Điêu Khắc Phật Giáo
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Quảng Anh
|
Hình tượng tạc ở Gandhara rất hiện thực như ta có thể thấy qua các bức tượng hình đầu của đức Phật bằng đồng, bằng cẩm thạch, nó cho thấy sự hòa hợp thành công giữa nghệ thuật tạc chân dung sống động của Hy Lạp với một tôn giáo xa lạ. Điểm đáng chú ý về kiểu thức điêu khắc của Gandhara là nó có nhiều dạng khác nhau, từ dạng chịu ảnh hưởng sâu đậm của Á Đông có tính cách trừu tượng, tới dạng nét hiện thực của thế giới Tây phương. ...
Theo quan điểm tạc tượng của Gandhara thì hình đức Phật không phải là của đức Phật, mà là hình ảnh của một lý tưởng hay một điều gì mà người ta hy vọng có thể đạt tới. Việc tạc tượng đức Phật vì thế được xem như cụ thể hóa ý niệm về một con người tuyệt mỹ thập toàn. Thái tử Siddhàrtha được xem là biểu tượng của một thanh niên văn võ toàn tài, được huấn luyện về các môn thể thao, võ nghệ y như một lực sĩ tranh tài Olympics của đế quốc Hy Lạp. Hình ảnh thái tử Siddhàrtha với chiến xa và người hầu cầm cương rất gần gũi với hình ảnh một thanh niên con nhà vương giả của Hy Lạp, được rèn luyện tài năng cho cả thời bình lẫn thời chiến.
Nói tóm lại, tượng Phật và tượng Bồ-tát thời Gandhara thể hiện mọi đặc tính của một thanh niên giàu có. Và sự mô tả nầy còn có một hậu ý khác, là thanh niên quý phái đó được hưởng mọi điều thuận lợi trong đời nhưng lại từ bỏ tất cả, không thừa hưởng điều gì về vật chất để cứu độ nhân gian.
|
|
Đọc thêm...
|
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Chu Quang Trứ
|
|
Điêu khắc Phật giáo thời Lý, đặc biệt phải kể đến nhiều bức chạm
nổi trên đá mà tinh khéo như chạm bạc, có cả trạm trên gốm và kim loại quý.
Những bức chạm này ngoài việc trang trí cho các bệ tượng và bia đá, thường gắn
liền với ...một số đề tài quen thuộc:
sóng, hoa lá, rồng mây, chim và cả hình người nữa. Những đề tài này phần lớn
được sử dụng phổ biến và thường xuyên trên nhiều di vật thuộc những di tích
khác nhau cả về thời gian và không gian, mà trong tính hằng xuyên ấy, từng giai
đoạn lớn lại có dấu ấn riêng.
Phong cách biểu hiện của chúng tuy có biến diễn, nhưng trước
sau vẫn thống nhất, cũng lối sử dụng những đường nét cong thanh, hình khối tròn
chắc và dẻo trên các tượng, cũng lối chạm tỉ mỉ đến tinh tế và điêu luyện, dùng
nhiều đường lượn đầy chất trang trí trên các mặt phẳng, chúng dàn trải kín các
đồ án với sự cân đối nhịp nhàng và nguyên tắc chặt chẽ. Chính sự ổn định của đời sống xã hội đã tạo sự ổn định tương
đối của nghệ thuật, mọi hình tượng của mỹ thuật đều trở thành chuẩn mực và có ý
nghĩa. Cùng một đề tài nhưng trên các di tích khác nhau cả về thời gian và
không gian, hình hiện ra luôn có một cái chung thanh tú, tinh tế, tươi mát, mềm
mại, tròn trịa và ổn định đến chuẩn mực.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Trần Mạnh Phú
|
|
Thành công của tập thể nghệ sĩ điêu khắc thời Lý chính là ở chỗ diễn tả được nội dung của tư tưởng thời đại. Cốt lõi của tư tưởng ấy là Phật pháp. Song, cốt lõi đó lại bị chi phối bởi các khía cạnh khác nhau của hệ tư tưởng cổ truyền Việt Nam: ý thức về cuộc sống (cõi đời), về quốc gia (nền xã tắc), về đất (trăm thóc giống dồi dào), về nước, về nền văn hóa dân tộc (chung một nghi thức), và về dân. Pho tượng Phật A Di Đà chùa Phật Tích thắm đượm những ý thức ấy. Và cái đẹp của nó toát ra trong sự thống nhất của những yếu tố đối lập: tư thế bất động của Phật, nhịp chuyển động của các biểu tượng nói lên ý thức cổ truyền về tổ tiên (rồng), về đất nước (nước) và dòng năng động ngầm chảy trong cơ thể nhân tính (nữ tính) của Phật...
Tại chùa Bút Tháp (Hà Bắc) còn một pho tượng Phật Tuyết Sơn (thế kỷ XVII). Ở pho tượng này, bản chất Phật đã chiến thắng sức cám dỗ của vật chất. Cơ thể gày còm khiến chúng sinh nghĩ đến sáu năm tu khổ hạnh của Phật. Song, dáng ngồi “tâm định” của Tuyết Sơn, vầng trán, đôi mắt... đã thuộc bản thể Phật rồi. Trái lại, khi chiêm ngưỡng Tuyết Sơn (cuối thế kỷ XVIII) ở chùa Tây Phương (Hà Tây), chúng ta thấy cuộc đấu tranh giữa tinh thần và vật chất như còn tiếp diễn trong pho tượng.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Trần Lâm Biền - Chu Quang Trứ
|
|
Phật giáo Việt Nam, từ xưa đến nay, đã được nhiều người nghiên cứu. Nhưng, nếu như, qua các công trình đã công bố, yếu tố Đại thừa được phân tích khá rõ và đầy đủ, thì trái lại, yếu tố Tiểu thừa hầu như vẫn chưa được đề cập đến đúng mức. Vậy, có phải Phật giáo Việt Nam chỉ có yếu tố Đại thừa, hay còn cả yếu tố Tiểu thừa nữa? Nhà nghiên cứu vừa quá cố trong lòng thương tiếc chung của giới khoa học, cụ Trần Văn Giáp, từng giải đáp một khía cạnh của câu hỏi trên - khía cạnh lịch sử - trong một luận văn đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó khi mới ra đời. Tất nhiên, giải quyết vấn đề cho trọn vẹn đòi hỏi sự chung sức của nhiều người, nhiều ngành, trước tiên là ngành lịch sử tư tưởng. Riêng phần chúng tôi, đứng dưới góc độ mỹ thuật, qua một số tài liệu hiện vật và tài liệu văn tự thuộc những thế kỷ đầu của kỷ nguyên dân tộc độc lập, đặc biệt là thuộc thời Lý, chúng tôi muốn sơ bộ đưa ra một vài ý kiến để bạn đọc tham khảo.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Trương Minh Hằng
|
|
Ở mỗi nghệ nhân Chàng Sơn, từ lúc còn là “phó nhỏ học nghề”, cái tay đã biết cầm chàng, cầm đục; con mắt đã quen nhìn và nhập tâm từng “mẫu Phật”, mà những khuôn mẫu đó từ bao thế kỷ nay có thay đổi bao nhiêu? Khi có hợp đồng đưa đến, trong đầu người thợ đã phác tính từng khoản: tượng này ngồi, tượng kia đứng, ngồi kiểu này, đứng thế kia; ngần ấy tượng cần ngần này gỗ... và kích cỡ thì “áng chừng” ở khúc gỗ định làm. Tuy là “thuận mắt quen tay” nhưng mỗi bước, mỗi công đoạn trong quá trình hoàn thiện một pho tượng lại rất khoa học. Người thợ ngoài bàn tay tài hoa, khéo léo còn phải có một bộ óc linh hoạt, nhạy bén và dày dặn kinh nghiệm nghề...
Các nghệ nhân Chàng Sơn thường làm theo lối “chắc ăn” bằng cách phân đôi khối đầu, lấy đường vạch thẳng bổ giữa sống mũi, xong đục một bên mặt trước; sau đó lấy sống mũi làm trục đối xứng, đục nốt nửa phần còn lại và đối chiếu với các chi tiết bên kia cho cân. Trên khuôn mặt, các nghệ nhân cũng phân chia từng mảng, diện: khoảng cách giữa hai con mắt, từ chân tóc tới chân mày, chiều dài sống mũi, bề rộng cánh mũi, khoảng cách giữa môi trên và môi dưới, từ môi dưới tới cằm, độ dày của môi.v.v... Tai Phật thường to và chảy, phải tính đặt cân đối hợp lý trong khoảng cách từ chân tóc (2 bên đầu) tới cằm, có khi tai chạm vai.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Trần Văn Cẩn
|
|
Trong cái di sản mỹ thuật quý báu của dân tộc Việt Nam từ những thế kỷ xưa còn truyền lại, có một phần quan trọng và khá phong phú, ấy là phần của nghệ thuật điêu khắc.
Những tài liệu, một phần gồm những hiện vật đã được sưu tầm và trưng bày tại Viện Bảo tàng lịch sử hoặc ở một số bảo tàng địa phương, một phần khác là những tài liệu gắn liền với các di tích kiến trúc cổ nằm rải rác ở nhiều nơi trong nước, đặc biệt là ở một số lăng mộ, chùa và đình. Số lượng nói chung không lớn lắm, một số hiện vật lại không còn được toàn vẹn, vì đại bộ phận các sáng tác là làm bằng các chất liệu kém chịu đựng sự thử thách của thời gian, như gạch vôi, đất nung và nhiều hơn cả là gỗ, những tác phẩm bằng đồng hay bằng đá rắn chỉ gồm một số ít. Đồng, đá, có kiên cố hơn, nhưng nhiều công trình làm bằng chất liệu này, nhất là đá, hầu hết là dựng ở ngoài trời cho nên cũng đã không tránh khỏi ít nhiều bị xói mòn vì lâu đời dầu dãi gió mưa.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Lan Phương
|
|
Đạo Phật vào nước ta từ rất sớm. Hiện nay nhiều người nghĩ rằng, đạo Phật đến đất Việt trước khi đến Trung Hoa. Thuỷ kinh chú của Trung Hoa đã cho biết vào thế kỷ thứ III trước công nguyên đạo Phật đã vào nước Việt, với sự kiện là vua Acoka cho dựng ở núi Nêlê thuộc Kiến An - Hải Phòng một ngôi tháp Phật. Thời kỳ cuối đời Đường (thế kỷ VIII và IX) mặc dù đạo Phật đã phát triển khá mạnh, có nhiều tông phái, song kiến trúc và tượng Phật hầu như cũng không còn dấu vết. Chỉ tới thời tự chủ, ít nhiều dấu tích liên quan tới ngôi chùa mới thấy còn tồn tại.
Càng về sau này do sự phát triển của Phật giáo cùng với sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử và xã hội, nên mỗi thời tượng chùa có nhiều biến đổi khác nhau. Nói về tượng Phật giáo ở chùa Việt thì có nhiều phong cách như: tượng Phật thời Lý, tượng Phật giáo thế kỷ XVI, thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII), thế kỷ XVIII, thời Tây Sơn, thế kỷ XIX...
Trong một chừng mực nào đó, có thể nghĩ chùa và tượng của người Việt là một trong những nơi giáo dục lòng yêu quê hương xứ sở, về tình người, và là một di sản văn hóa quý báu để đời sau gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Với tinh thần đó người Việt Nam hầu như ít nhiều đã chịu ảnh hưởng tinh thần Phật đạo để giờ đây như được thể hiện cụ thể qua những việc xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, tinh thần tương thân tương ái, cứu trợ đồng bào gặp thiên tai...
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Lê Đình Quỳ
|
|
Pho tượng nổi tiếng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp chứa đựng nhiều "ẩn ngữ", triết lý sâu xa. Nó cho ta biết nhiều nét về quan điểm thẩm mỹ, nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Việt thời Hậu Lê, nửa sau thế kỷ 17.
Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, do Trương Thọ Nam tạc và hoàn thành vào năm 1656, thời Hậu Lê. Trên bệ tượng ghi: Nam Đông Giao, Thọ Nam - Trương tiên sinh - phụng khắc (tạm hiểu: Nam Đông Giao là địa chỉ, Thọ Nam là tên hiệu, Trương là họ, tiên sinh là bậc trí giả, phụng khắc là phụng mệnh trời đất dựng tượng để thờ). Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu, chữ "phụng khắc" được dịch là khắc theo ý chỉ của nhà vua (nhưng nếu phụng mệnh vua mà khắc thì tượng phải để ở kinh đô, trong khi đó pho tượng này lại được thờ ở một ngôi chùa).
Ở châu Á, đạo Phật khởi nguồn nên chủ đề "Quan Âm nghìn mắt nghìn tay" được tạc ở một số nước, nhưng tác phẩm do nhà điêu khắc thiên tài Trương Thọ Nam sáng tác có nội dung hoàn chỉnh bậc nhất về thế giới quan và nhân sinh quan theo quan điểm Phật giáo truyền thống, có hình thức nghệ thuật đạt được sự hoàn mỹ tuyệt vời. Pho tượng này đã đạt giải đặc biệt khi tham gia triển lãm nghệ thuật Phật giáo Quốc tế tại Ấn Độ năm 1958.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Nguyễn Xuân Tiên
|
|
Trong lịch sử mỹ thuật dân tộc, nếu “mỹ thuật Đông Sơn là đỉnh cao thứ nhất”, thuộc về người Việt cổ ở trước công nguyên, thì sau cả chục thế kỷ bị chìm sâu, ẩn mình bởi sự đồng hóa của ngàn năm đô hộ phương Bắc, mỹ thuật Lý-Trần với lối kiến trúc, điêu khắc đồ sộ mang tính cổ điển chân chính là sự “phục hưng văn hóa dân tộc, xác lập đỉnh cao thứ hai, thuộc về người Việt”(2), mang đậm chất Phật giáo, ảnh hưởng của một xã hội quân chủ Phật giáo, với nhiều công trình hợp thể kiến trúc - điêu khắc có qui mô lớn, mang yếu tố hoành tráng.
Điêu khắc truyền thống phát triển rất đa dạng trải qua các thời kỳ phong kiến Việt Nam, với nhiều công trình quy mô lớn, đặc biệt là lĩnh vực Phật giáo. Đó là những công trình kết hợp hài hòa giữa hình dáng kiến trúc đồ sộ và sự điểm xuyến, nhấn nhá của các môtíp điêu khắc tao nhã, huyền ảo, hay những tượng Phật uy nghiêm ở chính điện, những đài tháp cao vút ở sân chùa… Tất cả quyện lại tạo thành một tổng thể hoành tráng có tính tâm linh, huyền bí, mang đậm phong cách Việt Nam - Á Đông.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Hồ Ngọc Liên
|
|
Vào thời Lý - thời đại hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam thì tín ngưỡng Quan Âm đã hiện diện. Hình tượng Quan Thế Âm qua các hệ thống tượng được thờ ở các chùa còn được lưu giữ cho đến ngày nay, phần lớn có niên đại thời Mạc (thế kỷ XVI) - thời kỳ phục hưng của Phật giáo Việt Nam. Đây cũng là giai đoạn xuất hiện những pho tượng Quan Âm đẹp nhất, đặc biệt là những pho tượng “Quan Âm nhiều tay” như “Quan Âm Nam Hải”, “Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn” hay theo dân gian là tượng “nghìn mắt nghìn tay” v.v…
Hiện nay, tại Bảo Tàng Lịch sử Việt Nam – thành phố Hồ Chí Minh có bộ sưu tập tượng Quan Âm bằng gỗ của Việt Nam với nhiều hình tượng khác nhau: “Quan Âm Tống tử”, “Quan Âm tọa sơn”, “Quan Âm nhiều tay”…, trong đó các pho tượng “Quan Âm nhiều tay” là tiêu biểu mà chúng tôi sẽ giới thiệu trong bài viết này:Sưu tập tượng “Quan Âm nhiều tay” bằng gỗ của Việt Nam lưu giữ tại bảo tàng Lịch sử Việt Nam – thành phố Hồ Chí Minh gồm 11 tượng do cơ quan chức năng ở thành phố Hồ Chí Minh thu hồi và chuyển giao cho bảo tàng lưu giữ từ nhiều năm qua(2). Tuy số lượng tượng thuộc loại hình này không nhiều, nhưng đã thể hiện một số nét đặc sắc về phong cách tạc tượng truyềng thống của người Việt.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Văn Học và Nghệ Thuật -
Điêu Khắc Phật Giáo
|
|
Viết bởi Lại Phi Hùng
|
|
Đạo Phật vào nước ta ngay từ những năm đầu công nguyên. Người Việt cổ gặp gỡ Phật ở tinh thần bình đẳng bác ái, cứu khổ, cứu nạn, mặt khác lại bản địa hóa Phật theo tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, để Phật trở về đời sống thực. Vua Lý Nhân Tông (Vua thứ tư thời Lý) đã tích cực truyền bá đạo Phật trong sự kết hợp hài hòa như vậy.
Tháp Sùng Thiện Diên Linh do ông đích thân cho xây dựng (1118-1122) là biểu tượng thiêng liêng về Phật, nhưng ý nghĩa tên gọi của nó lại thể hiện sự sùng ái, cầu mong những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Bên cạnh tháp, ông để lại nhiều di vật, văn vật mang biểu tượng dân gian bản địa, hàm chứa nhiều ý nghĩa vừa sâu xa vừa hiện thực.
Biểu tượng chim: Một di vật ở chùa Đọi gây được sự chú ý của nhiều người là tượng "đầu người mình chim", di sản văn hóa của người Chăm (người Chăm gọi là chim thần Kinari). Tượng có bộ mặt giống con người hiện thực, thể hiện sự trầm tư, vẻ đẹp dịu dàng nhưng lại rất rạng rỡ, phảng phất hình bóng của người Chăm với chiếc khăn quấn đầu rủ từ thái dương xuống vai. Có thể biểu tượng chim thần Kinari được người Chăm lấy từ môtíp chim thần Guruda trong thần thoại Ấn Độ và đã bản địa hóa nó về nội dung, cách tân về nghệ thuật.
|
|
Đọc thêm...
|
|
|
|
|
|
|
Trang 1 của 2 |
|