh thần giáo dục của Tỳ ni.
Tác dụng và nguyên tắc thực hành Tỳ ni:
Tỳ ni trình bày 45 bài kệ cho các hành động tiêu biểu trong ngày. Có một số việc chỉ thỉnh thoảng xẩy ra như xem bệnh, cạo tóc, v.v... Các bài kệ luôn luôn hướng dẫn tâm người Sa di đến hai trọng điểm:
Nuôi dưỡng tâm giải thoát khỏi tham, sân, si của tự thân
Nuôi dưỡng lòng Từ bi, mong cứu độ tất cả ra khỏi mọi cấu uế của tâm.
Cách hành Tỳ ni được thực hiện là để thay thế tập quán đầy sai lầm và vọng động của quá khứ tự thân người xuất gia, để ngưng tụ dần niệm lực và định lực, và để gây ý thức trở về nương tựa mình và nương tựa Pháp (Thiền quán vô ngã, vô thường).
Ðể đạt được kết quả trên, người Sa di, dù là người yếu kém trí nhớ nhất, không phải học thuộc lòng các bài kệ và đọc lên các bài kệ ấy trong mỗi cử động, mà chỉ cần nhớ và thực hiện rằng:
Bất cứ một cử động nào của thân (hay của ý) trong ngày, đều khởi niệm mong loại bỏ tham, sân, si của tự thân và của mọi người ra khỏi cử động ấy và ra khỏi tâm.
Nói gọn và cụ thể hơn: chỉ cần nhớ khởi niệm loại bỏ tham, sân, si ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý trong tất cả các thời; và mong tất cả chúng sinh làm được như vậy.
Cụ thể như:
Khi đi máy bay thì khởi niệm: Mong tất cả đi nhanh ra khỏi tham, sân, si để sớm qua bờ giác.
Khi thổi cơm thì mong tất cả đốt cháy tham, sân, si sớm thuần thục giải thoát.
Khi đọc sách thì mong tất cả phát triển văn, tư, tu, thành tựu Trí tuệ như thật.
Khi bửa củi thì mong tất cả sớm phá vỡ vô minh.
Khi nhìn mây trôi, hoa rụng, v.v... thì mong tất cả ngộ vô thường mà đạt đạo giải thoát.
Khi nghe thuyết giảng thì mong tất cả phân biệt rõ khổ đau và giải thoát, tỏ ngộ thật pháp.
Khi buồn, giận, v.v..., mong tất cả giác tỉnh mọi pháp hữu vi đều không thật, không phải là ta, không phải của ta, không phải là tự ngã của ta, mà đi nhanh ra khỏi sinh tử, v.v...
Tựu trung, tất cả niệm khởi đều nhắm vào giải thoát khỏi tham, sân, si của mình và người, vào tự độ và độ tha:
a) Tự độ: thường nuôi dưỡng giác tỉnh về vô ngã, vô thường và khổ đau mà xa lìa các lậu hoặc.
b) Ðộ tha: khởi niệm đại bi mong tất cả làm được như thế.
Cấp độ khác nhau trong việc hành Tỳ ni nhật dụng:
Có thể có nhiều cấp độ cao thấp, sâu cạn khác nhau giữa những người hành Tỳ ni, như là:
Với căn cơ thấp, hành Tỳ ni chỉ là việc huấn luyện tâm đi vào một tập quán sống mới thiện lương hơn.
Với căn cơ bậc trung, thì hành Tỳ ni là hành chú tâm, tỉnh giác và nuôi dưỡng lòng từ.
Với căn cơ thông lợi, hành Tỳ ni là hành Giới Ðịnh Tuệ, là hành Thiền chỉ và Thiền quán trong bốn oai nghi, và nuôi dưỡng Bồ tát hạnh.
Phương chi, người đời gọi cửa Chùa là cửa Thiền hay cửa Từ (Từ bi). Thiền định và Từ bi là công hạnh chính của người tu tập giải thoát vậy.
Tinh thần giáo dục của Tỳ ni:
Tỳ ni giúp người Sa di tự huấn luyện tinh thần tự giác, tự tri, tự trách nhiệm, sự chú tâm, lòng từ ái và thái độ sống thanh thản chấp nhận đời sống đang là.
Tinh thần tự tri tự giác:
Người Sa di nắm vững lời khai tâm của nhà Chùa, "trở về nương tựa mình và nương tựa Pháp, và hãy tự nỗ lực"; từ đó theo dõi các hành động của thân, khẩu, ý; làm chủ tâm mình hướng về sự tỉnh giác vô ngã và lòng từ vô hạn để đi dần ra khỏi khổ đau, và giúp người khác đi dần ra khỏi khổ đau.
Tinh thần tự trách nhiệm:
Công phu hành Tỳ ni là công phu theo dõi và kiểm soát tâm mình. Việc này tự thân trách nhiệm về tự thân; Thầy và các huynh trưởng, các đồng phạm hạnh chỉ là trợ duyên nhắc nhở, chỉ đường. Ai khác có thể kiểm soát công phu âm thầm ấy?
Vì vậy, Tỳ ni đòi hỏi người tu tự nguyện chịu trách nhiệm về tự thân trên mọi hành vi của đời sống.
Tinh thần giáo dục năng lực chú tâm:
Theo dõi tâm qua từng cử chỉ hằng ngày là cách tu tập sự chú tâm, tập trung tư tưởng vào "con đường.” Chú tâm là công phu căn bản đưa đến định và tuệ. Từ định và tuệ, người Sa di sẽ bắt gặp các niềm hân hoan, hỷ, lạc, và giải thoát.
Khi năng lực chú tâm vào một đối tượng trở nên mạnh mẽ, ổn cố, thì đấy là định tâm. Khi tâm vững trú vào Thiền quán vô ngã, thì đấy là tuệ tâm.
Năng lực chú tâm và tỉnh giác trên là linh hồn của Thiền định Phật giáo cần thiết cho mọi người tu tập (gồm những Phật tử tại gia) để phát triển Giới định Tuệ.
Giáo dục lòng từ ái, vị tha:
Tất cả niệm khởi mong cầu an lạc giải thoát cho chúng sinh đều là hình thức nuôi dưỡng và phát triển lòng từ ái, vị tha (hay gọi là Từ bi).
Lòng từ ái, vị tha có công năng dẹp bỏ tâm sân hận, chấp ngã, vị kỷ. Ðấy là công phu tháo gỡ các phiền não sinh khởi từ chấp thủ, vị ngã và sân hận.
Tinh thần giáo dục đó tốt cho cả người đời.
Giáo dục thái độ sống chấp nhận thực tại, thanh thản:
Nếp sống nhà Chùa rất thực, tập trung vào đương niệm, nên mọi việc đều trôi qua nhẹ nhàng mỗi ngày. Các tư duy vô bổ về quá khứ và vị lai (tiếc nuối quá khứ, mơ ước tương lai) gây sự rối loạn tâm lý sẽ không có đất đứng trong tâm lý của người tu trong hướng sống hành thuần thục Tỳ ni này.
Con đường đi vào thực tại trước hết phải đi vào đương niệm; sau đó là giác tỉnh vô ngã, vô tham và vô sân. Ở đó, có mặt của vĩnh cửu, của thực tướng, khi tâm tập trung và giác tỉnh mạnh.
Cuộc sống sẽ không còn gì được giấu kín, trừ ra bị tự ngã che khuất. Bí mật của cuộc đời chỉ còn lại trong dục vọng và trong tư duy hữu ngã. Nhận thức rõ ràng về điều đó thì người tu sẽ sống an lạc mỗi ngày như mọi ngày. Ðây là kết quả mà mọi cuộc phấn đấu của con người nhắm đến.
Nội dung của chương Tỳ ni nhật dụng vừa được giới thiệu nói lên rõ nếp sống nhà Chùa là nếp sống rất hiện sinh, rất người và rất an lạc, nuôi dưỡng giác tỉnh và Từ bi.
NĂM ĐỨC TÍNH CỦA SA DI
Phát tâm xuất gia là do lòng cảm mến đạo giải thoát.
Từ bỏ hình hài đẹp đẽ để thích ứng với pháp phục.
Lìa xa ân ái, từ giã thân thích vì không còn thân sơ.
Buông bỏ thân mạng vì tôn sùng Phật Pháp.
Chí cầu Ðại thừa vì để hóa độ mọi người.
Năm đức tính trên nói lên nhận thức và chí sống của người xuất gia một cách rõ ràng: Mọi sự biểu hiện của thân tâm chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là giải thoát sinh tử cho mình và người.
Người ta không thể hiểu lầm nếp sống đó là tiêu cực, lánh đời, hay ích kỷ.
Về đức tính thứ nhất:
Lý do đích thực của xuất gia là ý thức rõ con đường giải thoát và mến mộ giải thoát, mà không phải là do những động cơ khác. Trên thực tế, mỗi người đến Chùa vì một lý do riêng, nhưng chỉ thực sự được nhận vào hàng ngũ xuất gia khi nào giác ngộ “con đường.”
Ở lãnh vực giáo dục học đường, hướng dẫn một học viên chọn nghề cần dựa vào hai nhân tố quyết định:
Sở thích ngành nghề,
Khả năng ngành nghề.
Tại đây, lòng cảm mến, tôn sùng giải thoát là một nhân tố quyết định. Cảm mến đạo giải thoát là do hiểu đạo; đây là khả năng để thực hiện giải thoát.
Về đức tính thứ hai:
Nếp tu hành thì xa lìa các ham muốn phàm thế, hướng tâm vào chỗ rời dục, rời ác pháp bất thiện pháp, và nuôi dưỡng lòng từ, nên các hình thức làm duyên, làm dáng, làm đẹp thân thể không được duy trì. Làm vậy để nuôi dưỡng tâm, chí giải thoát.
Về đức tính thứ ba:
Người xuất gia chỉ có một hướng đi dốc chí hành giải thoát, và bình đẳng giúp tất cả đi vào giải thoát, nên các tình nghĩa, ân ái riêng tư cần được lánh xa.
Chỉ khi tình riêng không còn, thì tình thân thương với mọi chúng sinh mới có thể tu tập, thực hiện được.
Về đức tính thứ tư:
Sự nghiệp chính và duy nhất của người xuất gia là sự nghiệp giải thoát, nên thân mạng chính bây giờ là thân huệ mạng, là thân giải thoát. Vì thế, không thể vì lý do duy trì thân mạng vật lý (như là phương tiện) mà hy sinh thân huệ mạng. Việc làm chỉ có thể ngược lại.
Về đức tính thứ năm:
Vấn đề giải thoát trọn vẹn cần được thực hiện với tâm đại bi và đại trí. Vì thế cần nghĩ đến vấn đề giải thoát cho tất cả. Chỉ khi lòng đại bi ấy được mở rộng, thật rộng, thì tất cả tập khí chấp thủ tự ngã mới tiêu tan, và đại tuệ mới bung vỡ.
Vấn đề thực hiện giải thoát của tự thân là thế.
Năm đức tính trên là giá trị về nếp sống giải thoát của người xuất gia. Trong đời sống xuất thế đó, không có mặt của danh vọng, lợi dưỡng, và các ham muốn trần thế khác.
MƯỜI ĐIỀU GIỚI LUẬT SA DI
Không sát sinh
Không lấy của không cho
Không dâm dục.
Không nói dối.
Không uống các chất men say.
Không trang sức đẹp, không xức thoa các thứ hương
Không hát, vũ; không hòa tấu, không biểu diễn văn nghệ; không đi xem nghe.
Không nằm ngồi chỗ cao sang.
Không ăn phi thời (chỉ ngọ trai)
Không cất giữ vàng, bạc, tiền và các vật quý.
Giới được thiết lập trên nền tảng Bi và Trí. Về mặt Từ bi, giới giúp người tu loại bỏ ác tâm, hại tâm, dục tâm, để tránh gây tổn hại đến chúng sinh, người đời, vừa để bảo vệ hạnh phúc và niềm tin giải thoát cho đời.
Về mặt Trí tuệ, giúp người tu loại bỏ tham, sân, si của tự tâm, chế ngự dục vọng hầu tăng trưởng định và tuệ giải thoát.
Thử phân tích tác dụng của một giới "không sát sinh" thì sẽ rõ.
Giới này nhằm bảo vệ và tôn trọng sự sống của con người và các loài sinh vật khác, vừa để loại bỏ ác tâm, sân tâm, hại tâm và dục tâm của người tu.
Nhưng không phải vì hạn chế các sinh hoạt sai lầm mà Giới hạn chế sự thoải mái, tự do của tâm thức. Thực sự, cứ sống đời sống xuất gia, bạn sẽ thấy Giới giúp bạn mở rộng phương trời tự do. Càng giới hạn dục vọng, tự do tâm lý càng được mở rộng.
Về mặt Nhân quả, Giới không những chỉ đem lại an lạc cho mình và người trong hiện tại, mà còn đem lại an lạc cho đời sau nữa.
Ðó là nếp sống khôn ngoan, hiền thiện và Trí tuệ không phải để tiêu hủy mầm sống, mà là để khai mở sức sống.
Như một người nhà nông cần giữ đúng một số quy luật gieo trồng để có mùa gặt tốt, cũng vậy, người xuất gia cần giữ Giới luật để chờ đợi mùa gặt của an lạc và giải thoát.
22 OAI NGHI CHÍNH CỦA SA DI
Oai nghi là cung cách hành xử của Sa di.
Kính Tam Bảo: Kính Phật, kính Pháp và kính Tăng:
Kính Phật là tỏ lòng tôn kính Thế Tôn qua các cử chỉ hằng ngày trước ảnh, tượng Thế Tôn; và tỏ lòng tôn kính Trí tuệ giải thoát của tự thân.
Kính Pháp là tôn kính các lời dạy của Thế Tôn (tôn kính kinh điển), và tôn kính tâm thanh tịnh cũng như đời sống phạm hạnh của tự thân, biểu hiện qua các hành động cử chỉ hằng ngày.
Kính Tăng là tôn kính chư đại đệ tử của Thế Tôn thời Thế Tôn tại thế, tôn kính đoàn thể Tăng già hiện tại, và kính trọng sự hòa ái trong đời sống xuất gia.
Oai nghi này nhằm nuôi dưỡng lòng tôn kính của người tu.
Kính đại Sa môn:
Bao gồm các cử chỉ cụ thể như:
Tránh việc gọi thẳng tên của đại Tăng.
Không nghe lén giới Bồ tát và Tỳ kheo.
Nhường lối đi và tỏ vẻ cung kính trước đại Tăng, trừ các lúc đọc kinh, lúc ăn, lúc bệnh và lúc làm việc của Tăng chúng.
Không được nói lỗi của chư Tăng.
Không làm các việc gây phiền muộn cho chư Tăng.
Oai nghi này nhằm nuôi dưỡng tâm kính trọng người trên.
Thờ Th�