Home Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền Kinh Tập Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm
29 | 08 | 2008
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Bookmarks
 
 
 
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật Giáo và Đời Sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm PDF. In Email
Các Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Viết bởi Thích Chân Lý   
Chỉ mục bài viết
Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm
Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm - 500 Danh Hiệu
Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm - Hồi Hướng
Tất cả các trang

Quán Thế Âm dịch nghĩa của chữ Avalokitesvara (Trung Hoa phiên âm là A phạ lô chỉ đê thấp phạt la) của chữ Phạm (Ấn Độ) và có nghĩa là vị Bồ Tát quán sát tiếng kêu cầu của chúng sinh trong thế gian, mà độ cho họ được giải thoát. Quán Thế Âm gọi tắt là Quán Âm và còn gọi là Quán Thế Tự Tại, hay Quán Tự Tại.

Xưa kia Ngài là con trai trưởng của vua Vô Tránh Niệm nơi thế giới Xan Đề Lam, tên là Bất Huyến. Ngài đươc thân thừa, cúng dàng đức Phật Bảo Tạng và được thụ ký: sau này sẽ được hiệu là Quán Thế Âm phụ tá bên cạnh đức Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc phương Tây.

Trong một kiếp khác Ngài được đức Phật Quán Thế Âm thụ ký cho danh hiệu là Quán Thế Âm. Trước đấy Ngài đã thành Phật hiệu là “Chính Pháp Minh Như Lai”, song vì bi nguyện độ sinh, Ngài hiện thân Bồ Tát. Sau đây, Ngài sẽ thành Phật hiệu là “Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai” ở cõi “Chúng Bảo Sở Tập Trang Nghiêm”.

Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm

Biên Soạn: Thích Chân Lý

Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội. PL.2550 – DL.2006

(Tái bản lần thứ nhất)

(Kinh này dò theo bổn nhưng có ít nhất là 3 bổn nội dung y nhau, bổn cũ in khoảng hơn 10 năm trước, không ghi nhà xuất bản & tác giả, một bản khác lưu hành ở hải ngoại, soạn giả Thích Tâm Châu và bản thứ 3 mới nhất soạn giả Thích Chân Lý. Chúng tôi so sánh cả 3 bản thì thấy nội dung y như nhau. Nay chúng tôi y quyển mới. Có lẽ cả ba quyển chỉ là 1 soạn giả nhưng HT Tâm Châu, ở hải Ngoại và nằm trong giáo hội Phật Giáo Thống Nhất do vậy, để xuất bản ở Việt Nam, ai đó đã thay đổi tên hoặc xóa tên soạn giả ? Dịch thì có thể trùng nhưng biên soạn mà 100% nội dung y như nhau thì khó có thể xảy ra. Chúng tôi không tìm thấy trong Chánh Tân Tu Đại Tạng có kinh nào cùng tên với kinh này cả. Đây là do soạn giả biên tập Hồng Danh của Ngài Quán Âm từ nhiều kinh khác nhau mà thành.

Cả ba bản nội dung giống nhau nhưng bản do NXB Tôn Giáo HN không có phần lược sử, chúng tôi phụ lục thêm phần lược sử của bản ghi soạn giả Thích Tâm Châu và bản không ghi tên soạn giả. bttdtkvn)

Lược Sử:

Quán Thế Âm là danh hiệu của một vị Bồ Tát.

Quán Thế Âm dịch nghĩa của chữ Avalokitesvara (Trung Hoa phiên âm là A phạ lô chỉ đê thấp phạt la) của chữ Phạm (Ấn Độ) và có nghĩa là vị Bồ Tát quán sát tiếng kêu cầu của chúng sinh trong thế gian, mà độ cho họ được giải thoát. Quán Thế Âm gọi tắt là Quán Âm và còn gọi là Quán Thế Tự Tại, hay Quán Tự Tại.

Xưa kia Ngài là con trai trưởng của vua Vô Tránh Niệm nơi thế giới Xan Đề Lam, tên là Bất Huyến. Ngài đươc thân thừa, cúng dàng đức Phật Bảo Tạng và được thụ ký: sau này sẽ được hiệu là Quán Thế Âm phụ tá bên cạnh đức Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc phương Tây.

Trong một kiếp khác Ngài được đức Phật Quán Thế Âm thụ ký cho danh hiệu là Quán Thế Âm. Trước đấy Ngài đã thành Phật hiệu là “Chính Pháp Minh Như Lai”, song vì bi nguyện độ sinh, Ngài hiện thân Bồ Tát. Sau đây, Ngài sẽ thành Phật hiệu là “Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai” ở cõi “Chúng Bảo Sở Tập Trang Nghiêm”.

Hiện nay tại Việt Nam cũng như tại các nước thuộc Đại Thừa giáo đều tôn thờ và truyền bá đạo chỉ của Ngài. Hằng năm tại Việt Nam còn lấy ngày 19 tháng 02, 19 tháng 06 và 19 tháng 09 âm lịch làm những ngày kỷ niệm Ngài.

“Chí tâm niệm danh hiệu Ta, cùng chuyên niệm danh hiệu Bản sư A Di Đà Như Lai, sau tụng kinh chú đủ 5 lượt một đêm, trừ diệt được trăm nghìn vạn ức kiếp sinh tử trọng tội, hiện tại cầu gì được nấy, khi sắp mất được chư Phật tới đón và muốn sinh sang cõi Phật nào đều được tùy nguyện…” Lời Đức Quán Âm (Lược trích trong kinh Thiên thủ)

Nghi Thức Lễ Tụng:

Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn:

Úm lam tóa ha. (3 lần)

Tịnh Khẩu Nghiệp Chân Ngôn

Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị Ta bà ha. (3 lần)

Tịnh Tam Nghiêp Chân Ngôn:

Úm sa phạ bà phạ, truật đà sa phạ, đạt ma sa phạ, bà phạ, truật độ hám. (3 lần)

Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn:

Úm ma ni bát minh hồng. (3 lần)

Nam mô Thập phương Thường trụ Tam bảo. (3 lần)

(đại chúng đồng quỳ, vị sám chủ đọc)

Vịnh:

Trí tuệ hoằng thâm đại biện tài,

Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai.

Tường quang thước phá thiên sinh bệnh,

Cam lộ năng khuynh vạn kiếp tai.

Thúy liễu phất khai kim thế giới,

Hồng liên dũng xuất ngọc lâu đài.

Ngã kim khể thủ phần huơng tán,

Nguyện hướng nhân gian ứng hiện lai.

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần) 000

Cung Văn

Viên Thông Giáo Chủ, mãn nguyệt kim dung, thị Di Đà Ư Cực Lạc quốc trung, trợ Thích Ca Ư Sa Bà giới nội; Cư Lưu Ly chúng bảo chi sơn, xử thiên diệp hồng liên chi tọa. Quá khứ Chính Pháp Minh, hiện tiền Quán Tự Tại, tam thập nhị ứng, quảng độ quần sinh, thất nạn nhị cầu, đa phương ứng vật. Thù thắng diệu lực, tán mạc năng cùng, ngưỡng khấu hồng từ, phủ chương động giám. 0

Kim thời phụng vị kiến đàn... (tên người lập lễ sám) đồng chư nhân đẳng, bẩm Phật di huấn, kiến đàn Tỷ Khưu... (tên hiệu vị Tăng chủ lễ) kị lĩnh thập phương sĩ thứ nhân đẳng, thỉnh mệnh Tăng chúng, tựu vu tinh lam,... (hay là gia xứ) tu lễ Quán Âm phổ phúc đạo tràng.

Thượng lai khải kiến chi sơ,

Cẩn phần tín hương, cung thỉnh Bồ tát,

Thùy dương liễu nhi biến sái cam lộ,

Trừ nhiệt não dĩ giai đắc thanh lương;

Tầm thanh cứu khổ ư tứ sinh,

Thuyết pháp độ thoát ư lục đạo;

Bẩm từ bi kiên cố chi tâm,

Cụ tự tại đoan nghiêm chi tướng,

Hữu cầu giai ứng, vô nguyện bất tòng.

Cố ngã truy lưu, đoan bỉnh tịnh quán,

Thành tụng mật ngôn, gia trì pháp thủy.

Thị thủy giả: phương viên tùy khí,

Doanh hư nhậm thời, xuân phán đông ngưng,

Khảm lưu cấn chỉ; hạo hạo hồ diệu nguyên mạc trắc,

Thao thao hồ linh phái nan cùng,

Bích giản tàng long, hàn đàm tẩm nguyệt;

Hoặc tại quân vương long bút hạ, tán tác ân ba,

Hoặc cư Bồ tát liễu chi đầu, sái vi cam lộ,

Nhất trích tài triêm, thập phương câu tịnh. 000

(Đại chúng cùng đọc):

Bồ tát liễu đầu cam lộ thủy,

Năng linh nhất trích biến thập phương.

Tinh triên cấu uế tận quyên trừ,

Linh thử đàn tràng tất thanh tịnh: (thần chú nên đọc nhỏ và đều)

Úm, nại ma ba cát ngõa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nễ, thực chấp đạp, điệp tả ra tể giã, đát tháp nghiệt đạt giã, a ra ha đế, tam dược tam bất đạt giã, đát nễ giã tháp. Úm, tát rị ba, tang tư cát rị, bát rị thuật đạp, đạt ra mã đế, nghiệt nghiệt nại tang, mã ngột nghiệt đế, sa ba ngõa tỷ thuật đế, mã hát nại giã, bát rị ngõa rị sa hát. 0

Tán Dương chi

Dương chi Tịnh thủy,

Biến sái Tam thiên.

Tính không bát đức lợi nhân thiên;

Pháp giới quảng tăng diên,

Diệt tội tiêu khiên, hỏa diệm hóa hồng liên.

Nam mô Thanh lương địa Bồ tát ma ha tát. (3 lần) 000

(Nghiêm tịnh đạo tràng xong, đại chúng quỳ thẳng, vị chủ lễ niệm hương và đọc bài tán hương):

Ngũ phận chân hương phức,

Thất giác diệu hoa nghiêm;

Lưu chú tứ biện hà,

Xưng dương Tam bảo hải.

Khuynh ngã thân, khẩu, ý,

Cung bỉ Phật, Pháp, Tăng

Đại tác quang minh vân,

Phổ lợi vô cùng cực.

(Đại chúng đồng họa):

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần) 000

(Chủ lễ chắp tay đọc bài kỳ nguyện):

Nam mô thường trụ Phật.

Nam mô thường trụ Pháp.

Nam mô thường trụ Tăng.

Nam mô Quán thế âm Bồ tát Ma ha tát: Đại bi, Đại danh xưng, cứu hộ khổ ách giả. 0

Ư kim đệ tử (đẳng)... (1)

Thành tâm tụng kinh chú;

Cầu an tăng phúc tuệ (2),

Đại vị Phật tử (mỗ... ) (3)

Nguyên cứu ngã khổ ách,

Đại bi phú nhất thiết;

Phổ phóng tịnh quang minh,

Diệt trừ si ám minh.

Vị miễn độc hại khổ,

Phiền não cập chúng bệnh;

Tất lai chí ngã sở,

Thí ngã đại an lạc.

Ngã kim khể thủ lễ:

Văn danh Cứu ách giả.

Ngã kim tự quy y:

Thế gian Từ bi phụ.

Duy nguyện tất định lai,

Miễn ngã tam độc khổ;

Thí ngã kim thế lạc,

Cập dữ Đại Niết Bàn.

Nguyện tam giới chúng sinh,

Giải thoát chư khổ não;

Hữu tình dữ vô tình,

Giai cộng thành Phật đạo. 000

(Đại chúng cùng đọc bài tán dương tam nghiệp):

Chừng ngưng khai thúy song liên mục,

Thanh cám phân loan sơ nguyệt my.

Đỉnh bội viên minh kim sắc hoảng,

Cảnh bàn gian quải châu anh lạc.

Hạm đạm hồng liên ngưng thiệt tướng,

Tần bà đan quả diệm thần đoan.

Uy nghi tướng nhược tượng vương hình,

Thuyết pháp thanh đồng sư tử hống.

Phó cảm ứng cơ vô tạm tức,

Tầm thanh cứu khổ vị tằng hưu.

Tam không, không quán, quán không không,

Tứ đẳng trụ tâm tâm đẳng đẳng. 0

(Chủ lễ bạch bài tán lễ):

Phục Dĩ:

Viên Thông Giáo Chủ, Chính Pháp Đạo Sư, cư Thiên trúc, trụ Bổ Đà, hiện Tăng già, hóa Đạt Ma, biến Thiên thủ nhãn, cụ lục thần thông. My hoành tân nguyệt loan loan, mục động lưu tinh sán sán; thúy phát bố tam xuân chi liễu, hồng nhan khai cửu hạ chi liên. Hà y quải lục thù, hoa quan trang thất bảo. Tầm thanh nhi cứu khổ cứu nạn, phát nguyện nhi lợi vật lợi nhân. Cúng dàng giả phúc đẳng Hà sa, tán lễ giả tội tiêu trần kiếp. Chứng minh thử công đức, viên mãn chư nguyện tâm, chúng đẳng kiền thành, nhất tâm đỉnh lễ. 000

(Xá 3 xá, đại chúng đứng dậy, vị chủ lễ xướng lễ đại chúng đồng họa):

Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam bảo. (1 lễ) 0

Nam mô Sa bà Giáo chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Cực Lạc Giáo chủ A Di Đà Phật, Đương lai Giáo chủ Di Lặc Tôn Phật. (1 lễ) 0