|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Lê Đàn
|
|
Tôi lặng yên ngắm nhìn bàn chân, gót hài Đức Phật bước trên đài sen. Kính cẩn chiêm bái Đức Từ Phụ đang mỉm cười và tôi cũng mỉm cười khẽ hát vừa đủ cho Ngài nghe câu hát trên chiếc hài bằng đá mà bác Thanh đã chế lời: Con xin làm sen nhỏ, và nâng đôi gót hài. Tôi tin chắc rằng hai người bạn vong niên của tôi, một ở phố Tây phương Cực lạc, một ở xứ Thần kinh cố đô Huế mộng mơ; nhân mùa Phật đản cũng cầu xin Ngài, kiếp sau xin được làm đoá sen hồng bé nhỏ, nâng đôi gót hài ngà ngọc Như Lai. |
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Thích Minh Tâm
|
|
Đạo giáo nguyên lưu còn có tên gọi khác là Tam giáo quản
khuy. Sách gồm 3 tập, giới thiệu tóm tắt về lịch sử 3 loại tôn giáo lưu hành ở
Việt Nam: Phật
giáo, Nho giáo, Lão giáo. Đặc biệt, sách đã tập trung giải thích những thuật ngữ
chuyên dùng của Phật giáo. Trong thời kỳ chữ Hán còn thông dụng, sách được dùng
làm tài liệu giảng dạy trong các trường học của nhà chùa. Sách in năm Thiệu Trị
thứ 5 (1845). Tác giả là một vị cao tăng đời Nguyễn, Phúc Điền Hòa thượng.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Nguyễn Hữu Sơn
|
|
Trong Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học, Giáo sư Đặng
Thai Mai đã nhấn mạnh các nội dung “tình cảm, tự hào, tin tưởng, vui vẻ và tích
cực”, “tứ thơ đã chắp cánh cho thơ bay bổng”, coi thơ Thiền thời Lý - Trần thuộc
“chủ nghĩa trữ tình tôn giáo”, “cảm hứng đạo học”, “tình cảm thiên nhiên như một
ngọn nguồn vô tận”(1)… Khi phác họa văn học đời Lý mở đầu những truyền thống lớn
của dòng văn học viết dân tộc, Giáo sư Đinh Gia Khánh cũng đặc biệt nhấn mạnh
“Văn học Thiền tông đời Lý với thiên nhiên và con người”(2), đây là tên một đề
mục đồng thời cũng được hiểu như sự xác định một dòng chảy chủ lưu của văn học
đời Lý.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Nguyễn Tường Bách
|
Trên đỉnh Linh Thứu nhớ Descartes Nguyễn Tường Bách Tại Đông Bắc Ấn Độ có một tiểu bang đặc biệt tên gọi là Bihar. Trong Bihar có một thành phố nay đã tàn tạ mang tên Vương Xá (Rajgir). Ngày xưa Vương Xá chính là kinh đô của một tiểu quốc mệnh danh là Ma-kiệt-đà (Magadha). Nằm ở phía Nam Vương Xá là một ngọn đồi nhỏ có tên là Linh Thứu (Gijjhakuta). Linh Thứu là nơi mà Phật Thich-ca sống khoảng 7 năm.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Thích Thông Huệ
|
|
Từ lúc khoác y Nam tông, Thầy bắt đầu nghiên cứu, dịch thuật chuyên sâu vào Luật tạng. Bản thânThầy là tấm gương sáng về nếp sống mẫu mực, giờ giấc đúng đắn, giới luật nghiêm cẩn. Thầy thường dạy “Giờ nào việc nấy, chỗ nào vật ấy”, “Căn bản của người xuất gia là đừng để vướng nhiễm ngũ dục. Đối ngũ dục có thể làm thước đo đạo lực của người tu”. Một câu nói của Thầy được xem là câu nói thời danh: “Cảnh khổ là nấc thang của bậc anh tài, là kho tàng của người hiểu biết, là hố thẳm của kẻ ươn hèn”. Chính vì nếp sống mẫu mực ấy mà Thầy được tôn là Hòa thượng Luật sư, và được suy tôn làm Tuyên Luật sư cho nhiều Đại giới đàn. Những năm gần đây, Thầy lại giữ trọng trách Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, phụ trách Ban phiên dịch Hán tạng. Với cương vị nầy, Thầy ra sức đào tạo bồi dưỡng kinh nghiệm dịch thuật cho các thành viên trong Ban, hết lòng thương yêu tiếp dẫn đàn hậu tấn khiến mọi người đều được lợi lạc. |
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Thích Thông Huệ
|
|
Quyển sách quý vị đang cầm trên tay chỉ là một nốt nhạc trong bản đại hợp xướng của vũ trụ, đón mừng mùa xuân trở về. Mong sao mỗi người chúng ta, dù xuân bên ngoài có đến đi mà tự thân vẫn luôn an ổn, vì trong ta đã có một đóa hoa Xuân không bao giờ tàn nở, luôn nguyên vẹn tinh khôi, luôn tươi nhuận sắc hương cung hiến cho muôn loài. Rõ ràng là, đóa hoa trong tay Ðức Bổn Sư vẫn còn tươi thắm, pháp âm vi diệu nơi Hội Linh Sơn vẫn còn vang vọng từ ngàn xưa cho đến ngàn sau. |
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Phan Đại Doãn
|
|
Một đặc điểm nổi bật nữa của đạo đức Phật giáo là quan niệm về từ bi. Nếu như giới, đinh, tuệ về cơ bản là tự rèn luyện bản thân thì những quan niệm từ bi là để giải quyết quan hệ giữa người với người, giữa người với xã hội và thiên nhiên trên nguyên tắc có lợi cho người khác. Kinh Quán vô lương thọ chỉ rõ người có tâm Phật là người đại từ bi. "Từ là làm cho người ta lạc quan và bi là làm cho người ta thoát khỏi đau khổ". Từ bi kết hợp với nhau tạo thành nguyên tắc vì lợi ích chúng sinh mà hành động. Các nhà triết học gọi đó là chủ nghĩa vị tha. |
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Tuệ Sỹ
|
|
Hai tập đầu (Phương Trời Viễn Mộng làm trước năm 1975, và Giấc Mơ Trường Sơn, làm từ 1975 đến 80) thuộc loại thơ diễn tả những suy tư về thân phận con người, về cảnh vô thường của tạo hóa, về vận nước thăng trầm, về lòng ái quốc và tinh thần dấn thân của kẻ sĩ... Còn hai tập sau (Tĩnh Tọa, làm từ 1983 đến 2000, và Tĩnh Thất, làm từ 2000 đến 2001) phần lớn là những bài thơ rất cô đọng, được sử dụng ngôn ngữ siêu thực hòa với ngôn ngữ cổ phong hiện thực, tạo thành những hình ảnh kỳ ảo riêng tây. Mà bóng dáng của những hình ảnh ấy ảo hóa đến vô cùng. Trích: Ðọc "Giấc Mơ Trường Sơn" Thi tập của Tuệ Sỹ Đan Hà |
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Tuệ Sỹ
|
|
Trong bất cứ nền văn học nào của Phật giáo, chúng ta có thể
thấy rằng, dù khởi sự từ đâu, tất cả mọi nguồn cảm hứng đều qui về nhân cách và
đời sống của đức Phật. Đây là điều mà chúng ta không thể quên, khi bước vào thế
giới văn học Phật giáo. Nếu ở nguyên thủy, nhân cách của Thích tôn là hình ảnh
của một con người, thì tất cả cảm hứng văn học đều khơi nguồn từ lẽ vô thường,
từ tính chất mong manh của cuộc sống. Phần lớn của nền văn học Phật giáo nguyên
thủy bàng bạc những hình ảnh của đời sống cô liêu. Tuy nhiên, chủ đích không
phải là trình bày một thứ cá nhân chủ nghĩa nào đó. Nhưng vì chân lý được nhắc
nhở trong các kinh điển nguyên thủy vốn được coi là sở đắc nội tại và cá biệt.
"Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình là nơi nương tựa cho chính
mình", đây là lời dạy cuối cùng của đức Phật, được ghi lại trong kinh Đại
bát Niết bàn.
Còn ở Đại thừa, đức Phật là một nhân cách siêu việt, do đó
cảm hứng văn học cũng được khơi nguồn từ thế giới siêu việt. Tất cả tùy thuộc
quan niệm về Phật thân. Tư tưởng Đại thừa bắt đầu xuất hiện với nền văn học bát nhã.
Nội dung của các kinh điển thuộc văn học Bát nhã đều thuyết minh về ý nghĩa
tánh Không. Tư tưởng này là triết lý hành động của lý tưởng Bồ tát đạo. Trong
lý tưởng Bồ tát đạo, có hai ý niệm quan hệ: Đại Trí và Đại Bi. Kinh Phổ hiền Hạnh nguyện nhắc nhở lý tưởng ấy rằng:
"Hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng". Hư không còn có thể có chỗ
tận cùng, nhưng tâm nguyện (Đại bi) của ta thì không bao giờ có thể cùng tận.
Nếu chúng ta không hay biết tí gì về tâm nguyện đại bi ấy mà mong bước vào thế
giới văn học Đại thừa, đây mới thật là một không tưởng trên mọi không tưởng.
Nói tóm lại, hương vị của Chánh pháp vẫn là hương vị cô liêu
của sự sống. Và đây mới đích thực là tinh chất của toàn thể văn học Phật giáo,
bao trùm tất cả mọi khuynh hướng, mọi tông phái của nó.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Văn Thơ Phật Giáo
|
|
Viết bởi Minh Chiếu - Hạnh Chiếu - Như Thủy
|
|
Sư chính là Thiền sư Tông Diễn, hiệu Chơn Dung (1640-1711), một cao tăng Việt Nam đã cứu Phật pháp thoát khỏi ách nạn vào đời Hậu Lê, mà suýt chút nữa vua Lê Hy Tông đã làm cho mai một. Và vì thế, Sư đã trở thành bậc tôn sư của triều đình đương thời. Tầm vóc là vậy, nhưng Sư vẫn là "Hòa thượng cua" trong lòng nhân gian, luôn sống mãi với cái khoảnh khắc chóng vánh thuở thiếu thời. Chóng vánh nhưng không dễ tan. Bởi vì chính cái khoảnh khắc ấy đã thu gọn, cô đọng những gì lớn lao nhất, ý nghĩa nhất của một người con Phật khi bắt đầu chọn cho mình một lối đi. Chất liệu từ bi và lòng hiếu thảo vô bờ của Sư đã thể hiện được con đường Bồ Tát đạo trong Phật giáo. |
|
Đọc thêm...
|
|
|