Home Văn Học và Nghệ Thuật Truyện Phật Giáo Tích Truyện Pháp Cú Tập 2
03 | 12 | 2008
Tích Truyện Pháp Cú Tập 2 PDF. In Email
Văn Học và Nghệ Thuật - Truyện Phật Giáo
Viết bởi Thiền sinh Thiền viện Viên Chiếu   
Chỉ mục bài viết
Tích Truyện Pháp Cú Tập 2
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.VI.5
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.VII
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.VIII
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.IX
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.X
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.XI
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.XII
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.XIII
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.XIV
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.XV
Tích Truyện Pháp Cú Tập II.XVI
Tất cả các trang

(Tập 2 trọn bộ 3 tập) Tập "Tích Truyện Pháp Cú" này được dịch theo bản Anh ngữ "Buddhist Legends" của học giả Eugène Watson Burlingame. Nhà học giả này đã căn cứ trên nguyên tác Pháp Cú Sớ Giải (Dhammapada Commentary) bằng tiếng Pàli. Tương truyền Pháp Cú Sớ Giải là công trình của Ngài Buddhaghosa (Phật Âm), sống khoảng thế kỷ thứ V Tây lịch.

Cả thế gian chìm trong đêm tối dày đặc của vô minh phiền não. Ngài cũng ở thế gian mà quét sạch được nó. Với năng lực siêu phàm chứng đạt được, Ngài đã thắp sáng ngọn đèn Chánh pháp.

Ngài là bậc Toàn Trí, phân biệt rành mạch chơn ngụy trong mọi vấn đề. Ðấng Ðạo sư đã thuyết nói chánh pháp, vì lòng từ vô lượng đã giảng giải giáo pháp theo căn cứ, khiến trời người đều được an vui, mãn nguyện.

Tích Truyện Pháp Cú (Tập 2)

Nguyên tác: "Buddhist Legends",

By Eugène Watson Burlingame

Thiền viện Viên Chiếu

Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. PL. 2544 – DL. 2000

Mục Lục Tập II

Phẩm VI: Hiền Trí

1. Một Người Được Kho Báu Tinh Thần

2. Những Tỳ Kheo Ương Ngạnh

3. Trưởng Lão Xa Nặc

4. Trưởng Lão Đại Kappina

5. Sa Di Pandita

6. Vững Vàng Như Đá Tảng

7. Yên Lặng Sau Cơn Bão

8. Một Lũ Lang Thang

9. Chồng Và Vợ

10. Ít Người Đến Bờ Kia

11. Từ Bỏ Đen Tối.

Phẩm VII: A La Hán

1. Ðấng Như Lai Không Đau Khổ

2. Thoát Khỏi Trói Buộc

3. Một Tỳ Kheo Trữ Thức Ăn

4. Tỳ Kheo Và Nữ Thần

5. Ðế Thích Lễ Kính Một Tỳ Kheo

6. Tưởng Mình Bị Khi Dễ

7. Mất Một Mắt

8. Không Tin Vào Ai Khác

9. Trưởng Lão Revata Trong Rừng Keo

10. Một Kỹ Nữ Cám Dỗ Một Tỳ Kheo

Phẩm VIII: Ngàn

1. Tên Đao Phủ

2. Sự Chuyển Hóa Của Bàhiya Dàruciriya

3. Cô Gái Lấy Tên Cướp

4. Ðược Và Mất

5. Chú Của Xá Lợi Phất

6. Cháu Của Xá Lợi Phất

7. Bạn Của Xá Lợi Phất

8. Chàng Trai Tăng Tuổi Thọ

9. Sa Di Samkicca

10. Tỳ Kheo Và Kẻ Cướp

11. Lưỡi Dao Cạo

12. Patacara Bị Mất Cả Gia Đình

13. Kisà Gotami Tìm Hạt Cải Trị Bệnh Cho Đứa Con Đã Chết

14. Góa Phụ Bazhuputtikà Và Những Đứa Con Bất Hiếu

Phẩm IX: Ác

1. Bà La Môn Tiểu Nhất Y

2. Một Tỳ Kheo Bất Mãn

3. Thiên Nữ Với Tỳ Kheo

4. Cấp Cô Ðộc Và Nữ Thần

5. Tỳ Kheo Không Giữ Gìn Tốt Đồ Dùng

6. Chưởng Khố Chân Mèo

7. Thương Gia Đại Phú

8. Người Thợ Săn Bắn Mê Muội

9. Thợ Săn Bị Bầy Chó Của Mình Nuốt Sống

10. Thợ Kim Hoàn, Tỳ Kheo Và Con Ngỗng

11. Ba Nhóm Tỳ Kheo

12. Suppabuddha Lăng Nhục Đạo Sư

Phẩm X: Hình Phạt

1. Lục Quần Tỳ Kheo

2. Lục Quần Tỳ Kheo

3. Một Bầy Trẻ

4. Tỳ Kheo Và Con Ma

5. Tỳ Xá Khư Và Quyến Thuộc Giữ Bát Quan Trai

6. Ngạ Quỷ Hình Trăn

7. Cái Chết Của Ðại Mục Kiền Liên

8. Tỳ Kheo Lắm Của

9. Santati, Quan Đại Thần Của Vua

10. Tỳ Kheo Và Bộ Đồ Rách

11. Sa Di Sukha

Phẩm XI: Già 

1. Bạn Của Tỳ Xá Khư Say Rượu

2. Ðức Phật Chữa Trị Một Tỳ Kheo Lụy Tình

3. Bà Ni Già

4. Nhóm Tỳ Kheo Cả Tin

5. Ni Cô Và Bóng Sắc

6. Hoàng Hậu Millikà Và Con Chó

7. Một Tỳ Kheo Thường Nói Không Đúng Chỗ

8. Kệ Của Trưởng Lão A Nan

9. Ðại Phú, Con Của Chưởng Khố.

Phẩm XII: Tự Ngã

1. Hoàng Tử Bồ Đề Và Con Chim Thần

2. Một Tỳ Kheo Tham Lam

3. Hãy Hành Động Theo Lời Nói

4. Ðừng Ghét Bỏ Cha Mẹ

5. Mahà Kàla Bị Giết

6. Ðề Bà Đạt Đa Tìm Cách Giết Phật

7. Ðề Bà Đạt Đa Gây Chia Rẽ Trong Tăng Đoàn

8. Vị Tỳ Kheo Đố Kỵ

9. Cô Gái Giang Hồ Cứu Mạng Một Cư Sĩ

10. Tu Tập Chân Chánh Để Tôn Quý Thế Tôn

Phẩm XIII: Thế Gian

1. Một Thiếu Nữ Chế Giễu Thầy Tỳ Kheo Trẻ

2. Ðức Phật Về Thăm Ca Tỳ La Vệ

3. Năm Trăm Tỳ Kheo Chứng Quả

4. Hoàng Tử Vô Úy (Abhaya) Mất Hầu Thiếp

5. Thầy Tỳ Kheo Và Cây Chổi

6. Câu Chuyện Của Chỉ Man

7. Cô Bé Dệt Vải

8. Ba Mươi Vị Tỳ Kheo

9. Chiến Già Vu Khống Phật

10. Phẩm Vật Không Thể Nào So Sánh

11. Ðức Hạnh Được Trả Giả

Phẩm XIV: Phật

1. Ðấng Toàn Giác

2. Thần Thông Song Hành

3. Long Vương Và Ái Nữ

4. Phương Cách Giáo Giới Trong Ngày Bố Tát Của Bảy Đời Đức Phật

5. Phật Trị Bệnh Bất Mãn Cho Thầy Tỳ Kheo

6. Sa Môn Và Long Vương

7. Người Cao Quý Sinh Ra ở Đâu?

8. Ðiều Gì Hạnh Phúc Nhất Trên Đời

9. Tôn Kính Những Bậc Đáng Tôn Kính

Phẩm XV: Hạnh Phúc

1. Mối Tranh Chấp Giữa Hai Lân Bang

2. Ma Vương Chế Ngự Thôn Dân

3. Vua Ba Tư Nặc Bại Trận

4. Ðừng Nhìn Say Đắm Nữ Nhân

5. Phận Ban Thức Ăn Cho Người Đói

6. Ăn Uống Tiết Độ

7. Sống Chân Chánh Là Tôn Kính Phật

8. Ðế Thích Săn Sóc Thế Tôn

Phẩm XVI: Hỷ Ái

1. Cha Mẹ Và Con

2. Phật An Ủi Người Phiền Muộn

3. Phật An Ủi Kẻ Ưu Sầu

4. Các Hoàng Tử Lệ Xá Và Kỹ Nữ

5. Cô Nương Tử Kim

6. Ðừng Để Tâm Vào Của Cải Thế Gian

7. Ngài Ca Diếp Được Cúng Bánh

8. Tôn Giả Chứng Quả A Na Hàm

9. Nandiya Được Sanh Thiên

Phẩm VI: Hiền Trí

1. Một Người Ðược Kho Báu Tinh Thần

Nếu thấy bậc hiền trí...

Giáo lý này Thế Tôn dạy tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Ràdha.

Trước khi trở thành Sa môn, Ràdha là một Bà la môn nghèo ở Xá Vệ. Quyết định đi tu, anh đến Tinh xá, làm đủ các việc: cắt cỏ, quét phòng, xách nước rửa mặt. Các Tỳ kheo đối xử với anh tử tế, nhưng không chịu nhận anh vào Tăng đoàn. Kết quả là anh ngày càng ốm đi.

Một sáng nọ, Thế Tôn quan sát thế gian, thấy người Bà la môn có thể chứng quả A la hán. Ngài giả vờ dạo quanh Tinh xá, đến chỗ Bà la môn hỏi:

- Bà la môn, anh làm gì ở đây?

- Bạch Thế Tôn, con làm mọi việc lớn nhỏ cho các Tỳ kheo.

- Anh có được đối xử tử tế không?

- Bạch Thế Tôn, có. Con được ăn thức ăn đầy đủ, nhưng quý Thầy không cho con xuất gia.

Phật liền nhóm họp các Tỳ kheo hỏi:

- Này, các Tỳ kheo! Có ai nhớ một việc làm nào của Bà la môn kia không?

Trưởng lão Xá Lợi Phất thưa:

- Bạch Thế Tôn, khi con khất thực ở thành Vương Xá, anh ta cúng cho con một muỗng đầy thức ăn của chính anh ta. Con nhớ rõ nghĩa cử đó.

- Này Xá Lợi Phất, một người đã làm một việc như thế, không xứng đáng thoát khỏi phiền não sao?

- Thưa vâng, con sẽ thu nhận anh ta vào Tăng đoàn.

Sau khi gia nhập Tăng chúng, anh ta được một chỗ ngồi trong trai đường ở vòng ngoài. Cháo và những thức ăn khác lâu ngày khiến anh cũng phát chán.

Trưởng lão Xá Lợi Phất cho anh ta đi khất thực chung, thường xuyên răn nhắc, chỉ giáo:

- Con phải làm điều này, không nên làm điều nọ.

Vị Tỳ kheo cung kính tuân theo, hành đúng như lời dạy, đến nỗi chỉ trong ít ngày chứng A la hán. Trưởng lão cùng ông đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống. Phật đón tiếp thân thiện, hỏi:

- Xá Lợi Phất! Ðệ tử ông có dễ dạy không?

- Vâng, Thế Tôn! Thầy dễ dạy, bất cứ lỗi gì con chỉ, Thầy không hề chống trái.

- Xá Lợi Phất, nếu ông có đệ tử như Tỳ kheo này, ông sẽ nhận có bao nhiêu người?

- Con sẽ nhận hết, bạch Thế Tôn.

Các Tỳ kheo bàn tán trong Pháp đường:

- Trưởng lão Xá Lợi Phất là người có lòng biết ơn. Một Bà la môn nghèo chỉ cúng cho ông một muỗng thức ăn, cũng biết ơn và cho xuất gia làm đệ tử. Lại nữa Tôn giả Ràdha, người chịu khó nghe lời răn nhắc, đã có được một vị Thầy kiên nhẫn chỉ dạy.

Phật nghe vậy bèn bảo:

- Các Tỳ kheo! Ðây không phải là lần đầu Xá Lợi Phất tỏ lòng biết ơn. Trong một tiền kiếp ông ấy đã từng như thế. Và đức Phật kể chuyện bổn sanh Alìnacitta như sau:

Alìnacitta, kẻ cường địch phải thảm bại,

Alìnacitta bắt sống vua nước Kosala, người bất mãn quân mình.

Cũng vậy, Tỳ kheo tinh tấn, theo hướng dẫn đúng tu hành,

Nhờ tu tập phạm hạnh, Niết bàn đã đạt đến,

Khi chín muồi nhân duyên thời tiết,

Sẽ cởi tháo hết mọi buộc ràng.

Phật bảo tiếp:

- Thuở ấy, Trưởng lão Xá Lợi Phất là con voi đơn độc, đã tặng con bạch tượng con cho đám thợ mộc, để đền ơn chữa chân đau.

Và Phật nhắc đến Tôn giả Ràdha:

- Các Tỳ kheo! Khi một Tỳ kheo được chỉ lỗi, vị ấy nên tuân hành giới luật như Ràdha.. Và khi bị khiển trách, không nên bất bình. Lý đáng còn phải xem người khiển trách mình như người chỉ cho kho báu.

Rồi Ngài nói Pháp Cú:

(76) Nếu thấy bậc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng,

Hãy thân cận người trí!

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu.

2. Những Tỳ Kheo Ương Ngạnh

Những người hay khuyên dạy...

Thế Tôn dạy câu này tại Kỳ Viên, liên quan đến các Tỳ kheo Assajipunabbasuka. Nhưng chuyện bắt đầu từ Kìtàgiri.

Các Tỳ kheo này là học trò hai vị Ðại đệ tử, nhưng lại xấu ác và không biết hổ thẹn. Thời gian ở Kìtàgiri, họ trồng và sai người trồng cây cảnh và phạm đủ mọi hạnh xấu. Họ quấy rầy gia đình, đòi các thứ cần dùng. Họ làm cho các Tỳ kheo đàng hoàng trong Tinh xá khó chịu.

Nghe được, Thế Tôn quyết định tẩn xuất họ khỏi Tăng đoàn. Ngài cho gọi hai Ðại đệ tử đến với đồ chúng bảo:

- Hãy tẩn xuất kẻ không vâng lời. Nhưng khuyên răn và dạy dỗ những người biết vâng lời. Người hay khuyên răn và dạy dỗ bị kẻ ít trí ghét bỏ, nhưng được người có trí kính mến.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(77) Những người hay khuyên dạy,

Ngăn người khác làm ác,

Ðược người hiền kính thương,

Bị người ác không thích.

Hai Ðại đệ tử Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên khuyên răn và dạy dỗ các Tỳ kheo. Một số vâng lời sửa đổi cố tật, một số hoàn tục, còn số khác bị trục xuất khỏi Tăng đoàn.

3. Trưởng Lão Xa Nặc

Chớ thân với bạn ác...

Tại Kỳ Viên, Thế Tôn dạy câu trên vì Trưởng lão Xa Nặc.

Có lần Trưởng lão Xa Nặc nhục mạ hai Ðại đệ tử:

- Từ ngày cùng Thế Tôn đại xả ly, tôi chẳng thấy có ai khác, thế mà nay hai Trưởng lão này lại rêu rao "Ta là Xá Lợi Phất, ta là Mục Kiền Liên, chúng ta là hai Ðại đệ tử.”

Nghe các Tỳ kheo kể lại lời của Xa Nặc, Thế Tôn cho mời ông đến khiển trách. Ông im lặng được một hồi, nhưng sau đó tiếp tục chê bai hai Trưởng lão. Thế Tôn lại gọi và khiển trách ông lần thứ hai, lần thứ ba:

- Xa Nặc, hai Ðại đệ tử là bạn tốt của ông, là bậc thượng nhân. Hãy làm bạn với những người tốt như thế, và chỉ học tập họ.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(78) Chớ thân với bạn ác,

Chớ thân kẻ tiểu nhân,

Hãy thân người bạn lành,

Hãy thân bậc thượng nhân.

Nhưng Trưởng lão Xa Nặc, tuy nghe Phật dạy như thế, vẫn tiếp tục chê bai nhục mạ hai Trưởng lão như trước. Các Tỳ kheo lại bạch với Phật và được Ngài dạy như sau:

- Các Tỳ kheo! Bao lâu Ta còn sống, các ông sẽ không dạy nổi Xa Nặc. Tuy nhiên, sau khi Ta nhập diệt, các ông sẽ thành công.

Khi Thế Tôn sắp nhập Niết bàn, Tôn giả A Nan hỏi Phật phải đối xử với Trưởng lão Xa Nặc thế nào? Thế Tôn dạy phải mặc tẩn (Brahmadanda). A Nan đã y lời Thế Tôn, gọi Xa Nặc đến tuyên bố như thế. Ông lo âu buồn bã, cảm thấy thất thế, chớ không lên mặt như ba lần trước. Ông la lên:

- Tôn giả, xin đừng hại con!

Từ đó ông hết lòng chu toàn bổn phận, chẳng bao lâu chứng quả A la hán và các thần thông.

4. Trưởng Lão Ðại Kappina

Pháp hỷ đem an lạc...

Thế Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Ðại Kappina.

Chuyện quá khứ

A. Thợ Dệt Và Gai Chủ

Xưa kia, Tôn giả Ðại Kappina đã phát nguyện dưới chân Phật Padumuttara. Trải qua nhiều kiếp luân hồi, sau cùng Ngài xin làm thợ dệt chánh tại một làng dệt gần Ba La Nại. Lúc đó có một ngàn vị Phật Ðộc Giác đã ở tám tháng trong Hy Mã Lạp Sơn, xuống núi đến vùng lân cận Ba La Nại để trú qua bốn tháng mưa, và tám vị được phái đến yết kiến vua để xin chỗ ở. Vua đang bận rộn chuẩn bị lễ Hạ Ðiền, nên trả lời thẳng thừng là không rảnh để lo, hẹn các vị trở lại vào ngày mốt, xong quay lưng về cung, không mời ngay cả một bữa ăn. Các vị bèn quyết định qua làng khác.

Tình cờ vợ người thợ dệt chánh đi đến Ba La Nại, gặp các vị, đảnh lễ và hỏi thăm:

- Chư Tôn giả! Có việc gì mà các vị đến phi thời như thế?

Khi biết rõ mọi việc, và vốn thông minh, thành tín, bà liền mời các vị thọ trai vào ngày mai. Dù sau đó biết các vị Phật lên đến một ngàn, bà vẫn đoan chắc với các vị là làng này có một ngàn thợ dệt, và mỗi người sẽ lo cho một vị, thực phẩm lẫn chỗ ở. Ðược các vị hứa khả, bà tức tốc về làng báo tin, rồi cho dựng rạp, sắp chỗ ngồi, chuẩn bị các món ăn thượng vị chờ đón. Cuối bữa ăn, bà cùng tất cả phụ nữ trong làng đảnh lễ các vị và thưa thỉnh họ ở lại ba tháng. Ðược nhận lời, bà động viên dân làng, mỗi nhà một người xách búa, rìu, vào rừng đốn cây để dựng lều cỏ và lá. Mỗi nhà dựng một lều, có chỗ ở ban ngày và chỗ nghỉ ban đêm, tất cả một ngàn cái. Và dân làng đã cung ứng đầy đủ mọi nhu cầu của các vị trong ba tháng mưa. Ðến ngày cuối, bà thuyết phục mỗi nhà cúng cho vị Phật đã nhập hạ trong lều của mình một bộ y đáng giá một ngàn đồng. Hết mùa an cư, các vị Phật cảm tạ, ra đi.

Do công đức này, dân làng dệt tái sanh làm một nhóm chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Hưởng hết phước báo cõi Trời, họ tái sanh làm những gia chủ ở Ba La Nại dưới thời Phật Ca Diếp. Thợ dệt chánh là con trai một tộc trưởng, vợ anh ta cũng là con gái một tộc trưởng. Các cô lập gia đình với các ông trước kia là chồng mình.

Ngày nọ, nghe tin Thế Tôn thuyết pháp, các gia chủ đưa vợ cùng đến Tinh xá. Vừa vào cổng thì mưa trút xuống. Những người có họ hàng với Sa di hay Tỳ kheo trong Tinh xá thì vào thất các vị ấy trú. Còn đám gia chủ này chịu trận vì không có thân nhân.

Gia chủ trưởng cằn nhằn với người của mình:

- Thật là kỳ cục! Những người đàng hoàng đứng đắn như chúng ta đây lâm vào hoàn cảnh như thế này, thật đáng xấu hổ!

Và ông khuyên mọi người hùn tiền lại xây một Tinh xá cho Phật. Gia chủ trưởng cúng một ngàn đồng, gia chủ khác mỗi người năm trăm, các bà vợ mỗi người hai trăm năm chục. Vì công trình quá qui mô, với một ngàn ngọn tháp bao quanh, nên nửa chừng hụt tiền họ phải đóng thêm một nửa số tiền nữa. Tinh xá hoàn tất, họ làm lễ khánh thành, cúng dường Phật và Tăng chúng suốt bảy ngày và tất cả hai mươi ngàn Tỳ kheo mỗi vị một bộ y.

Riêng vợ của gia chủ trưởng cũng đóng góp như mọi người và với khôn ngoan bà phát tâm cúng dường thêm cho Phật một bộ y màu hoa Anoja trị giá một ngàn đồng với một bó hoa Anoja, bà xin được đẹp và có tên như hoa Anoja ở kiếp sau. Phật hứa khả. Sau khi mạng chung, mọi người đều sanh thiên.

Chuyện hiện tại

B. Vua Kappina Và Hoàng hậu Anoja

Từ cõi trời, gia chủ trưởng tái sinh vào hoàng tộc xứ Kukkutavatì, tức vua Kappina. Những người khác đều làm quan trong triều. Vợ của ông thì tái sanh vào Hoàng cung xứ Maddà trong thành Sàgala. Nước da bà y như màu hoa Anoja nên có tên là Anoja. Khi đến tuổi thành hôn, bà trở thành vợ vua Kappina, Hoàng hậu Anoja. Các phụ nữ khác cũng sanh vào nhà các quan, mọi người đều hưởng vinh hoa phú quý, y như vua, cũng cưỡi voi hoặc ngồi xe ngựa, cũng trang phục lộng lẫy, vì đời trước họ và vua đều cùng làm phước y như nhau.

Nhà vua có năm con ngựa: Vàla, Puppha, Vàlavàhana, Pupphavàhana và Supatta. Con Supatta dành cho vua và bốn con kia cho những người đưa tin. Một sáng, vua hạ lệnh cho họ phóng ra bốn cửa thành tìm khắp trong hai, ba dặm xem có Phật, Pháp, Tăng không. Họ trở về không tin tức gì.

Ngày kia, vua cùng các cận thần cưỡi ngựa dạo hoa viên, thấy năm trăm thương nhân dáng mệt mỏi đang tiến vào thành. Vua cho vời họ lại hỏi thăm, biết đâu nghe được tin lành. Họ từ thành Xá Vệ đến, cách đây một trăm hai mươi dặm đường, và điều làm cho vua run lên với năm cảm xúc vui mừng là họ báo tin đấng Giác Ngộ, đức Phật đã ra đời. Ngập ngừng một lát, vì không tự chế ngự nổi, vua lắp bắp hỏi lại cho chắc:

- Ðạo hữu, quý vị nói gì?

- Ðức Phật đã ra đời.

Lần thứ hai, rồi lần thứ ba vua nghe như thế, và tặng cho họ một trăm ngàn đồng, xong hỏi tiếp còn tin gì nữa không?

- Thưa Ðại vương, Giáo pháp đã ra đời.

Cũng như lần trước, vua ngập ngừng vì không chế ngự được cảm xúc của mình, hỏi lại lần thứ hai, lần thứ ba, rồi cho một trăm ngàn đồng nữa. Và khi được nghe Tăng đoàn đã ra đời, họ lại được vua ban thêm một trăm ngàn đồng nữa.

Vua nhìn lại một nghìn cận thần của mình, hỏi:

- Ðạo hữu, hạnh phúc của quý vị là gì?

Họ hỏi lại vua:

- Còn hạnh phúc của đại vương là gì?

- Phật đã ra đời, Pháp đã ra đời, Tăng đã ra đời. Ta không trở về cung điện nữa, vì Ðạo sư, ta sẽ đi tu theo Ngài.

Họ đồng thanh thưa:

- Tâu đại vương, chúng tôi cũng xuất gia như Ngài.

Vua viết thông điệp trên một dĩa vàng, trao cho đám thương nhân và bảo họ:

- Hoàng hậu Anoja sẽ cho các ngươi ba trăm ngàn đồng ngay khi nhận thông điệp này "Vương quyền nay giao trọn cho Hoàng hậu, hãy an hưởng phú quý vinh hoa.” Và nếu Hoàng hậu hỏi ta ở đâu thì cho biết ta đã lên đường xuất gia theo Ðạo sư.

Các cận thần cũng gởi thư về cho vợ tương tự như thế. Và vua tôi hơn một ngàn người ra đi.

Sáng sớm hôm ấy, Phật quán sát thế gian biết rõ sự việc như trên, và còn thấy trước là họ sẽ chứng A la hán với các thần thông, nên Ngài đến gặp họ. Giống như một Chuyển Luân Thánh vương đến gặp thôn trưởng nhỏ, đức Phật đắp y ôm bát, lên đường đi suốt hai trăm dặm, đến ngồi bên bờ sông Candabhàgà, dưới một gốc đa và phóng hào quang sáu màu. Trên đường đi, nhà vua và các quan gặp một con sông tên Aravacchà sâu một dặm, rộng hai dặm, không có thuyền bè gì. Nếu cứ đi tìm thuyền bè thì già chết theo sau. Và với quyết tâm từ bỏ thế gian vì Tam bảo, vua nguyện thần lực của Tam bảo sẽ cho nước sông không còn là nước nữa. Rồi vua hướng về đức Phật, chú tâm:

- Ngài là đấng Giác Ngộ, Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri.

Trong khi chú tâm như vậy, vua và các quan trên lưng ngàn ngựa phi trên mặt sông như trên đá phẳng, không bị ướt dù chỉ đầu móng chân.

Qua sông rồi, vua tiếp tục gặp con sông khác tên là Nĩlavàhanà, sâu nửa dặm, rộng nửa dặm. Mọi việc diễn ra y như trước, chỉ khác là lần này vua chú tâm vào Pháp Bảo:

- Giáo pháp do Thế Tôn thuyết vi diệu thay!

Ðến con sông thứ ba là Candabhàgà sâu một dặm, rộng một dặm. Lần này vua chú tâm vào Tăng Bảo:

- Tăng đoàn của Thế Tôn tối chơn chánh thay!

Qua sông rồi vua tiếp tục hành trình thì trông thấy hào quang sáu màu từ thân Phật phóng ra. Cành, thân, lá cây đa đều như bằng vàng. Vua nghĩ rằng ánh sáng này không phải của mặt trời, mặt trăng, rồng, thần Garuda (Kim xí điểu), mà vì vua quyết đi xuất gia theo Thế Tôn nên đã được đức Phật thấy biết. Vua lập tức xuống ngựa, nghiêng mình về phía hào quang, đến chỗ Thế Tôn. Vua bước vào Phật quang như bị ngập trong biển son, đảnh lễ Thế Tôn rồi cùng một ngàn cận thần cung kính ngồi một bên.

Thế Tôn theo thứ lớp thuyết pháp. Cuối thời pháp, vua và các quan chứng quả Dự lưu, cùng đứng lên xin gia nhập Tăng đoàn. Phật quán sát, biết rằng những vị này trước đây cúng một ngàn y cho một ngàn vị Phật Ðộc Giác, và trong thời Phật Ca Diếp cũng cúng hai mươi ngàn bộ y cho hai mươi ngàn Tỳ kheo. Như vậy họ sẽ được y bát do thần lực. Phật liền duỗi tay phải ra và nói:

- Hãy đến, chư Tỳ kheo! Hãy sống đời phạm hạnh, đoạn tận phiền não.

Ngay đó họ đều được tám món cần dùng, thành các Trưởng lão trăm tuổi. Họ bay lên không, đáp xuống đất đảnh lễ Ðạo sư và ngồi xuống.

Về phần các thương nhân đến Hoàng cung, gặp Hoàng hậu đưa dĩa vàng. Họ thuật chuyện lại. Và khi họ lặp lại tin Phật, rồi Pháp, rồi Tăng ra đời, cũng y như vua, Hoàng hậu chấn động cả thân tâm; mỗi tin như thế bà thưởng cho họ ba trăm ngàn đồng. Sau cùng nghe vua và các quan đều xuất gia thành Tỳ kheo, Hoàng hậu triệu tập phu nhân các quan, kể lại chuyện, và mọi người đồng hỏi Hoàng hậu:

- Họ có nhắn gì không, thưa Hoàng hậu?

- Họ giao toàn bộ tài sản, địa vị cho các bạn tự do an hưởng.

- Nhưng Hoàng hậu định như thế nào?

- Nhà vua biết phú quý vinh hoa sẽ dẫn đến đau khổ, thì ta cũng vậy. Ai lại quỳ xuống liếm nước bọt của vua nhổ ra. Ta không cần vinh hoa phú quý, ta cũng sẽ lên đường theo đấng Ðạo sư.

- Vậy chúng tôi cũng theo lệnh bà và xuất gia.

Và Hoàng hậu ra lệnh chuẩn bị một ngàn xe ngựa rồi cùng các phu nhân lên đường. Cũng như vua trước đây, bà đến con sông đầu tiên, thắc mắc không biết làm sao, chỉ thị tìm dấu chân ngựa của vua, nhưng không thấy gì hết. Nghĩ rằng chắc vua tuyên bố "Vì Tam bảo mà từ bỏ thế gian" và nhờ đó qua sông, Hoàng hậu cũng nguyện y như vậy, và chú tâm về Tam bảo lực, bà hạ lệnh cho một ngàn xe ngựa tiến lên qua sông như phi trên tảng đá phẳng. Cả đoàn và luôn cả vành xe đều không ướt. Cũng thế, bà qua hai con sông còn lại.

Biết bà sắp đến, Thế Tôn biến hóa khiến các Tỳ kheo vô hình, không ai thấy các Ngài ngồi quanh Phật, Hoàng hậu đến gần trông thấy hào quang chiếu sáng, bà cũng nghĩ như vua trước đó. Gặp Thế Tôn bà đảnh lễ, cung kính đứng một bên thưa hỏi:

- Bạch Thế Tôn! Con nghĩ Ðại Kappina đã đến đây và thưa với Thế Tôn từ bỏ thế gian vì đấng Ðạo sư. Hiện nay vua ở đâu xin chỉ cho chúng con.

Phật bảo:

- Hãy ngồi xuống! Các con sẽ gặp ông ta ngay đây.

Các bà rất vui mừng, vì nghĩ rằng ngồi đó sẽ thấy được chồng mình. Và họ ngồi xuống.

Thế Tôn thuyết pháp theo thứ lớp. Cuối bài pháp, Hoàng hậu và đoàn tùy tùng đều chứng quả Dự lưu. Trưởng lão Ðại Kappina và tùy tùng nghe Phật thuyết pháp cho các bà liền chứng A la hán cùng các thần thông. Lúc đó Thế Tôn chỉ các Tỳ kheo cho các bà. Sở dĩ Thế Tôn không chỉ các Tỳ kheo ngay vì e rằng các bà thấy chồng mình đắp y vào, đầu trọc, sanh tâm phiền muộn không thể chứng được đạo quả. Khi niềm tin các bà đã vững chắc, Phật mới chỉ cho thấy các Tỳ kheo lúc đó là bậc A la hán. Và các bà đã sụp lạy trước các vị tân A la hán, thưa:

- Chư Tôn giả! Các Ngài bây giờ đã đạt đến cứu cánh của đời tu.

Rồi họ đảnh lễ Thế Tôn, cung kính đứng một bên và xin được gia nhập Tăng đoàn. Vài Tỳ kheo nghĩ rằng Thế Tôn sẽ giao cho Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc (Uppalavannà) nhưng Thế Tôn lại bảo họ đến Xá Vệ, vào Tinh xá củA tỳ kheo ni. Họ đi bộ suốt một trăm hai mươi dặm. Nơi nào cũng được dân chúng đối xử tử tế và tôn kính. Họ được nhận vào Ni chúng và chứng A la hán. Thế Tôn dẫn một ngàn Tỳ kheo bay lên không về Kỳ Viên.

Tại Kỳ Viên, Tôn giả Ðại Kappina đến chỗ ở ban ngày và chỗ ngủ ban đêm thốt lên:

- Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!

Các Tỳ kheo nghe được báo cho Thế Tôn, nghĩ rằng chắc ông nói vì hạnh phúc quyền thế khi còn làm vua. Thế Tôn gọi Ngài đến hỏi tại sao lại nói về hạnh phúc của tình yêu và quyền thế. Ngài thản nhiên trả lời rằng chắc Thế Tôn thừa biết Ngài có thốt những lời như thế hay không. Thế Tôn liền bảo các Tỳ kheo:

- Này các Tỳ kheo! Ðệ tử Ta nói như thế không phải liên quan đến quyền lực. Ông ấy đang uống nước pháp và hạnh phúc trong chánh pháp. Niềm hoan hỷ của ông ấy liên quan đến Niết bàn bất tử.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(79) Pháp hỷ đem an lạc,

Với tâm tư thuần tịnh,

Người trí thường hoan hỷ,

Với pháp bậc Thánh thuyết.