21 | 11 | 2008
Kinh Bách Dụ PDF. In Email
Các Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền - Tạng Bổn Duyên
Viết bởi Thích Nữ Như Huyền   
Chỉ mục bài viết
Kinh Bách Dụ
Kinh Thí Dụ phần 2
Tất cả các trang

Bộ kinh Bách Dụ gồm 98 bài thí dụ của Phật nói do Ngài Pháp Sư Tăng Già Tư Na sao lục trong kinh tạng. Hai thí dụ rốt sau: "Thuốc hay hòa trong đường phèn", "Dùng lá gói thuốc A Dà Ðà" là của Pháp Sư tự soạn, để tổng dụ cho diệu lý đủ trong những thí dụ trên. Một đời thuyết giáo trong bốn mươi chín năm, tùy theo căn cơ chúng sanh sai khác, Ðức Phật nói ra vô lượng Pháp môn không đồng. Khi nói thấp, khi nói cao, từ dễ lần đến khó, đem gần tỉ dụ xa. Chung qui chỉ hướng về một mục đích duy nhất là làm cho chúng sanh tự giác ngộ bản tánh sáng suốt của mình.

Trong kinh Bách Dụ, Phật đã dùng những chuyện xưa để thí dụ cụ thể sự dại dột mê lầm chung của chúng ta. Nếu chúng ta biết trừ bỏ mê lầm ở đâu thì Niết bàn sẽ thực hiện ở đấy. Chúng tôi nhận thấy những mẫu chuyện thí dụ đây, có thể thông dụng trong các tầng lớp quần chúng, ai cũng có thể hiểu một cách dễ dàng, vì chuyện rất vui, có kỹ thuật hấp dẫn, rất hữu ích cho mọi người, nên tôi không nệ tài hèn, đức bạc phiên dịch ra tiếng Việt để cống hiến đọc giả một tác phẩm của Phật giáo có giá trị giáo dục cho tăng đồ và cho cư sĩ.

Bách Dụ Kinh, Chánh Tân Tu Đại Tạng, tập thứ 04, bộ Bổn Duyên, số hiệu 0209, gồm bốn quyển, nếu phân ra nên nằm trong Kinh Thí Dụ.

Kinh Bách Dụ

Dịch giả: Thích Nữ Như Huyền

Chùa Hải Tuệ 25/1B, sau chợ Trương Minh giảng – Sài Gòn.

Trưởng ban ấn tống

Mục Lục

Tựa

Lời nói đầu

Lời đầu quyển

1. Người ngu ăn muối

2. Ðể dành sữa

3. Khoanh tay chịu đòn

4. Giả chết dối chồng

5. Khát không uống nước

6. Giết con thành gánh

7. Nhận người làm anh

8. Trộm áo nhà vua

9. Kẻ ngốc khen cha

10. Phú ông cất lầu

11. Bà La Môn giết con

12. Quạt nước đường

13. Sự thật chứng minh

14. Giết kẻ dẫn đường

15. Muốn con mau lớn

16. Tưới mía bằng nước mía

17. Vì nhỏ mất lớn

18. Trên lầu mài dao

19. Ghi dấu trên thuyền để tìm đồ rơi xuống bể

20. Trả thịt

21. Cầu con

22. Bán trầm hương

23. Trộm mền

24. Gieo mè

25. Nước và lửa

26. Bắt chước vua

27. Trị vết thương

28. Xẻo mũi

29. Ðốt áo

30. Nuôi dê

31. Mua lừa

32. Trôm vàng

33. Chặt cây tìm trái

34. Thâu ngắn đường đi

35. Thấy bóng trong gương

36. Lầm móc con mắt

37. Giết trâu

38. Bảo nước đừng chảy

39. Sơn tường

40. Người sói đầu tìm thuốc

41. Hai con quỷ tranh vặt

42. Che da lạc đà

43. Mài đá

44. Ăn bánh

45. Giữ của

46. Ăn trộm trâu

47. Giả tiếng oan ương

48. Chó và cây

49. Vị tiên lầm lộn

50. Sửa lưng gù

51. Người tớ gái

52. Trò vui giả dối

53. Lão sư bị hành hạ

54. Ðầu rắn và đuôi rắn tranh cãi

55. Cạo râu vua

56. Cái không có

57. Bị đạp rụng răng

58. Chia của

59. Xem làm bình

60. Thấy vàng dưới nước

61. Tạo hình người

62. Ăn thịt gà

63. Chạy trốn

64. Quỷ trong nhà cũ

65. Ăn bánh độc

66. Chết chìm

67. Ðánh cuộc

68. Hại người thành hại mình

69. Tổ truyền ăn mau

70. Nếm trái tần bà

71. Ðui mắt

72. Sưng môi

73. Ngựa đen đuôi trắng

74. Mang bồn tắm

75. Giết lạc đà

76. Nông phu mơ tưởng công chúa

77. Tìm sữa

78. Ði không về rồi

79. Gánh ghế cho vua

80. Uống thuốc nước rửa ruột

81. Không nên vu oan cho người hiền đức

82. Gieo lúa

83. Khỉ bị đánh

84. Nguyệt thực

85. Ðau mắt

86. Vì của giết con

87. Bọn cướp chia của

88. Khỉ mất đậu

89. Chuột vàng và rắn độc

90. Lượm được tiền

91. Người nghèo

92. Ðứa nhỏ được đường

93. Bà già đánh cọp

94. Hiểu lầm

95. Hai con hạc

96. Giả mù

97. Cướp áo lông dê

98. Ðứa nhỏ bắt rùa

Lời cuối quyển

Tựa

Không may được thừa sự thọ pháp nhưng mộ đạo sẳn lòng, tôi hằng chuyên tâm xem kinh nghe giảng, thường lui tới tịnh đường. Thiện chí thuận duyên khiến một hôm tôi được thầy Thiện Hòa giới thiệu một bộ kinh có tác dụng phổ thông Phật pháp bằng phương pháp tỷ dụ, chính là kinh Bách Dụ. Thầy Thiện Hòa ngỏ ý muốn kinh này được phiên dịch, vì tin tưởng chắc chắn là sẽ có ích lợi nhiều cho người tu học, dầu là cư sĩ hay người xuất gia, cũng như cho người còn xa lạ đối với Phật giáo. Riêng tôi, tôi trộm thấy kinh Bách Dụ đối với Phật giáo có tính cách và công dụng cũng như sách Cổ Học Tinh Hoa của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, đối với Nho Giáo. Kinh Bách Dụ gồm một trăm câu chuyện ngụ ngôn ngộ nghỉnh, có khôi hài, có bi thảm, khi cạn thấp, khi cao sâu, do Ðức Phật kể ra, dạy về giáo lý và giáo pháp cho tăng đồ và hội chúng. Ngoại trừ giá trị hiển nhiên về Phật giáo, những chuyện ngụ ngôn ấy còn có tác dụng giáo dục nói chung, có thể giúp cho người đọc, bất luận ở Tôn giáo nào, thuộc cấp bực nào, với học lực nào, dễ bề tu trau dồi đức tánh, theo chánh bỏ tà, làm lành lánh dữ, thương vật, yêu đời. Tôi chưa hết tiếc vì thiếu tài đức để phổ biến bộ kinh quí giá ấy, bỗng may gặp sư cô Như Huyền sẵn thiện chí thành tâm, gánh lấy công việc phiên dịch. Tôi lấy làm vui mừng, thấy sư cô gia tâm trì chí, phiên dịch từ cốt chuyện đến lời bàn một cách trung thành. Vậy tôi dám mong quyển kinh Bách Dụ này đạt được mục đích giáo lý và luân lý của Ðức Phật khuyến dụ từ xưa.

Thuần Phong

Sài gòn, 24 tháng 12 năm 1957.

Lời nói đầu

Bộ kinh Bách Dụ gồm 98 bài thí dụ của Phật nói do Ngài Pháp Sư Tăng Già Tư Na sao lục trong kinh tạng. Hai thí dụ rốt sau: "Thuốc hay hòa trong đường phèn", "Dùng lá gói thuốc A Dà Ðà" là của Pháp Sư tự soạn, để tổng dụ cho diệu lý đủ trong những thí dụ trên. Một đời thuyết giáo trong bốn mươi chín năm, tùy theo căn cơ chúng sanh sai khác, Ðức Phật nói ra vô lượng Pháp môn không đồng. Khi nói thấp, khi nói cao, từ dễ lần đến khó, đem gần tỉ dụ xa. Chung qui chỉ hướng về một mục đích duy nhất là làm cho chúng sanh tự giác ngộ bản tánh sáng suốt của mình. Trong kinh Bách Dụ, Phật đã dùng những chuyện xưa để thí dụ cụ thể sự dại dột mê lầm chung của chúng ta. Nếu chúng ta biết trừ bỏ mê lầm ở đâu thì Niết bàn sẽ thực hiện ở đấy. Chúng tôi nhận thấy những mẫu chuyện thí dụ đây, có thể thông dụng trong các tầng lớp quần chúng, ai cũng có thể hiểu một cách dễ dàng, vì chuyện rất vui, có kỹ thuật hấp dẫn, rất hữu ích cho mọi người, nên tôi không nệ tài hèn, đức bạc phiên dịch ra tiếng Việt để cống hiến đọc giả một tác phẩm của Phật giáo có giá trị giáo dục cho tăng đồ và cho cư sĩ. Nếu có chỗ nào khuyết điểm, cúi mong quí Ngài từ bi chỉ giáo, chúng tôi xin muôn phần cảm tạ.

Thích nữ Như Huyền

Lời đầu quyển

Một ngày kia, đức Phật ở thành Vương Xá, trong vườn Thước Phong Trúc, cùng với các vị đại Tỳ kheo, Bồ tát ma ha tát, và Thiên long bát bộ ba vạn sáu ngàn người chung hợp.

Bấy giờ trong chúng hội có 50 vị học phạm, liền từ tòa đứng dậy bạch Phật rằng:

- Bạch ngài, tôi nghe Phật đạo sâu xa, không đạo nào sánh kịp, cho nên lại đây hỏi đạo, xin ngài vui lòng nói cho.

- Rất hay ! ngươi cứ hỏi.

- Bạch ngài, nhân sanh có hay không?

- Cũng có cũng không.

- Bạch ngài, như nay thấy có, làm sao nói không?

Như nay không thấy, làm sao nói có?

- Sanh cho nên có, tử cho nên không.

- Bạch ngài, người từ đâu sanh?

- Người từ lúa sanh.

- Bạch ngài, năm giống lúa từ đâu sanh?

- Từ bốn đại: nước, lửa, gió, đất v.v... sanh.

- Bạch ngài, bốn đại: đất, nước, lửa, gió v.v... từ đâu sanh?

- Từ hư không sanh.

- Bạch ngài, hư không từ đâu sanh?

- Từ vô sở hữu sanh.

- Bạch ngài, vô sở hữu từ đâu sanh?

- Từ tự nhiên sanh.

- Bạch ngài, tự nhiên từ đâu sanh?

- Từ nê hoàn sanh.

- Bạch ngài, nê hoàn từ đâu sanh?

- Những điều ngươi hỏi hôm nay, muốn đi sâu tới mức nào nữa? Nê hoàn là pháp không sanh, không diệt.

- Bạch ngài, Phật đã nhập nê hoàn chưa?

- Ta chưa nhập nê hoàn.

- Bạch ngài, nếu Phật chưa nhập nê hoàn làm sao biết nê hoàn thường vui?

- Ta hỏi ngươi, chúng sanh trong thiên hạ khổ hay vui?

- Bạch ngài, chúng sanh rất khổ.

- Thế nào gọi rằng khổ?

- Bạch ngài, tôi thấy chúng sanh khi chết đau khổ, không thể chịu được, cho nên biết rằng chết là khổ.

- Ngươi nay chưa chết mà cũng biết chết là khổ. Ta thấy mười phương chư Phật không sanh, không tử cho nên biết nê hoàn thường vui.

Liền khi đó năm trăm vị Phạm Chí giác ngộ, xin thọ năm giới, chứng quả Tu Đà Hoàn, trở lại tòa ngồi như cũ.

Phật bảo các ông hãy chăm chú nghe. Nay ta sẽ vì các ông nói các thí dụ...

Kinh Bách Dụ

1. Người Ngu Ăn Muối

Thuở xưa, có một người ngu đến nhà bạn thăm, chủ nhà mời ở lại dùng bữa cơm đạm bạc. Chàng chê canh lạt không ngon. Chủ nhà bèn thêm một chút muối, chàng ăn cảm thấy ngon lành.

Chàng tự nghĩ:

Canh ngon là nhờ muối thêm vào, dùng ít còn vậy, nếu dùng nhiều chắc chắn ngon đặc biệt.

Thế rồi, chàng xin chủ nhà một chén muối bỏ trong miệng nuốt hết! Vì chất muối mặn kinh hồn, chàng cảm thấy gần như sắp chết, bèn vội vàng móc họng cho mửa muối ra.

Chuyện này tỉ dụ: Phàm người tu hành phải tiết chế sự ăn uống cho vừa phải, biết đủ muốn vừa, thì đối với thân thể và sự tu hành đều có ích lợi. Nhưng có bọn ngoại đạo sai lạc tuyên truyền, uốn cong thành ngay quá mức, đề xướng lên thuyết không cần ăn uống, nhận cho là phương pháp có thể đắc đạo. Do đây có người đoạn thực bảy ngày, mười lăm ngày, kết quả là ảnh hưởng đến thân thể đói khát mà chết, và đối với công hạnh không có một điểm lợi ích; đó chỉ là hành động sai lầm.

Người hành pháp như thế cùng người ăn muối kia đều là cử động ngu xuẩn đáng chê cười cả.

2. Ðể Dành Sữa

Thuở xưa, có một người dự định tháng sau đãi khách, cần có số nhiều sữa bò, do đó phải dự trù trước đến lúc ấy mới khỏi thiếu hụt.

Người kia tự nghĩ:

Mỗi ngày mình nặn sữa để dành, cần phải có cái thùng cây rất lớn; xét kỹ ra sữa để trong thùng cây lâu ngày dễ bị hư hoại, chi bằng để trong vú bò, đến ngày đãi khách hãy nặn ra một thể, đã ít tốn công lại được sữa mới, chẳng phải đó là phương pháp tuyệt diệu ư?

Thế rồi chàng dắt bò mẹ nhốt riêng, bò nghé nhốt riêng chỗ khác, và không nặn sữa mỗi ngày.

Qua tháng sau đến ngày đãi khách, chàng dắt bò mẹ ra nặn lấy sữa tươi đãi khách, nhưng dùng hết sức nặn mà một giọt cũng không có, làm cho khách dự tiệc không thể nín cười.

Chuyện này tỉ dụ: Người muốn làm hạnh bố thí mà đợi đến khi nhiều tiền mới làm việc cứu giúp kẻ khốn cùng. Nghĩ thế rất lầm. Chúng ta phải nên tranh thủ thời gian kịp thời làm hạnh bố thí, chẳng vậy thì cùng với người ngu để dành sữa trong vú bò không khác.

3. Khoanh Tay Chịu Đòn

Thuở xưa, có một anh ngốc sói đầu; ngày nọ có người thấy đầu anh không có tóc bèn dùng trái lê đánh lên, đầu anh bị đánh nhiều lần, máu ra lênh láng.

Tuy bị đánh, anh ngốc vẫn đứng im lặng chịu đòn, không kháng cự, không trốn tránh.

Bấy giờ có người thấy thế trong lòng bất nhẫn liền bảo anh rằng:

Vì sao anh cứ đứng trơ ra mà chịu đánh? Nếu không đánh lại, thì nên tránh đi mới phải. Kìa xem, đầu anh đầy cả máu không sợ đau à?

Anh ngốc đáp rằng:

Ôi! Người ngu này rất xấc láo, nó không hiểu gì cả. Vì thấy đầu ta không tóc, nó tưởng là viên đá xinh xắn mới tùy tiện dùng trái lê đánh lên, không biết đó là đầu ta. Nó đánh ta đến nỗi máu ra lênh láng. Ông ơi! Ðối với hạng người vô trí thức ấy, ta chẳng biết tính làm sao được.

Người kia nghe rồi rất giận, liền mắng trách anh ngốc rằng:

Anh thật là đáng thương, người ta đánh đến nỗi đầu bị thương, máu ra dường ấy, mà vẫn đứng chưn không lay động, như thế chẳng phải ngu si chứ là gì?

Chuyện này tỉ dụ: Có một số ít các vị Tỳ kheo, không thể chân thật giữ giới, tu định, học huệ, chỉ gò ép oai nghi bên ngoài để mong được người cúng dường cung kính. Kết quả tự mình chịu khổ vô cùng.

Bậc tu hành thế này và người ngốc kia đều là hạng ngu si cả.

4. Giả Chết Dối Chồng

Thuở xưa, có anh chàng cưới người vợ rất đẹp, nhưng tánh tình không được đứng đắn, chàng thương yêu vợ vô cùng; nhưng trái lại nàng chẳng yêu chàng, vì thế mà nàng có tình nhân khác, thường có ý muốn bỏ chồng để kết duyên với người nàng thích.

Thừa dịp chồng đi vắng, nàng tìm một bà già rồi kín đáo dặn rằng:

Sau khi tôi đi khỏi nhà, xin bà tìm thây một cô gái khác để vào đây, chông tôi có trở về, bà cho chàng biết là tôi đã chết.

Bà già đã làm y như lời nàng dặn.

Khi trở về nhà, người chồng nghe thấy tin thật rất buồn rầu, đau đớn, kề bên thi hài khóc lóc rất lâu, rồi mới đem thi hài người con gái ấy hỏa táng, đem tro xương đựng trong cái đãy, ngày đêm mang theo mình để kỷ niệm mảnh tình quá khứ.

Còn vợ chàng lúc ấy đã kết duyên cầm sắt với tình nhân.

Nhưng trải qua nhiều ngày, biết được tình nhân đã nhàm chán, phụ rẫy nàng, lòng nàng lại tưởng nhớ đến người chồng cũ, bèn vội vã trở về thưa với chàng rằng:

Tôi là vợ chàng, nay đã trở về.

Người chồng bảo:

Vợ tôi chết đã lâu! Cô là ai đến đây nói dối là vợ tôi để làm gì?

Mặc dù nàng biện bạch đôi ba phen, yêu cầu chàng thừa nhận, nhưng chàng quyết tin chắc vợ chàng đã chết, nên không nhận nàng là vợ.

Chuyện này tỉ dụ: Người đã bị thành kiến làm chủ rồi, thì rất khó cãi đổi. Như bọn ngoại đạo nghe lời ngụy tà, tâm sanh mê hoặc, chấp trước cho là chân thật, vĩnh viễn không thể hoán cãi hồi tâm, dù nghe giáo pháp chân chánh cũng không chịu tin tưởng thọ trì.

5. Khát Không Uống Nước

Thuở xưa, có một người đi đường rất khát nước, muốn tìm nước uống để giải khát. Xem thấy sương mù tận đằng xa, y tưởng là nước. Sau lại kiếm đông, tìm tây, gặp được giòng sông nước trong leo lẻo, chảy thao thao không ngừng, anh chỉ đứng xem mà không chịu uống.

Có người thấy thế lấy làm quái lạ, hỏi rằng:

Anh vì khát đi tìm nước để uống, hiện tại tìm được nước rồi, tại sao không uống?

Anh trả lời phi thường quái lạ:

Nước nhiều như thế này, anh uống hết được không? Tự xét thấy, uống hết được tôi mới uống. Ðã biết uống không sao uống hết được, nên tôi không uống, có thế thôi.

Ai nấy nghe xong đều chê cười anh.

Chuyện này tỉ dụ: Có một ít người lý luận bướng bỉnh, chấp chặt chỗ kiến giải của mình, không gần được chân lý, cho là giới luật của Phật dạy rất rộng lớn, nghiêm ngặt một thời không thể toàn bộ thọ trì, bèn bỏ không thọ. Do đấy, họ cứ y nhiên trôi lăn trong vòng sanh tử chịu khổ vô cùng, trọn đời không có hy vọng đắc đạo. Hành động như vậy thật đáng chê cười mà cũng đáng thương xót.

6. Giết Con Thành Gánh

Thuở xưa, có người nuôi bảy đứa con, trong số ấy có một đứa chết, anh để thi hài trong nhà rồi tự mình và cả gia đình bỏ nhà đi nơi khác. Người láng giềng thấy thế hỏi rằng:

Sao anh không đem đứa con đã chết của anh ra ngoài mai táng, lại bỏ nhà đem nhau đi ra ngoài? Hành vi như thế rất là dại dột.

Anh nghe xong, trả lời:

Người chết phải đem ra ngoài mai táng, đúng hay sai chẳng cần, vậy có thể bảo cho tôi biết phải làm cách nào không? Than ôi! Chỉ có cách là giết thêm một đứa nữa, mới có thể thành gánh, gánh đi chôn. Kết quả là anh giết một đứa con nữa để cùng đứa con đã chết, rồi chất thành một gánh, gánh lên chôn trên núi cao.

Chuyện này tỉ dụ: Tỳ kheo phạm một điều giới luật, không chịu sám hối, ăn năn, trở lại muốn tìm cách che giấu sự thật, làm bộ như người trì giới thanh tịnh tranh nghiêm.

Người khác thấy thế, vạch bày chỉ trích:

Người xuất gia giữ giới phải như giữ gìn ngọc minh châu, tại sao đã tái phạm mà không chịu sám hối?

Tỳ kheo ấy cứ ngang nhiên làm nhiều việc ác, phá giới để rồi sám hối một lúc cho tiện luôn. Tỳ kheo phá giới như thế cùng với người giết con thành gánh kia đều là hạng ngu xuẩn vô trí cả.

7. Nhận Người Làm Anh

Thuở xưa, có người nhà rất giàu, cử chỉ đứng đắn lại thông minh, vì thế kẻ xa người gần đều thán phục, ái mộ. Bấy giờ có một người đến nhận làm anh mình, thường thuờng qua lại thân thích phi thường. Chàng này nhận người nhà giàu làm anh để chi thế? Mục đích chỉ vì muốn lợi dụng tiền bạc.

Sau đó, người nhà giàu kia sa sút khôn cùng, vỡ nợ, chàng ta trở mặt lãnh đạm và nói thẳng với người nhà giàu kia rằng:

Ngươi không phải là anh ta.

Chuyện này tỉ dụ: Có bọn ngoại đạo lợi dụng và trộm cắp một bộ phận ngụ ngôn, phương pháp và nghi thức của Phật pháp, đem làm giáo pháp của bọn họ thường dùng. Nhưng hoàn toàn không có thật tâm tin tưởng, phụng trì, chỉ muốn ngăn che âm mưu tội ác của bọn họ, tuy thế giáo pháp của Phật không bao giờ bị bọn lừa đảo lợi dụng.

8. Trộm Áo Nhà Vua

Thuở xưa, có người nhà quê, lẻn vào kho áo của vua lấy trộm một bộ y phục, rồi lén chạy đến một phương xa. Sau khi vụ mất trộm bị phát giác, nhà vua bèn phái nhiều binh lính đến các nơi tra tìm, cuối cùng bắt được tên ăn trộm đưa về tòa án. Khi bị thẩm vấn, y không thừa nhận y phục này là đã lấy trộm của vua, còn nói là di sản của tổ phụ lưu truyền lại. Vua mới bảo y lấy y phục ấy mặc thử.

Y không biết cách mặc, đem món đáng mặc trên cánh tay mà mặc dưới chân, đem món đáng mặc ngang lưng bụng mà mặc lên trên đầu.

Vua thấy thế phán rằng:

Ngươi mặc lộn như vậy, chứng tỏ y phục đây chẳng phải của tổ phụ ngươi lưu truyền. Huống nữa y phục này là của vua và các quan mặc, tổ phụ ngươi làm gì có thứ này?

Tên ăn trộm cứng họng, không thể trả lời được, đành phải cúi đầu thừa nhận.

Chuyện này tỉ dụ: Ngoại đạo ăn trộm giáo nghĩa của Phật pháp làm của mình; nhưng vì không hiểu rõ chân nghĩa Phật pháp; ăn trộm rồi để đó chứ không dùng được chuyện gì, chỉ được cái điên đảo tạp nhạp không thứ tự, lớp lang. Kết quả không khỏi bộc lộ bản chất của bọn họ.

9. Kẻ Ngốc Khen Cha

Thuở xưa, có một người hay khen ngợi đức hạnh của cha mình trước mặt nhiều người khác: Nào là cha anh lòng rất nhân từ, không bao giờ làm tổn hại ai cả, nào là cha anh không bao giờ cướp giựt, lừa gạt tài vật của ai, nào là đối đãi với mọi người rất công bình chánh trực, không bao giờ nói dối mà lại hay giúp đỡ người trong khi nguy khốn v.v...

Lúc ấy có một người ngu thấy thế tự nghĩ: "Mình cũng nên khen cha mình một phen".

Nghĩ xong, anh bèn nói:

Ðức hạnh của cha tôi còn hơn đức hạnh phụ thân ông!

Người chung quanh bèn hỏi:

Ðức hạnh ông thân anh như thế nào?

Người ngu liền đáp:

Cha tôi từ nhỏ tuyệt đường dâm dục, chẳng hề biết gì về việc ấy.

Ai nấy nghe cũng đều bật cười mà nói: Nếu quả thật cha anh từ nhỏ đoạn dục thì làm sao sanh được anh? Nghe hỏi anh nọ đừ người ra chẳng biết phải trả lời làm sao.

Chuyện này tỉ dụ: Khen chỗ tốt của người cần phải phù hợp với thực tế. Nếu cố bịa lời khen giả dối, chẳng những không hiệu quả gì, mà lại làm cho người khinh bỉ. Do đó trong năm giới của Phật giáo cấm vọng ngữ là một.

10. Phú Ông Cất Lầu

Thuở xưa, có một người nhà giàu rất ngu si, không biết việc gì cả. Một hôm chàng đi đến nhà một phú ông khác, đó là một nhà lầu ba tầng, xinh đẹp không đâu bằng, lòng chàng rất ham thích và tự nghĩ:

Tiền của ta ít hơn người này, nhưng lẽ nào không cất được 1 trong 3 tầng ấy sao?

Ðoạn chàng về nhà liền cho mời một nhà kiến trúc đến hỏi rằng:

Ông có thể cất lầu ba tầng không?

Nhà kiến trúc đáp:

Ðược, tôi đã làm nhiều nơi rồi.

Chàng nói:

Tốt lắm, ông nên làm ngay cho tôi một tòa lầu ba tầng, giống như của bạn tôi.

Nhà kiến trúc đem công nhân khởi sự ban đất, đắp nền, xây đá, lên tường.

Cách ít hôm, anh chàng nhà giàu đến xem xét, không thấy tầng lầu thứ ba, bèn hỏi nhà kiến trúc:

Hiện tại ông đang là gì đó?

Nhà kiến trúc trả lời:

Tôi làm nhà lầu ba tầng cho ông đây.

Chàng lại hỏi:

Tại sao cất tầng lầu ba mà lo xây tầng dưới, không chịu cất nội tầng trên cho tôi?

Nhà kiến trúc trả lời:

Phải cất từ tầng dưới lên, không cất hai tầng dưới làm sao có thể cất được tầng thứ ba? Không suy nghĩ kỹ, lập tức chàng ngăn rằng:

Không, không, tôi không cần làm hai tầng dưới, tôi chỉ muốn làm nội tầng thứ ba thôi, ông nên làm cho tôi một tầng chót trên cho mau chóng. Nhà kiến trúc nghe xong cười to, đôi ba phen giảng rõ cho chàng nghe, nhưng chàng quá cố chấp, kiên quyết yêu cầu nhà kiến trúc chỉ làm tầng thứ ba.

Nhà kiến trúc không có cách gì làm cho chàng hiểu rõ được, đành phải đình công việc cất nhà.

Chuyện này tỉ dụ: Ðệ tử của Phật không chịu cung kính thừa sự Tam bảo, thiết thật tu: "giới, định, huệ" nền tảng tam học khởi tu, chỉ giãi đãi, biếng nhác, tưởng lầm là không cần phải trải qua tam quả: Sơ quả Tu Ðà Hoàn, nhị quả Tu Ðà Hàm, tam quả A Na Hàm, mà muốn lập tức chứng quả thứ tư là quả A La Hán, đệ tử ấy cùng với phú ông muốn cất tầng thứ ba đều là hạng ngu si không tưởng!

11. Bà La Môn Giết Con

Thuở xưa, có một phái ngoại đạo kêu là Bà La Môn, trong bọn họ có một người tự xưng là có thể biết được quá khứ vị lai, đối với các học vấn diễn nói trôi chảy không sợ sệt. Chàng muốn phô trương bản lãnh của mình, bèn đi đến địa phương khác, trước mặt mọi người ôm con khóc lóc thảm thiết.

Có người hỏi:

Tại sao anh khóc nhiều thế?

Chàng trả lời:

Con tôi trong bảy ngày nữa sẽ chết, vì thế nên tôi rất đau buồn.

Mọi người khuyên chàng rằng:

Hiện nay con anh khỏe mạnh như thế, trong bảy ngày nữa làm sao chết được? Có lẽ anh tính lầm, há chẳng phải là sự buồn khổ vô ích sao? Chàng trả lời:

Tôi tính rất chính xác, đối với mặt trời, mặt trăng, vũ trụ, vạn vật, từ xưa nay tôi không tính lầm bao giờ.

Ðến hạn bảy ngày đứa con của chàng không chết, nhưng vì chàng muốn bảo tồn danh dự, bèn giết đứa con để chứng minh cho điều dự đoán không lầm, khiến cho mọi người tin phục, mong cầu danh tiếng, lợi dưỡng cho mình.

Chuyện này tỉ dụ: Ngoại đạo tự xưng đắc đạo, xong không có thật đức tu hành, vì muốn cho mọi người tin phục, mà không tiếc xử dụng những thủ đoạn độc ác, giả dối, hư ngụy, dối thế, trộm danh, cũng như vị Bà La Môn giết con để dối đời như trên không khác.

12. Quạt Nước Đuờng

Thuở xưa, có người chuyên môn nấu đường cát, đang lúc nấu đường tại nhà, bỗng có người nhà giàu đến chơi. Muốn xu phụng người ấy, anh bèn mời người nhà giàu uống một chén nước chè.

Anh bỏ một ít đường và rót thêm chút nước vào nồi bắc lên lò nấu.

Chụm lửa rất nhiều, nên chẳng bao lâu nước đường sôi lên sùng sục. Anh sợ nước đường nóng, rồi người nhà giàu phải chờ lâu mới uống được, liền tính làm nguội bớt nước, bèn nỗ lực quạt nước đường trong nồi, xong anh lính quýnh quên nhắc nồi ra khỏi lửa, vì thế tuy quạt rất lâu mà đường vẫn sôi mãi. Anh nỗ lực quạt mau, khiến mồ hôi chảy dầm dề trên trán.

Mọi người chung quanh thấy thế, đều chê cười anh ta và bảo rằng:

Anh làm thế chỉ phí công vô ích, không tắt lửa dưới nồi mà chỉ quạt nước trong nồi làm sao nước nguội được?

Chuyện này tỉ dụ: Nếu chúng ta không từ lửa dữ, tham, sân, si phiền não căn bổn mà diệt trừ, thì không thể nào đạt đến chỗ giải thoát thanh tịnh. Mặc dù chúng ta đem hết sức bình sanh tu theo khổ hạnh vô ích, cũng chỉ luống nhọc vô công, không có sự bổ ích thực tế, tương lai y nhiên trôi lăn trong vòng sanh tử chịu khổ vô cùng.

13. Sự Thật Chứng Minh

Có một nhóm người ngồi trong nhà bình luận phạm hạnh của một người khác. Trong nhóm ấy, có người nói rằng:

Người đó cái gì cũng hay cả, chỉ có hai điều không tốt: Ðiều thứ nhất là hay nổi sân, điều thứ hai là chạm việc hay lỗ mãng.

Ðang lúc y nói thế, bất ngờ người kia đi ngang qua cửa nghe lọt vào tai, lập tức nổi giận đùng đùng, nhảy bổ vào nhà vừa đánh y vừa nói:

Ta nổi sân hồi nào, ta lỗ mãng với ai đâu?

Bấy giờ mọi người đều nói:

Cử động của người hiện tại chẳng đủ chứng minh cho sự sân hận và lỗ mãng của người sao?

Chuyện này tỉ dụ: Có một hạng người có lỗi mà không tự nhận, người khác đưa ý kiến giải bày, chẳng những không hết lòng tiếp nhận, trở lại xấu hổ nổi sân, tìm cách báo phục, làm thế không chỉ trở ngại cho sự tiến bộ của tự mình, mà lại làm bộc lộ và phát triển tội ác xưa nay, chịu hậu quả bất lương nữa.

14. Giết Kẻ Dẫn Đường

Thuở xưa, có một đoàn thương gia dự định đến phương xa để tìm kế sanh sống.

Ðường đi phải trải qua một đồng rộng, cả đoàn đều không rành đường, mới bàn tính với nhau mời một người đi theo chỉ lối; rồi họ cùng nhau khởi cuộc hành trình.

Ði được nửa đường, họ đến một cánh đồng bao la bát ngát, gặp một ngôi miếu thần.

Theo tập quán nơi đó, đoàn phải giết một người tế miếu mới đi qua khỏi được.

Ðoàn thương gia cùng nhau bàn luận riêng, ai cũng cho rằng: Trong bọn chúng ta đều là bà con thân thích và đồng hương, chỉ có người dẫn đường là người ngoài chi bằng giết người này để cúng tế.

Bàn tính xong xuôi, họ bèn đem người dẫn đường ra giết.

Cúng tế xong, họ lên đường, nhưng vì không có người dẫn lối, nên cả bọn lạc lỏng, bơ vơ nơi cánh đồng bát ngát.

Sau cùng cả bọn họ đều bị chết ở giữa đường dài.

Chuyện này tỉ dụ: Muốn vào biển Phật pháp để lượm của báu, phải nên tu pháp lành làm vị tiên đạo. Có một ít người xưa nay điên đảo tu hành, không chịu khảo nghiệm sự thật, luôn luôn náo động không an, mạt sát hạnh lành, vọng tưởng, mê chấp, mà muốn thủ lấy chân bảo pháp tài. Kết quả chỉ hằng đọa nơi bến mê, biển khổ, trọn đời không có nẻo thoát ly.

15. Muốn Con Mau Lớn

Thuở xưa, có một ông vua sanh được nàng Công chúa, vua yêu quí vô cùng, mong muốn nàng mau lớn, bèn mời vị lương y đến thương lượng:

Người có thuốc gì để cho con gái trẫm uống vào mau lớn chăng?

Lương y trả lời:

Hạ thần nhứt định sẽ tìm được thuốc hay nhưng phải đến phương xa mới có. Hạ thần yêu cầu Bệ hạ một điều kiện là trong thời gian hạ thần đi tìm thuốc, Bệ hạ không được đến thăm công chúa. Chừng nào hạ thần đem thuốc về cho công chúa uống rồi, Bệ hạ hãy đến thăm.

Vua trả lời ưng thuận.

Vị lương y đi tìm thuốc phương xa kể đã 12 năm chẵn mới đem thuốc trở về.

Sau khi công chúa uống thuốc xong, lương y bèn đem công chúa đến yết kiến vua trong cung nội.

Vua thấy công chúa đã trưởng thành, lòng mừng khôn xiết, nói với lương y rằng:

Người thật là vị lương y đại tài, không ai bì kịp; công chúa nhờ uống thuốc của người mà chóng lớn đến thế!

Ðoạn vua bảo quan tả hữu ban thưởng cho lương y rất nhiều tài vật.

Người đương thời đều cười vua là người dại dột, không biết tính tuổi của con mình.

Chuyện này tỉ dụ: Người tu tập Phật pháp cần phải chân thật hành trì, tự hiểu hễ nước đến thì ao thành, giòng trong thì trăng hiện, công đức được vẹn toàn. Nếu không chịu hành trì đúng theo Phật pháp, cố gắng chân thật dụng công, mà chỉ mong cầu cho mau có kết quả, thì thật là sai lầm. Hạng người hành động như thế cùng ông vua muốn con mau lớn như kia đều là hạng ngu si đáng chê cười cả.

16. Tưới Mía Bằng Nước Mía

Thuở xưa, có hai người đều làm nghề trồng mía, họ thi đua với nhau, đưa ra đề nghị: Ai trồng lên tốt thì được thưởng, còn ai trồng xấu thì phải phạt.

Bấy giờ một trong hai người tự nghĩ rằng:

Mía xưa nay vốn ngọt nếu ta dùng nước mía tưới thêm lên, thì mía chắc chắn là ngọt lắm.

Người kia nghĩ như vậy xong, bèn dùng rất nhiều mía ép lấy nước, rồi đem nước ấy tưới lên mía mới trồng.

Kết quả chẳng những hao tốn, mà lại bao nhiêu mía mới trồng đều hư hoại hết.

Chuyện này tỉ dụ: Có một ít người không chịu noi theo đường chính để tu học Phật pháp, trở lại tư tưởng khác thường, lập dị, cầu kỳ, đui tu mù luyện, mà cho đó là phương pháp giản dị, "Khắc kỳ thủ chứng". Kết quả chẳng những không đạt được mục đích đã dự kỳ, mà còn lãng phí tinh thần và thời gian nữa. Chỉ luống nhọc vô công cũng như người dùng nước mía tưới mía kia không khác.

17. Vì Nhỏ Mất Lớn

Thuở xưa, có một người cho người khác mượn năm đồng, rất lâu mà không trả lại, chàng bèn đi đến nhà đòi.

Ðường đi trải qua một con sông rộng, chàng phải đi đò tốn ba đồng, đến nhà thời người kia đi vắng, khi trở về chàng lại phải tốn ba đồng nữa. Ði đò qua lại hết sáu đồng. Làm như thế chỉ luống nhọc công mà không đi đến đâu cả, số tổn thất lại nhiều hơn số tiền cho mượn.

Chuyện này tỉ dụ: Nếu vì tranh cầu chút lợi, không tiếc làm bại hoại hạnh thanh cao của mình. Kết quả thường khi không bù lại được sự tổn thất. Thậm chí, danh lợi đều mất không còn. Hiện tại mang tiếng xấu. Ðời sau mắc quả báo chẳng lành. Hành động như thế thật là ngu si.

18. Trên Lầu Mài Dao

Thuở xưa, có một người phục dịch cho vua rất khổ, trải qua một thời gian lâu, thân thể mỏi mệt vô cùng.

Vua thấy thế thương hại bèn ban cho con lạc đà chết.

Sau khi chàng lãnh con lạc đà rồi, bèn đem về nhà lột da. Vì dao lụt cắt không đứt, chàng đi tìm một viên đá để mài dao, chàng tìm được một viên đá ở trên lầu. Chàng lên lầu mài dao xong, rồi xuống lầu lột da lạc đà. Cắt một lát dao lụt, chàng lại đi lên lầu mài lại, rồi trở xuống lầu lột da. Vì lên xuống nhiều lần, thân thể mỏi mệt. Chàng bèn nghĩ ra một phương pháp, đem con lạc đà để trên lầu cho tiện, một bên thì mài dao, một bên thì cắt. Chàng tự cho làm thế là rất thông minh. Thật ra ai cũng cười chê chàng là người ngu xuẩn.

Chuyện này tỉ dụ: Có một người thường thường hủy phá giới cấm, rồi đem rất nhiều tiền của để tu phước bố thí, mong đặng sanh thiên. Giống như người mài dao kia, chỗ dụng công rất nhiều mà chỗ đặng rất ít.

19. Ghi Dấu Trên Thuyền Để Tìm Đồ Rơi Xuống Bể

Thuở xưa, có một người vượt thuyền qua bể, sơ ý đánh rơi cái chén bạc trong nước sâu, tức khắc chàng ghi trên be thuyền làm dấu. Ðoạn rồi chèo thuyền đi, trong tâm chàng tự nghĩ: Mình đã ghi kỹ chỗ cái chén bạc rơi trong nước, sau này có thể căn cứ nơi lằn ghi ấy mà tìm.

Hai tháng sau, ngày nọ chàng đến nước Sư tử là một địa phương rất xa, thấy có một giòng sông, chàng sực nhớ dấu đã ghi trên be thuyền, bèn lặn xuống nước tìm cái chén bạc.

Có người thấy thế hỏi rằng:

Anh lặn vào trong nước để tìm cái gì?

Chàng trả lời:

Tôi muốn tìm cái chén bạc đã đánh rơi.

Người kia lại hỏi:

Chén của anh rơi chỗ nào?

Chàng trả lời:

Tôi đánh rơi khi tôi mới vào biển cách đây hai tháng về trước.

Lúc ấy tôi có ghi trên be thuyền làm dấu chắc chắn. Ngày nay tôi cứ xem chỗ ghi trên be thuyền mà xuống nước tìm chén.

Mọi người nghe xong, ha hả cưới lớn và nói rằng:

Nước tuy giống mà địa phương xa cách ngàn trùng, làm sao mất một nơi rồi lặn một nơi khác tìm đặng?

Chuyện này tỉ dụ: Ngoại đạo không tu chánh hạnh, ở trong pháp lành tương tợ nhau, luống tu theo lối khổ hạnh vô ích. Bọn họ đâu biết sai một ly mất đi ngàn dặm. Chúng ta cần phải sáng suốt y cứ theo nguyên tắc mà tu học cho đúng chánh pháp, đó là điều trọng yếu của chúng ta.

20. Trả Thịt

Ngày xưa, có một ông vua nghe đồn có người bình phẩm mình là rất bạo ngược, không hiểu chánh trị là gì, vua giận lắm, tức khắc hạ lệnh bắt cho được con người phạm thượng kia. Những mật thám điều tra không biết là ai cả. Sau khi nghe lời vị hầu cận, vua bắt một người dân lương thiện ra hạch tội, rồi lên án lóc một trăm lượng thịt sau xương sống của y.

Chẳng bao lâu có người biện hộ rằng: Người lương dân ấy không bao giờ dám chê bai, mạt sát nhà vua. Bấy giờ vua quá hối hận, thấy rằng không nên kết tội oan cho người hiền, phải mau đền trả tổn thất lại. Vua bèn hạ lệnh dùng một ngàn lượng thịp đắp trả lại nơi xương sống của người hiền kia.

Người kia tuy đã được vua trả thịt, nhưng vẫn vô cùng đau đớn, khóc than rên rỉ suốt đêm. Vua nghe thế, không chịu suy xét cho kỹ, bèn đến hỏi rằng:

Tại sao ngươi vẫn còn khóc lóc? Ta lấy của ngươi chỉ có một trăm lượng mà hiện nay ta trả lại một ngàn lượng không đủ sao?

Người lương dân không còn sức lực trả lời lại, kẻ chung quanh thấy thế nói rằng:

Trời ơi! Tâu Đại Vương, giả sử có ai chặt đầu Ðại Vương rồi sau đền lại cho Ðại Vương một ngàn cái, vậy đầu Ðại Vương có thể dính lại được không?

Vua nghe thế rồi lặng thinh không còn đường đáp lại.

Chuyện này tỉ dụ: Chúng ta làm việc chi cần phải có tâm kiêng dè cẩn thận; chớ không nên làm việc một cách quá hung bạo, lỗ mãng. Khi lầm lở rồi, thì không sao bổ cứu lại được.

21. Cầu Con

Thuở xưa, có một người đàn bà đã sanh được đứa con, lại muốn có thêm một đứa nữa bèn hỏi những người đàn bà khác rằng:

Ai có phương pháp gì làm cho tôi sanh đứa con nữa không?

Bấy giờ có bà lão trả lời:

Ta có phương pháp giúp ngươi sanh con nữa, nhưng ngươi phải giết con lấy máu tế thiên thần, rồi ngươi mới được như ý.

Người đàn bà kia rất tin lời bà lão và định sẽ làm theo lời bà. May có người lối xóm hay được, cản ngăn và quở trách rằng:

Chị sao dại dột thế? Hy vọng sanh thêm một đứa nữa, mà lại đem đứa con hiện có giết đi; thế là đứa kia chưa sanh mà đứa này đã chết, rốt cuộc không có đứa nào cả.

Hành động ấy đáng làm hay không, chị cần nên xét lại.

Chuyện này tỉ dụ: Có đa số người mê tín, dị đoan, tin theo tà thuyết của ngoại đạo một cách mù quáng. Họ chủ trương rằng: Muốn tương lai được hạnh phúc, thì phải tu theo lối khổ hạnh như là: Nhảy vào hầm lửa, nằm trên gai, đứng một chân v.v... Họ tu theo các phương pháp sai lạc như thế, chỉ luống nhọc vô công, khổ thân tự hại, chẳng những không mong gì được phước báo sanh thiên, mà lại rất tương phản với nguyên lý của Phật giáo.

22. Bán Trầm Hương

Thuở xưa, có người lặn lội ra biển tìm trầm hương, trải qua nhiều năm tháng mới được một xe đem về bày ra chợ để bán. Vì giá cao nên bán không được, chàng rất băn khoản trong tâm khổ sở vô cùng. Bấy giờ thấy nhiều người gánh than ra chợ bán, vừa gánh ra là có người mua. Chàng tự nghĩ: "Ta đem trầm hương đốt thành than, đem bán chắc đắt lắm". Thế rồi chàng đốt hết trầm hương thành than gánh ra chợ bán, quả nhiên bán chạy vô cùng. Nhưng giá tiền một xe trầm hương không bằng giá tiền của nửa xe than củi.

Chuyện này tỉ dụ: Người tu hành mong cầu Phật quả không nên sợ khó mà thối tâm, hay cầu kỳ, lập dị, hoặc trở lại cầu quả tiểu thừa. Kết quả tự mất lợi lớn, cũng như người đốt trầm hương ra than để bán cho mau hết. Hành vi như vậy, thật đáng thương xót vô cùng.

23. Trộm Mền

Thuở xưa, có một kẻ trộm lấy của người nhà giàu một mớ hàng gấm đáng giá, rồi ra ngoài nhà vơ vét một cái mền rách và một ít quần áo cũ. Sau khi trộm xong, y mới đem hàng gấm bao cái mền rách và mớ y phục cũ gói thành một gói mang đi cung khắp. Sau mọi người biết được đều chê cười.

Chuyện này tỉ dụ: Người đã phát tâm chánh tín tu học Phật pháp, không nên trở lại tham lam danh lợi ở thế gian, phá giới luật thanh tịnh. Nên làm việc điên đảo như vậy, thì không khỏi tổn thương đức hạnh của mình và làm trò cười cho kẻ bàng quan.

24. Gieo Mè

Thuở xưa, có người ăn mè sống thấy không ngon bằng mè rang chín. Người kia tự nghĩ: "Mè rang chín ăn ngon như thế, ta nên đem gieo hột mè đã rang, sau có hột chắc chắn sẽ ngon lắm". Y bèn rang mè rồi đem gieo, kết quả không mọc cây nào cả.

Chuyện này tỉ dụ: Hột giống đã rang, thì không làm sao sinh ra cây, kết trái được. Cũng như nhiều kiếp hành đạo Bồ tát khổ hạnh cần tu, mới mong trưởng thành chủng tử Phật quả, mà muốn dễ tu mau chứng, lại tu theo hạnh tiểu thừa, chung kết không thể thành Phật quả. Phật thường quở hàng tiểu thừa là thứ "giống rang mầm hư" chính là ý nghĩa đấy vậy.

25. Nước Và Lửa

Thuở xưa, có người đang ở trong nhà làm việc, cần dùng cả nước lạnh và lửa, dùng cái chén sành đựng lửa để trong phòng, lại dùng cái lọ thiếc dùng nước để trên chén lửa. Người kia tự nghĩ: "Ta đã dự bị lửa và nước xong rồi"; vài giờ sau người kia dùng đến lửa, thì lửa đã tắt; dùng đến nước thì nước đã nóng. Cả hai đều không dùng được.

Chuyện này tỉ dụ: Có một hạng người đã xuất gia cầu học Phật pháp, nhưng lại quyến luyến gia đình, say mê thú dục lạc, niệm niệm không rời; do đó không thể thoát ly biển ái, mà lại vụt tắt lửa công đức của mình, mất nước trì giới nữa. Chung kết công đức tu hành và sự nghiệp ở thế gian, cả hai đều mất.

26. Bắt Chước Vua

Ngày xưa, có một người muốn tâm mình cũng sung sướng vui vẻ như vua, bèn hỏi người quen rằng:

Ta làm cách nào được hạnh phúc như vua? Người kia bày:

Nếu anh muốn hoan lạc như ngài vậy, thì nên bắt chước điệu bộ của ngài.

Chàng cho điều ấy là chí lý, bèn đi đến trước mặt nhà vua xem từng cử động, chăm chú bắt chước bộ điệu của vua. Bấy giờ vua nháy mắt không ngớt, chàng cũng nháy giống như in. Vua thấy thế rất lấy làm quái lạ, hỏi rằng:

Mắt ngươi có lông cặm, hay bị bụi rớt vào?

Chàng trả lời:

Không, mắt tôi không sao cả, chỉ vì tôi muốn hạnh phúc như ngài, nên cố bắt chước điệu bộ của ngài đấy.

Vua nghe xong, nổi giận lôi đình:

Ngươi thật là người hỗn sược!

Rồi sai quân lính đem ra đánh một trận nên thân, đoạn đuổi ra khỏi nước.

Chuyện này tỉ dụ: Có một ít người được nghe Phật pháp muốn gần gũi học tu, nhưng không hiểu nguyên lý căn bản của Phật pháp. Ðức Như Lai là bậc toàn trí, toàn năng vì muốn cứu độ chúng sanh khỏi khổ, nên tìm đủ mọi phương tiện dắt dìu. Có lúc nói lý thuyết cạn cợt để độ những hạng người trình độ thấp kém, hoặc cũng mang thân người cũng làm mọi việc, hoặc đem thân đền nợ trước như oan báo: "bị gươm vàng đâm và ăn lúa ngựa". Bọn họ lại chấp chặt, hoặc bắt chước theo, hoặc chê cười hủy báng. Chung kết ở trong Phật pháp hằng mất sự lợi ích và chứng ngộ, trở lại bị đọa lạc vào ba đường dữ chịu đủ mọi khổ hình.

27. Trị Vết Thương

Thuở xưa, có một ông già bị vua đánh đập tàn nhẫn, bị thương sâu nặng vô cùng. Ông bèn dùng phân ngựa xoa vào đấy, vài hôm vết thương lành. Khi ấy có một người ngu thấy thế, lòng rất vui mừng, bèn hỏi:

May quá! Ta vừa biết được một phương thuốc trị vết thương rất hay!

Y lập tức về nhà nói với con rằng:

Ta có thuốc hay lắm, con bằng lòng để cha đánh sau lưng cho bị thương rồi đem thoa thử, chắc chắn hiệu nghiệm vô cùng. Người con vâng lời cha dạy.

Y đánh sau lưng con cho bị thương rồi dùng phân ngựa thoa vào. Hành động như vậy mà tự xưng cho mình là rất thông minh, thật đáng làm trò cười cho hàng thức giả.

Chuyện này tỉ dụ: Như người chấp thuốc thành bịnh, chúng ta tu học Phật pháp không chịu dùng phương pháp đối trị quen thói lầm mê, trở lại để cho phiền não, sân, si tự do phát khởi. Như nghe nói "Bất tịnh quán" có thể bỏ thân phàm, thoát ly sanh tử, bèn cố ý lăng loàn, rồi quán "Bất tịnh". Chung kết chẳng những "Quán Bất tịnh" không thành mà trở lại bị sắc dục lầm hoặc, kết thêm nghiệp báo trôi lăn trong vòng sanh tử mãi không thôi! Không khéo dùng thuốc, thì thuốc trở lại thành bịnh; không khéo tu pháp lành, thì càng tăng thêm nghiệp luỵ. Ðó là điều quan trọng, chúng ta cần xem đấy để tự răn mình.

28. Xẻo Mũi

Thuở xưa, có một người sánh duyên với nàng con gái nhan sắc xinh đẹp, nhưng chỉ có cái mũi hơi khó coi.

Sau đó người kia gặp cô gái khác, chẳng những dung mạo đẹp đẽ lạ lùng, mà cái mũi cũng rất ngay thẳng, khả ái. Người kia tự nghĩ: "Ước gì ta có cái mũi đẹp của cô ấy để thay vào cái mũi của vợ ta, có phải vợ ta sẽ hoàn toàn xinh đẹp không?".

Thế rồi y cắt mũi cô gái đẹp, cầm chạy về nhà khoe với vợ rằng:

Em ơi! Nay anh sung sướng được ban cho em cái mũi đẹp!

Y bèn cắt mũi vợ quăng đi, rồi chắp cái mũi kia lại. Rốt cuộc, không ráp được mà vợ y lại bị mất mũi càng thêm xấu xí vô cùng. Y làm hại cả hai nàng con gái đẹp.

Chuyện này tỉ dụ: Người đời nghe biết các bậc Sa môn, Bà la môn kỳ cựu có đại oai đức, được mọi người cung kính cúng dường, bèn nghĩ: Ta cùng các vị kia có khác gì nhau; rồi tự giả xưng vọng nói mình có đức. Làm thế đã bất lợi, lại còn tổn thương phẩm hạnh của mình, cùng người xẻo mũi vợ kia không khác.

29. Ðốt Áo

Thuở xưa, có một người nghèo, làm thuê để dành tiền may được một cái áo ngắn bằng vải to. Khi y mặc ra đường, có người khác thấy hỏi rằng:

Hình dung mặt mũi của anh xinh đẹp như vậy, chắc là con nhà giàu sang, tại sao lại mặc áo vải? Tôi nay có biện pháp giúp anh có quần áo tốt, nhưng anh phải tin tôi, tôi không bao giờ dối anh cả.

Người nghèo nghe xong rất vui mừng:

Tôi nhứt định nghe theo lời anh. Người kia bèn đốt lửa bên đường rồi bảo người nghèo:

Anh hãy đem cái áo vải xấu bỏ vào lửa đốt đi, sau khi áo vải cháy rồi, anh nên đứng đợi một chút, tức khắc có quần áo đẹp cho anh.

Người nghèo y lời đem áo xấu bỏ vào lửa đốt. Ðốt xong, đi qua đi lại đợi chờ mà vẫn không thấy áo quần đẹp hiện ra.

Chuyện này tỉ dụ: Y cứ lời Phật nói rằng: Thân người khó được, chúng ta đã được thân người, phải nên tấn tu đạo đức, vun bồi cội phúc về sau, y theo chánh pháp đúng như lý tu hành. Nhưng ngoại đạo vọng lập tà thuyết để dối người: Thân này nên hủy hoại nhảy vào hầm lửa, thì có thể sanh lên cõi trời v.v... Lời nói vô lý đây không thể tin được. Nếu làm theo như vậy, chẳng những đời này bị tổn hại mà lại mê hoặc cho đời sau; cũng như người nghèo bị lừa dối không khác.

30. Nuôi Dê

Thuở xưa, có một người nuôi dê, nuôi rất đúng phương pháp, nên mỗi ngày sanh sản rất nhiều, từ ngàn con đến vạn con. Nhưng người kia rất hà tiện, không dám giết một con ăn thịt, hoặc là đãi khách. Người khác nài nỉ xin hoặc mua bớt, nói cách gì y cũng không chịu mất một con.

Bấy giờ có người rất hiểu mánh lới gian dối, thường qua lại làm quen, dùng lời ngon ngọt kết bạn thân với y. Y tin là người chân thật. Một hôm người kia nói với y rằng:

Tôi và anh đã thành bạn thân với nhau, nên có điều chi tôi cũng muốn bàn với anh cả. Anh nay chưa vợ con, rất cô đơn hiu quạnh. Tôi được nghe xóm nhà ở hướng đông, có một cô gái rất đẹp, nếu anh cưới nàng làm vợ thì xứng đôi vừa lứa vô cùng. Tôi xin làm người giới thiệu thì chắc chắn thành công.

Người nuôi dê nghe thế mừng rỡ vô cùng, bèn giao cho người kia rất nhiều dê và một ít lễ vật làm đồ sính lễ đầu tiên.

Cách vài hôm sau, người kia trở lại bảo anh rằng:

Cô ấy đã bằng lòng sánh duyên cùng anh, và may quá, vợ anh nay đã sanh được một đứa con rất ngộ nghỉnh, tôi lại báo tin mừng cho anh hay!

Người nuôi dê chưa bao giờ thấy mặt vị hôn thê, nhưng nghe nói vừa sanh một đứa con thì lòng mừng khôn thể tả! Vội vàng cấp cho người kia rất nhiều dê. Hai bên từ biệt.

Cách vài hôm sau nữa, người kia lại trở về nói rằng:

Anh ơi! Thê thảm đau đớn quá, con anh đã chết rồi! Tôi đến đây thành thực chia buồn cùng anh, để tỏ tình bạn hữu.

Người nuôi dê nghe xong, vật vã khóc lóc thảm thiết, buồn khổ mãi không nguôi.

Chuyện này tỉ dụ: Trong Phật giáo có những hạng người đa văn, không mong tâm danh lợi, không ham mê sắc đẹp vị ngon, nhưng lại tham trước dục lạc thế gian, trở lại bị nó làm mê hoặc, đành quăng tài bảo pháp lành công đức, lơ lảng sự tu hành. Kết quả, không những làm hư hỏng pháp lành, mà lại tiêu tan cả thân mạng, tài sản, thật đáng tủi nhục đau lòng, chính mình chuốc lấy sự đau khổ cho chính mình một cách oan uổng.

31. Mua Lừa

Thuở xưa, có một số tín đồ của đạo Bà La Môn cử hành cuộc đại hội, họ cần dùng nhiều chén bạc. Vị giáo chủ của họ bảo đệ tử lên chợ mời một người thợ đồ sứ về làm. Ðệ tử vâng lệnh đi tìm thợ. Ði giữa đường bọn họ gặp người thợ đang dắt một con lừa, trên lưng chở rất nhiều đồ sứ đem ra chợ bán. Lừa sảy chơn té quỵ xuống, bao nhiêu đồ sứ trên lưng đều rớt xuống đất và bể tan tành. Người thợ đồ sứ buồn rầu khóc lóc mãi. Bọn họ thấy thế lấy làm lạ hỏi rằng:

Tại sao anh khóc buồn bã thế?

Người thợ trả lời:

Tài nào tôi không khóc, bao nhiêu đồ sứ công phu làm trong một năm, nay định chở đem ra chợ bán nào ngờ con lừa bị sảy chân, trong khoảng khắc bể nát cả, như thế không đáng rầu rĩ ư!

Bọn họ nghe thế mừng thầm và nghĩ rằng:

Con lừa này giỏi quá, công khó người thợ làm một năm, chỉ trong nháy mắt nó có thể làm tiêu tan hết.

Bấy giờ bọn họ mới thương lượng với người thợ để mua con lừa. Người thợ đang tức giận muốn tống cổ nó đi, nghe có người mua nó, vội vã bán ngay.

Bọn họ cưỡi lừa về ra mắt giáo chủ, vị giáo chủ hỏi rằng:

Tại sao không tìm thỉnh người thợ đồ sứ, mà lại mua lừa đem về?

Bọn đệ tử trả lời:

Bản lãnh con lừa này, lớn hơn người thợ đồ sứ, vì người thợ làm trong một năm mới thành một số đồ, mà chỉ trong giây phút một mình nó, nó phá tan.

Vị giáo chủ lắc đầu lia lịa và nói rằng:

Sao các con dại dột thế? Con lừa này, trong khoảnh khắc có thể làm bể bao nhiêu đồ sứ, nhưng dù trải trăm năm, nó cũng không thể làm ra được một cái.

Chuyện này tỉ dụ: Ở đời có nhiều người thọ ân của người khác giúp đỡ, chẳng những họ không thù đáp lại, mà thường hay trả oán. Hạng người vong ân bội nghĩa như thế, chúng ta không nên gần gũi, vì chỉ có hại chứ không ích lợi gì.

32. Trộm Vàng

Thuở xưa, có hai người thương gia cùng ở một chỗ, một người buôn vàng, một người buôn bông vải. Có người đến mua vàng, để vàng vào lửa thử xem thiệt hay giả. Người buôn bông vải kia lén trộm một cục, sợ người thấy, bèn đem giấu trong bông. Vàng đang cháy nóng đỏ làm cho bao nhiêu bông vải cháy sạch sành sanh, công việc bại lộ. Người kia chẳng những không trộm vàng được, mà còn bị cháy hết bao nhiêu là bông vải.

Chuyện này tỉ dụ: Ngoại đạo ăn cắp giáo lý của đạo Phật đem làm của mình, nhưng vì họ không rõ nguyên lý, không khéo xử dụng, chẳng những không hiểu Phật pháp, việc làm không đi đến đâu, mà lại làm cho giáo pháp của họ bị pha trộn. Chung kết cơ mưu bị bại lộ, làm trò cười cho kẻ bàng quan.

33. Chặt Cây Tìm Trái

Thuở xưa, trong vườn một ông vua, có trồng một thứ trái cây rất tốt, tàng nhánh sum xê, sanh trái ngon ngọt lạ thường, không chỗ nào có.

Ngày nọ có người khách ngoại quốc đến chơi, vua đưa đi xem cây ấy và nói rằng:

Cây này sanh một thứ trái ngon vô song, chẳng nơi nào có cả.

Khách hỏi:

Quả thật có trái ngon, vậy cho tôi một trái ăn thử được không?

Vua bằng lòng, bèn gọi người đốn cây ngã xuống để tìm trái, nhưng tìm không được trái nào. Sau đó, vua bảo người đem cây đã chặt trồng lại, rồi tìm đủ biện pháp, cũng không thể nào làm cho nó đâm chồi nảy tược như xưa. Cây ấy chết tuyệt, không còn sanh trái nữa.

Chuyện này tỉ dụ: Ðức Thích Tôn đã từng chỉ cho chúng ta công đức trì giới, giống như cây đại thụ, có thể sanh các thứ trái thần thông, trí tuệ, từ bi, thiền định ngon lành. Chúng ta muốn có những thứ trái cây ấy, thì trước tiên phải trì giới tu hành, dùng nhiều công đức pháp lành bón tưới, mới mong kết quả tốt đẹp hoàn toàn. Nhưng có một ít người không hiểu phương pháp ấy, buông lung hủy phạm giới luật oai nghi, mà còn mong cầu thần thông, định, huệ, khác nào người chặt cây tìm trái như trên, chẳng những trái không tìm được, mà cây quí từ nay đã chết khô. Hạng người hành động như thế thật đáng thương xót.

34. Thâu Ngắn Đuờng Đi

Thuở xưa, có một thôn cách kinh thành một trăm dặm, nơi ấy có một cái giếng nước rất trong và ngon ngọt, lạ thường. Vua hạ lệnh cho dân làng, mỗi ngày phải chở nước về kinh thành cho vua uống.

Dân làng ngày ngày tới lui mệt mỏi không chịu được, bèn rủ nhau trốn đến phương xa. Việc này thôn trưởng biết được, mới triệu tập một cuộc đại hội thôn dân, vị thôn trưởng đứng ra tuyên bố:

Các anh em chớ đi đâu hết, tôi sẽ yêu cầu nhà vua thâu ngắn con đường một trăm dặm thành sáu mươi dặm tức khắc. Các anh em đi lại sẽ gần hơn, không đến nỗi mệt mỏi như trước.

Hội nghị bế mạc, vị thôn trưởng vội vã vào kinh yêu cầu vua như thế. Vua phê chuẩn lời thỉnh cầu, và hạ lệnh cho sở lục lộ thâu ngắn con đường một trăm dặm còn sáu mươi dặm. Dân làng được tin ấy đều vui mừng và tự cảm thấy gần hơn trước. Từ đấy họ càng tin tưởng lời vua, họ đồng lòng tỏ không dời đi đâu cả.

Chuyện này tỉ dụ: Người đời phát tâm tu học chánh pháp mong cầu thoát ly sanh tử, luân hồi, nhưng vì thời gian tu học dài dăng dẳng, nên càng thấy mỏi mệt, nửa đường thối tâm không muốn tiến tới.

Ðức Như Lai có đủ phương tiện, đem pháp nhất thừa phương tiện nói ba thừa, khiến cho hàng căn tánh kém cỏi, trí huệ cạn gần, nghe xong cho là Phật pháp dễ tu, dễ chứng, mới mạnh mẽ nỗ lực tiến tu pháp lành công đức, hầu thoát ly sanh tử luân hồi. Sau khi bọn họ chứng quả vị tiểu thừa xong, Phật trở lại chỉ trích họ. Ngài thuyết minh: Phật pháp xưa nay chỉ có nhứt thừa chớ không có hai hay ba thừa, nghĩa là: "Sự thật chỉ có một, hễ có hai cái tương đối thì không phải là chơn". Bấy giờ bọn họ càng tin tưởng lời Phật, có thể hồi tiểu quả hướng đến đại thừa, tin thế không nghi, an nhiên tiến tu đạo đại thừa Bồ tát.

35. Thấy Bóng Trong Gương

Thuở xưa, có một người rất nghèo khổ, mắc nợ quá nhiều, không có biện pháp để trả nợ, chỉ còn có cách là đi trốn.

Ngày nọ, y đi đến cánh đồng bao la bát ngát, chợt thấy một cái rương, bèn mở ra xem thử, thấy đầy một rương ngọc ngà, châu báu, có đậy một miếng kiếng lên trên. Bấy giờ y vui mừng không xiết, bèn thò tay vào lấy những của báu ấy. Nhưng y thấy trong rương hiện ra một người (tức là bóng của y) có vẻ dọa nạt y, y hoảng sợ dừng tay lại, trong tâm lo sợ không an, bèn nói với người trong gương:

Ta cho là trong cái rương trống này, không có phương hướng, tưởng đâu là không có người, nào dè thấy có người trong đó, quái lạ chưa?

Nói xong y vội vàng chạy đi nơi khác.

Chuyện này tỉ dụ: Người đời thường bị vô lượng phiền não ràng buộc, làm cho khốn đốn, khổ não, không có phúc đức, duyên lành, lại thường bị sống chết quay cuồng "ma vương, trái chủ" áp bức khổ sở, nên muốn cầu giải thoát khỏi vòng thống khổ, đau thương mà tu học Phật pháp.

Bọn họ cố công vun bồi cội phúc giống lành, dụ như cái rương đầy của báu, rồi lại thường bị "thân kiến ngã chấp" làm mờ, cho nên ở trong vô thường, vô ngã vọng chấp có ngã thường còn. "Thân kiến", "ngã chấp" dụ như bóng hiện trong gương, bọn họ lầm cho là chân thật, do đây mà không thể tu hành thiền định, đạo phẩm, chứng thành công đức vô lậu. Hành vi của bọn họ cùng với cử chỉ của người đã đến rương báu mà không lấy được vật gì, đồng nhau không khác.

36. Lầm Móc Con Mắt

Thuở xưa, có một người tu trên núi, học được pháp thuật, có thể khám phá tất cả ngọc ngà, châu báu chôn dưới đất lâu năm. Chuyện này thấu đến tai vua, vua rất mừng rỡ, bảo quần thần rằng:

Ta muốn mời nhà nghệ thuật ấy ở luôn trong nước để giúp ta tìm của báu đã bị chôn vùi, nước chúng ta sẽ trở nên đại phú cường tức khắc.

Bấy giờ có vị đại thần lãnh sứ mạng đi tìm nhà nghệ thuật. Vị đại thần quả nhiên tìm được người ấy, nhưng không chịu thỉnh về nước, mà lại móc cặp mắt của người, đem về dâng cho vua và nói:

Hạ thần đã móc mắt của nhà nghệ thuật rồi, họ sẽ không thể đi ra khỏi nước được.

Vua nghe xong lấy làm bất mãn nói rằng:

Ngươi thật là dại dột, sở dĩ ta muốn thỉnh người là vì người có cặp mắt, có thể khám phá được của báu bị mai táng. Nay ngươi hủy hoại cặp mắt của người rồi thì người ấy còn dùng vào việc gì được nữa!

Chuyện này tỉ dụ: Phật giáo đồ nhận thấy các bậc đại đức cao tăng khắc khổ thanh tu trong rừng núi, phi thường cung kính rước về nhà cúng dường, không biết rằng làm thế chỉ ngăn ngại sự tu khắc khổ thanh đạm của các ngài, thậm chí làm cho các ngài hủy phá giới hạnh, lui sụt pháp lành, không thể thành công đắc quả.

Phật tử tại gia thường hay mắc bệnh mù quáng và lầm lớn. Hộ pháp không biết pháp, cúng dường không đúng pháp hoặc đem tình đời làm lem ố giới, định thanh cao của các bậc đại đức xuất gia, làm thế mình và người đều bị hại, gây nên tội lỗi không vừa.

37. Giết Trâu

Xưa có một người nuôi 250 con trâu, thường thả ra đồng ăn cỏ.

Một hôm, có con cọp vồ lấy một con ăn thịt. Người kia thấy thế, tự nghĩ thầm: "Trâu ta mất một con, không đủ số, ta còn dùng bầy trâu đây làm gì?" Bèn đuổi cả bầy trâu xuông hố, chúng chết tuyệt không còn lấy một con.

Chuyện này tỉ dụ: Phật tử xuất gia thọ trì "Giới cụ túc" hai trăm năm mươi rất hoàn hảo. Sau đó bất cẩn lỡ phạm một điều, đã không biết xấu hổ, ăn năn, sám hối cho trở lại thanh tịnh như xưa; mà lại lầm tưởng: "Ta đã phá một giới rồi, thì giới hạnh đã kém khuyết, dù có ăn năn giữ kỹ các giới cũng chẳng ích gì". Rồi từ đây ngang nhiên phạm giới không biết kiêng sợ, bỏ cả giới luật không hành trì. Người tu hành như thế cùng với người giết trâu như kia đều là hạng ngu si đáng thương cả.

38. Bảo Nước Đừng Chảy

Thuở xưa, có một người đi đường rất khát nước, xem thấy bên đường có cái hang, giòng suối từ trong ấy chảy ra nước trong leo lẻo, kế bên có cái thùng hứng nước đầy tràn. Người kia bèn kê miệng uống. Sau khi uống đỡ khát rồi, y chỉ cái thùng và nói:

Ta uống đỡ khát rồi, vậy nước ơi! Ðừng chảy ra nữa. Nhưng nước vẫn y nhiên chảy mãi không ngừng. Người kia tức mình quá, đứng bên cái thùng chửi rủa om sòm. Mọi người thấy thế cười và trách anh ta rằng: Anh cần gì làm thế, hãy lánh đi nơi khác đi, hà tất phải bảo nước đừng chảy nữa.

Chuyện này tỉ dụ: Người đời thường say đắm trong biển sanh tử tham ái, uống nước ngũ dục tanh hôi, đôi khi cũng cảm thấy chán chê, ước mong con ma ngũ dục lạc đừng đến quấy rầy, nhưng nào được như ý. Muốn thế ta cần phải đề phòng các giác quan, tự kiểm thảo lấy mình cho cẩn thận: Tâm đừng dính líu duyên trần, ý đừng vọng tưởng sự thế. Chớ nếu chẳng dụng công xả bỏ bợn nhơ nơi lòng, mà chỉ mong muốn ngăn cảnh ngũ dục bên ngoài đừng đến quấy nhiểu, thì chẳng những không thể ngăn được miếng mồi ngũ dục (1), mà lại hằng bị nó lôi cuốn vào đường trụy lạc đau thương, mãi quay cuồng trong hố sâu tội lỗi, chẳng hy vọng ngày nào giải thoát được phiền não, mê lầm. Hành động như thế chỉ luống công vô ích.

Ghi chú:

(1) Ngũ dục: Tài, sắc, danh, ăn, ngủ; hoặc là sắc, thinh, hương, vị, xúc, cảnh giới đây thường thường làm cho con người điên đảo, mê hoặc.

39. Sơn Tường

Thuở xưa, có một người, y đến chơi nhà người bạn, thầy vách tường nhà bạn sơn bóng loáng, ráo khô, sạch sẽ, mới hỏi rằng:

Anh dùng thứ chi sơn quét vách tường đẹp thế?

Người bạn trả lời:

Tôi dùng cám trộn với bùn và nước. Người kia lầm tưởng: Dùng cám mà còn tốt như vậy, nếu dùng nguyên lúa trộn với bùn mà sơn tường, thì chắc tốt hơn thế nữa.

Y bèn trở về nhà,