Home Phật Giáo và Đời Sống Phật Giáo và Khoa Học Giới Trí Thức Bình Luận Về Đức Phật & Giáo Lý Của Ngài
08 | 09 | 2008
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Bookmarks
 
 
 
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật Giáo và Đời Sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Giới Trí Thức Bình Luận Về Đức Phật & Giáo Lý Của Ngài PDF. In Email
Phật Giáo và Đời Sống - Phật Giáo và Khoa Học
Viết bởi Thích Quảng Bảo   
Chỉ mục bài viết
Giới Trí Thức Bình Luận Về Đức Phật & Giáo Lý Của Ngài
đức Phật Từ Bi
Tất cả các trang

...Lịch sử của loài người là lịch sử của sự tìm kiếm và thực nghiệm sự thật. Hãy để cho sự thật tự hiển lộ trước mắt mọi người. Người con Phật đứng giữa sự chỉ trích và tán thán hãy học theo cách của bậc Đạo sư, không giận dữ hay vui mừng mà hãy giữ tâm ý thật khách quan để tự thăng tiến tuệ giác...

Chấp nhận ý kiến của người khác một cách mù quáng và không thắc mắc sẽ là một sự ngu xuẩn, nhưng làm ngơ ý kiến của họ cũng là một sự ngốc nghếch. Trí tuệ và Kinh nghiệm của những người khác, đặc biệt là bậc trí, có thể giúp chúng ta làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của chúng ta và đưa chúng ta đến một vị trí tốt hơn để chọn lựa một giải pháp đúng hơn...

Anh ta đọc nhiều sách và hiểu sâu sắc về Kinh điển Phật giáo, phiên dịch Kinh điển sang Pháp ngữ, và thậm chí viết tiểu sử của đức Phật. Nhưng căn nguyên sâu xa khiến cho anh ta quan tâm thích thú đạo Phật là sự kiện mà anh ta cảm thấy Phật giáo đã mang lại cho anh ta sự củng cố trực tiếp về tư tưởng triết học để giải tỏa những sự thất vọng trong cuộc sống của anh ta…Jack tuân giữ giới thứ nhất trong đạo Phật hơn tất cả những thứ khác và phát biểu rằng: "Tất cả đời là khổ đau.”


Giới Trí Thức Bình Luận Về Đức Phật & Giáo Lý Của Ngài

Thích Quảng Bảo Sưu tầm & chuyển dịch

Lời Giới Thiệu

Đức Phật ra đời và thuyết pháp “vì hạnh phúc và an lạc cho số đông.” Những lời dạy của Ngài cho con người chỉ nhắm vào hai mục tiêu chính: khổ và diệt khổ. Ngài không tranh luận với đời. Ngài chỉ thuyết pháp, nêu bật sự kiện khổ đau ở đời và chỉ bày cho con người cách thức đoạn trừ khổ đau.

Đức Phật không khuyến khích mọi người theo Ngài chỉ vì niềm tin suông. Đọc lại lời khuyên của Ngài cho Sìha, vị tướng quân người Licchavì, Upàli, vị gia chủ nổi tiếng của xứ sở Nalanda và những lời dạy dành cho các vị Kàlàma xứ Kesaputta, chúng ta thấy rõ nhân cách lớn của bậc đạo sư và tinh thần tự do tư tưởng hết sức cao cả của Giáo lý Ngài. Chân lý không là đặc quyền của người nào. Chân lý không có ngã và ngã sở. Người ta không nên khẳng quyết rằng chỉ có điều mình theo là đúng ngoài ra là hư vọng. Đức Phật không bao giờ nói hãy tin ta, nhưng Ngài bảo “hãy đến để mà thấy” (Ehibhikkhu). "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi" là khẩu hiệu tự do thẩm sát chân lý trong đạo Phật. Sự thật thách thức khả năng tìm tòi, khám phá của mỗi cá nhân chứ không yêu cầu lòng tin của mọi người.

Đức Phật là thế và giáo lý của Ngài là thế. Lịch sử của loài người là lịch sử của sự tìm kiếm và thực nghiệm sự thật. Hãy để cho sự thật tự hiển lộ trước mắt mọi người. Người con Phật đứng giữa sự chỉ trích và tán thán hãy học theo cách của bậc Đạo sư, không giận dữ hay vui mừng mà hãy giữ tâm ý thật khách quan để tự thăng tiến tuệ giác. Tập sách “Giới trí thức bình luận về đức Phật và giáo lý của Ngài” do Tăng sinh Quảng Bảo sưu tầm và chuyển dịch có thể giúp cho người con Phật thực tập thái độ khách quan khi đứng trước sự chỉ trích hay tán thán của người khác. Việc làm này của Tăng sinh là một nỗ lực xứng đáng được tán thán và khuyến khích.

Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh

Hòa thượng Thích Minh Châu.

Lời Nói Đầu

Những ai xem việc thay đổi Tôn giáo hay chấp nhận một Tôn giáo mới lần đầu tiên thì sẽ làm một điều gì đó có thể có một ảnh hưởng sâu sắc về cuộc đời của họ. Đó không phải là một điều gì phải được từ bỏ một cách hấp tấp, vội vã, hoặc là nó được từ bỏ dưới sự ảnh hưởng của những cảm xúc tình cảm khi đạt đến tột đỉnh. Nếu chân lý phải được khám phá, thì thời gian phải được diễn ra, tất cả những sự kiện phải được xem xét, và vấn đề phải được chất vấn và những ý kiến khác nhau phải được xem xét, thảo luận. Chúng ta cố gắng làm tất cả những điều này, trước khi đưa ra những quyết định quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta. Do vậy, tại sao chúng ta không nên thực thi chúng trước khi đưa ra những quyết định quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta liên quan đến tín ngưỡng Tôn giáo của chính mình?

Chấp nhận ý kiến của người khác một cách mù quáng và không thắc mắc sẽ là một sự ngu xuẩn, nhưng làm ngơ ý kiến của họ cũng là một sự ngốc nghếch. Trí tuệ và Kinh nghiệm của những người khác, đặc biệt là bậc trí, có thể giúp chúng ta làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của chúng ta và đưa chúng ta đến một vị trí tốt hơn để chọn lựa một giải pháp đúng hơn. Với sự truyền bá Phật giáo ở các nước Âu Mỹ trong khoảng hơn trăm năm qua, một số đông giới trí thức phương Tây, kể cả nhiều vị lãnh giải Nobel hòa bình, đã bày tỏ một sự quan tâm sâu sắc và ngưỡng mộ Tôn giáo cổ đại này. Chỉ có một số ít thực sự trở thành Phật tử. Họ trở thành Phật tử do bị ấn tượng về phương pháp tư duy trong sáng và hợp lý của đạo Phật, số khác nhờ vào sự khoan dung độ lượng nhã nhặn của Tôn giáo này. Một số khác trở nên ngạc nhiên trong kính phục do triết lý của Tôn giáo này rất thích ứng (nếu không nói là rất giống) với những phát minh của khoa học hiện đại. Trong khi đó, số khác thích Phật giáo khi tiếp cận với những ý tưởng về đời sống luân lý đạo đức mà không cần tin vào một đấng Thượng đế đầy quyền năng. Những lời trích dẫn được thu thập trong cuốn sách nhỏ này thật sự đáng để quan tâm vì một số lý do sau:

Trước hết, những lời trích dẫn này cho thấy sự hấp dẫn phổ quát của Phật giáo, mà đây lại là lời phát biểu của những nhà tâm lý, nhà thơ, triết gia và nhà toán học trên khắp thế giới với nhiều bối cảnh văn hoá và Tôn giáo khác nhau. Có phải chăng lời dạy của một con người đã sống từ lâu vẫn có thể thích hợp và có ý nghĩa đối với một nhà khoa học lỗi lạc như Einstein, một nhà thơ như Eliot hoặc một triết gia như Rusell? Lại nữa, những lời trích dẫn này nói nhiều về những người đã viết ra chúng như họ đã làm gì cho chính đạo Phật.

Chúng ta đọc những gì mà một số tư tưởng gia có đầu óc vĩ đại trong thời đại của chúng ta phải nói về quan điểm của Phật giáo về ly tham, không chấp thủ và tình thương, về yếu tố duy lý trong đạo Phật và về vai trò và địa vị của đức Phật trong lịch sử nhân loại. Họ so sánh Phật giáo với những Tôn giáo khác, làm nổi bật sự đề cao về yếu tố lý trí của Tôn giáo này và cho chúng ta biết được những ảnh hưởng lớn lao của nó đối với nền tâm lý học hiện đại. Hy vọng rằng những gì được nói trong cuốn sách nhỏ này sẽ làm cho độc giả có động cơ nhìn sâu hơn nữa về những lời dạy của đức Phật, và nếu thoả mãn về mặt tâm linh hãy ứng dụng những nguyên tắc này vào đời sống thực tiễn. Thiết nghĩ đây là một công trình có giá trị nghiên cứu và rất hữu dụng đối với những ai khi nghiên cứu đạo Phật. Hơn nữa, những lời trích dẫn trong tập sách này là những nguồn dẫn chứng quý giá đối với những ai muốn nghiên cứu và viết lách về những đề tài liên quan đến Phật giáo và những lĩnh vực khác.

Tuy nhiên, do đây là một tập sách sưu tầm những nguồn tư liệu nằm rải rác trong các sách báo Anh ngữ, cũng như một số tư liệu đã được dịch sang Việt ngữ, người dịch xin cáo lỗi cùng với quý độc giả trong vấn đề sắp xếp những lời phát biểu theo thứ tự từng tác giả hay theo từng chủ đề khác nhau liên quan đến giáo lý và cuộc đời của đức Phật. Ở cuối phần tập sách nhỏ này, người dịch xin trích dẫn NGUYÊN bản tác phẩm "Buddhism in the Eyes of Intellectuals" của Đại lão Hoà thượng K. Sri Dhammananda, một vị Hoà thượng người Tích Lan có công rất lớn trong công việc hằng truyền Phật pháp tại Malaysia và cũng là một nhà Phật học có rất nhiều ảnh hưởng đến giới nghiên cứu Phật học tân thời. Nhân đây, Người dịch xin bày tỏ tấm lòng biết ơn đối với Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu, người đã hy sinh cả cuộc đời mình vì sự nghiệp giáo dục đàn hậu học chúng con. Thành kính dâng lên Thượng tọa Bổn sư, người đã có công giáo dưỡng con nên người, thành quả học tập này với tất cả tấm lòng quý kính của người đệ tử. Cuối cùng, xin chân thành tri ân sự chỉ giáo của các bậc cao minh để tập sách nhỏ này ngày càng hoàn chỉnh hơn.

Quảng Đức, Xuân Canh Thìn

Dịch giả Thích Quảng Bảo

Nội dung

Do đó, trong thời đại ngày nay, hầu hết những Tôn giáo khác thì mới và trẻ khi được so sánh với Tôn giáo đáng kính này [Phật giáo], một Tôn giáo chứa đựng trong nó sự vô tận của niềm hy vọng toàn cầu, sự bất tử của tình thương không bờ bến, một yếu tố bất hoại của niềm tin về sự tuyệt mỹ, và sự quả quyết tự hào nhất về quyền tự do giải thoát nhân loại.

Đây hoa nở rộ trên cây nhân loại

Đã bừng nở qua vô số năm

Làm thế giới chan hòa hương thơm trí tuệ

Và mật ngọt tình thương.

(Sir Edwin Arnold (1832-1904), Nhà thơ, nhà báo người Anh, và tác giả cuốn "Ánh Sáng Á Châu")

Những lời dạy của Thái tử người Ấn Độ thực sự không có gì lay chuyển trước những phát minh hiện đại của khoa học… Ngôn từ sẽ không làm cho tôi hiểu nếu tôi cố gắng bày tỏ sự cần thiết mà tôi nghĩ tri thức của niềm tin và triết lý cao siêu của Tôn giáo này làm cho sinh động thêm chủ nghĩa vật chất của Tây phương… Đó là, trong bất kỳ tình huống nào, một chân lý đã làm ảnh hưởng không chỉ đối với những tư tưởng gia vĩ đại và hùng vĩ nhất của Hy Lạp và La Mã mà còn làm những cơ sở khởi đầu cho nền tảng của tư tưởng Cơ đốc giáo, mà Phật giáo đã ra đời trước Tôn giáo này khoảng 500 đến 600 năm. Tôn giáo này có thể tuyên bố kết bạn tốt đẹp cùng nguồn gốc với những Tôn giáo lớn, mà không có sự hành quyết và ép buộc những người thuộc Tôn giáo khác Phật giáo, và những lý do này có thể chứng kiến dễ dàng trong chính giáo lý của Tôn giáo này.

(L. Adam Beck, một nhà lữ hành và một học giả người Hoa Kỳ.)

Đối với tín đồ Cơ đốc giáo, thì tình yêu là đức tính tối thượng; nhưng đối với tín đồ Phật giáo, thì lại là trí tuệ bởi vì họ cho rằng vô minh là nguồn gốc của tất cả những tội lỗi. Đồng thời, tình yêu cũng được xếp lên hàng cao….Khoan dung và lòng từ, cả hai được căn cứ trên cơ sở trí tuệ Phật giáo, có lẽ là nguyên nhân chính giải thích tại sao con đường Trung đạo của đức Phật Cồ Đàm đã truyền bá từ thế hệ này sang thế hệ khác hơn 2.500 năm qua.

(Sir Charles Bell KCIE, CMG (1870-1945), nhà ngoại giao và nhà biên soạn từ điển người Anh.)

Thông điệp của đức Phật về chân lý, hòa bình, từ bi và khoan dung rất là thích hợp đối với xã hội ngày nay cũng như nhiều thế kỷ trước đây. Thời gian trôi qua đã làm cho những ánh sáng càng tỏa sáng hơn. Sự lan tràn của chủ nghĩa vật chất và sự theo đuổi những thành đạt của cá nhân bất chấp mọi giá đã làm xói mòn những sợi dây thắt chặt tình huynh đệ và tính cộng đồng. Trong những tình huống này, điều cần thiết và quan trọng đối với chúng ta là nhớ lại và truyền bá thông điệp về từ bi và trí tuệ của đức Phật để hận thù có thể được thay thế bằng tình thương, xung đột bằng hòa bình an lạc, và sự cạnh tranh bằng hợp tác lẫn nhau.

(Tiến sĩ Amadou-Mahta M”Bow-Chủ tịch tổ chức UNESCO.)

Chỉ có Tôn giáo duy nhất trong tất cả các Tôn giáo trên thế giới hấp dẫn tôi nhất là Phật giáo. Đạo Phật, như sự hiểu biết của tôi về Tôn giáo này, đúng ra là một hệ thống triết học của thế giới, và một triết lý sống đối với những người ưu tú được hình thành ở nơi Tôn giáo này chứ không phải là một Tôn giáo xét theo ý nghĩa thông thường của ngôn từ.

(CD Broad (1887-1971), triết gia người Anh.)

Cuộc cách mạng gần đây của con người có lẽ bắt đầu với sự tiến bộ cao của chân tay, và sự lựa chọn một bộ não, đặc biệt thông thạo thao tác của đôi bàn tay. Chúng ta cảm thấy vui mừng về điều đó trong những hành động của mình, với kết quả là đối với giới nghệ thuật, bàn tay là một biểu tượng chính yếu; chẳng hạn bàn tay của đức Phật ban tặng cho con người món quà của lòng nhân đạo trong một tư thế tịch lặng, món quà của sự vô uý.

(J. Bronowski (1908-1974), một tác giả và triết gia, khoa học gia người Hoa Kỳ.)

Cho dù người phương Tây lần đầu đến với giáo lý đạo Phật mà họ vốn dĩ quen với khoa học hiện đại, hay những thuật ngữ chuyên môn của đạo Cơ đốc giáo, họ nên luôn luôn ghi nhớ rằng đức Phật không quan tâm sự hiện hữu hay không hiện hữu của một đấng quyền năng tối cao, hoặc là những mệnh đề triết học trừu tượng khác. Điều Ngài quan tâm duy nhất là “con đường”, con đường thực tế, qua đó con người có thể chấm dứt những khổ đau của mình trong kiếp này và mai sau.

(Marie b. Byles (1900-1979), một tác giả và nhà leo núi người Úc.)

Thông điệp của đức Phật về từ bi và sự tận tâm, nhiệt tình trong sự nghiệp phục vụ cho nhân loại càng thích hợp hơn trong xã hội ngày nay hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại. Hòa bình, sự hiểu biết và một cách nhìn vượt khỏi những hạn chế thuần tuý trong phạm vi quốc gia đã trở thành các vấn đề cấp bách hơn trong thời đại bất an, thiên về vũ khí hạt nhân hôm nay.

(Javier Perez De Cuellar, nhà ngoại giao của Peru, và Tổng Thư ký của Liên Hợp Quốc.)

Người ta không thể từ chối rằng vẻ đẹp thực sự của Đông phương trong nhiều thành ngữ mà giới Phật tử sử dụng; và rằng có cơ sở thực sự cho sự nhiệt tình khiến họ phát sinh. Chưa bao giờ trong lịch sử của thế giới một kế hoạch như thế lại được vạch ra, quá tự do thoát khỏi những tác nhân của một đấng siêu nhiên, quá độc lập, thậm chí rất đối kháng với niềm tin về một linh hồn, niềm tin vào một Thượng đế, và hy vọng một kiếp sống tương lai.

Cho dù những điều này là đúng hay sai, đó là một điểm chuyển đổi trong lịch sử Tôn giáo của con người khi mà một nhà cải cách, hoàn toàn đầy đủ nhiệt tâm nhất vì những mục tiêu luân lý đạo đức và được đào tạo trong tất cả nền văn hóa tri thức trong thời đại của vị ấy, đã đưa ra một cách thận trọng, cân nhắc, và với một tri thức có những quan điểm chống lại học thuyết của sự cứu rỗi được tìm thấy ở đây, ngay trong kiếp sống này, trong một trái tim tâm hồn thay đổi bên trong.

Dù là Phật tử hay không phải, tôi đã xem xét các hệ thống của tất cả các Tôn giáo lớn trên thế giới, và tôi không tìm thấy Tôn giáo nào có thể vượt qua cái đẹp và tính toàn diện của giáo lý Bát Thánh đạo và Tứ Thánh đế của đức Phật. Tôi rất hài lòng xây dựng cuộc đời mình trên con đường đó.

(Giáo sư T.W. Rhys Davids (1843-1922), thành lập hội Thánh Điển Pali, nhà biên tập từ điển Pali-Anh, dịch giả Trường Bộ Kinh và là nhà biên tập của nhiều Kinh sách Phật học.)

Cũng như những bậc Thầy khác cùng thời đại Ngài, đức Phật giảng dạy thông qua những cuộc hội thoại, bài diễn thuyết, và những hình ảnh ẩn dụ. Nếu so với đấng Christ và Socrates, Đức Phật chẳng bao giờ có ý định đem học thuyết của Ngài viết thành văn bản. Ngài đã tóm tắt những lời thuyết giảng ấy thành những bài Kinh nhằm mục đích nhắc nhở cho chúng ta ghi nhớ những gì Ngài dạy, như đã được chư vị đệ tử Ngài bảo tồn cho chúng ta ngày nay. Những bài Kinh này phác thảo cho chúng ta một nhân vật đặc trưng nhất trong lịch sử Ấn Độ: một con người với ý chí và nghị lực mãnh liệt, quyền uy và tự trọng, danh tiếng, nhưng có một nhân cách nhã nhặn tế nhị và ngôn từ hiền hòa từ ái, và một lòng từ tâm vô biên. Ngài tuyên bố sự giác ngộ giải thoát nhưng không có một sự khêu gợi; Ngài không bao giờ giả vờ rằng một vị thiên thần khi đang nói chuyện với Ngài. Trong tranh luận, Ngài kiên nhẫn và trung dung hơn bất kỳ những vị đạo sư khác của nhân loại.

Giống như Đức Khổng Phu Tử và Christ, Ngài mong muốn chuyển hóa ác thành thiện, tình thương thay hận thù; và Ngài hoàn toàn im lặng trước những sự hiểu lầm và nhục mạ của kẻ khác… Không giống như hầu hết các bậc Thánh khác, đức Phật có một óc hài hước, và biết rằng hiện tượng siêu hình học mà không có hành động là sự kiêu căng.

(Will Durant (1885-1981), một sử gia người Mỹ và người đoạt giải thưởng Pulitzer.)

Nhưng sự cuốn hút của Eliot đến với Phật giáo không chỉ đơn giản là do của hệ thống triết lý của Tôn giáo này. Niết-bàn là sự dập tắt hoàn toàn của tham, sân, si; sự đoạn diệt hoàn toàn tham ái, tự do giải thoát khỏi sự chấp thủ…. Sự chuyên chế của đạo Phật thì rất nghiêm khắc như những gì mà Eliot tìm thấy trong Maurras, và mặc dù có lẽ nhà thơ này thích thú Phật giáo với nhiều lý do tương tự, Tôn giáo phương Đông có những sự gắn bó lãng mạn cho những ai muốn tách khỏi những sự ràng buộc của gia đình.

(Peter Ackrayd bình về nhà thơ người Anh-T.S.Eliot (1888-1965).)

Trong những Tôn giáo vĩ đại nhất trong lịch sử, tôi thích Phật giáo hơn, đặc biệt là Phật giáo nguyên thuỷ, bởi vì Tôn giáo này không có những yếu tố ngược đãi, khủng bố. Phật giáo là một sự kết hợp giữa nền triết lý tuyệt vời và khoa học. Phật giáo tán thành những phương pháp khoa học và tiếp tục theo đuổi mục đích đó và có thể được gọi là một Tôn giáo lý trí. Trong Tôn giáo này chúng ta tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi như: "Danh và sắc là gì? Cái nào quan trọng hơn cái nào? Thế giới và vũ trụ có chuyển động đến một mục tiêu nào đó hay không? Địa vị của con người là gì? Liệu có một đời sống Thánh thiện hay không?" Phật giáo dìu dắt con người đến những nơi mà khoa học không thể đưa đến, bởi vì những giới hạn trong việc sử dụng những công cụ của khoa học. Những đòi hỏi đó chính là yếu tố tâm.

Bản thân tôi cảm thấy rằng dù là trong vấn đề trí tuệ hay đức hạnh, Chúa cũng như một số người được biết trong lịch sử không thể là những người đại diện cao nhất về 2 lĩnh vực này. Tôi nghĩ rằng tôi nên đặt đức Phật và Socrates lên trên Chúa đối với những sự tôn kính này.

(Bertrand Rusell (1872- 1970), triết gia toán học và logic lỗi lạc nhất trong thế kỷ 20.)

Con người đã từ bỏ sự vô minh vọng tưởng về một đấng Thượng đế như là một người cha giúp đỡ, nhưng con người cũng từ bỏ những mục đích chân thật của tất cả những Tôn giáo lớn mang tính nhân bản: vượt qua những sự giới hạn của một cái tự ngã ích kỷ, đạt được tình thương, mục đích và sự khiêm nhường và tôn trọng sự sống để mà mục đích của cuộc đời được sống, và con người trở lại với những tiềm năng ẩn chứa bên trong anh ta.

Đây là những mục đích của các Tôn giáo lớn ở phương Tây, cũng như đây là những mục tiêu của các Tôn giáo lớn ở phương Đông. Tuy nhiên, phương Đông thì không bị đè nặng bởi ý niệm về một đấng Thượng đế siêu nhân, một đấng cứu thế mà các Tôn giáo nhất thần thường cho là tài sản của riêng họ.

Đạo giáo và Phật giáo xét về mặt lý trí và thực tiễn thì siêu việt hơn những Tôn giáo phương Tây. Hai Tôn giáo này quan sát về con người một cách thiết thực và có mục đích, không một ai ngoại trừ bậc giác ngộ có thể dẫn dắt con người và có thể được dẫn dắt chỉ đường bởi vì mỗi người đều có trong mình khả năng giác ngộ và được giác ngộ.

Đây là lý do quý hiếm giải thích tại sao tư tưởng Đông phương, Đạo giáo, Phật giáo và Thiền Phật giáo đảm nhiệm một vai trò quan trọng như thế trong xã hội phương Tây hiện nay. Thiền Phật giáo giúp cho con người tìm ra những giải đáp cho vấn đề hiện hữu của con người….

Nghịch lý thay, tư tưởng Tôn giáo Đông phương hóa ra thích hợp hơn đối với tư tưởng duy lý phương Tây hơn là chính bản thân tư tưởng Tôn giáo Tây Phương.

(Erich Fromm (1900-1980), một triết gia xã hội và nhà phân tâm học người Mỹ.)

Có thể có một ý nghĩa lớn lao trong sự kiện rằng triết gia Pythagoras tại Hy Lạp và đức Phật tại phương Đông xuất hiện cùng lúc vào thế kỷ thứ 6 B.C. Cả hai Ngài đều là những nhà tư tưởng và nhà hoạt động tầm vóc và sâu sắc…

(R.Buckminster Fuller (1895-1984), một nhà phát minh, triết gia và kỹ sư người Mỹ.)

Là một người nghiên cứu về Tôn giáo tỷ giảo, tôi tin rằng đạo Phật là đạo hoàn hảo nhất trên thế giới từ trước tới giờ. Học thuyết tiến hóa và luân hồi cao đẹp hơn bất cứ niềm tin nào khác. Không phải lịch sử Tôn giáo cũng không phải là sự nghiên cứu triết học mà chính nghề nghiệp chuyên môn của tôi như là một bác sĩ đã đưa tôi lần đầu tiên đến thế giới tư tưởng Phật giáo. Công việc của tôi là chữa trị những khổ đau về mặt tâm thần và chính điều này đã đưa đẩy tôi làm quen với quan điểm và phương pháp của Bậc Thầy vĩ đại của nhân loại, mà đề tài chính yếu là sự khổ đau triền miên, già, bệnh và chết.

(Bác sĩ Carl C. Jung (1875-1961), nhà phân tâm học người Thụy Sĩ, học trò lỗi lạc nhất của Freud và là người sáng lập viện nghiên cứu về phân tâm học.)

Lời giảng dạy căn bản của Ngài Cồ Đàm, nghiên cứu từ cội gốc ngày nay đã trở nên rõ ràng và dễ hiểu và hoàn toàn phù hợp với những tư tưởng tân tiến. Nó vượt khỏi tất cả những sự tranh chấp, và là sự thành tựu của một trong những nguồn trí tuệ thể nhập tuyệt vời mà thế giới đã từng biết đến.

Hơn hết mọi ảnh hưởng trong biên niên sử nhân loại, đạo Phật đã đóng góp nhiều hơn cho những sự tiến bộ của nền văn minh thế giới và nền văn hóa của nhân loại…

(H.G. Wells (1866-1946).

Ta nhập thế bằng tình yêu bát ngát, dù cuộc đời vẫn quằn quại thương đau. Bất cứ ai nếu chăm chú đọc một vài bài thuyết pháp của đức Phật cũng sẽ nhận thấy sự nhịp nhàng, sự yên tĩnh của tâm hồn, sự cao đẹp vui tươi, sự quyết tâm không mảy may lay chuyển, lòng yêu thương dạt dào và sự kiên trì không bờ bến.

Nội dung trí tuệ những lời dạy của Ngài chỉ là một phần sự nghiệp của Ngài, và nửa còn lại là cuộc đời của Ngài, đời sống thực mà Ngài đã sống, một sự tu tập, sự tự tu tập tâm linh cao nhất mà Ngài đã hoàn tất và đem ra giảng dạy ở nơi đây. Đức Phật đã hoàn tất sự tu tập tâm linh cho chính mình và chư đệ tử của Ngài. Ngài đã đề xuất một mục đích và đã đạt được những kết quả mà các nhà hành động chân chính nổi danh của phương Tây đã phải ngã mũ kính phục.

(Herman Hesse (1877-1962), người đoạt giải thưởng Nobel văn chương.)

Chẳng hạn nếu chúng ta thắc mắc liệu vị trí của âm điện tử đứng yên, chúng ta phải trả lời là không; nếu chúng ta hỏi liệu vị trí của âm điện tử có thay đổi cùng với thời gian hay không, chúng ta phải trả lời là không; nếu chúng ta hỏi rằng liệu âm điện tử có yên nghỉ hay không, chúng ta phải trả lời là không; nếu hỏi âm điện tử có di động hay không, chúng ta phải trả lời là không. Đức Phật cũng trả lời như vậy khi được hỏi về những điều kiện về tự ngã của con người sau khi chết, nhưng chúng không phải là những câu trả lời tương tự đối với truyền thống của nền khoa học thế kỷ 17 và 18.

(Robert Oppenheimer, nhà vật lý học, cha đẻ của trái bom nguyên tử đầu tiên của Hoa Kỳ.)

Chủ nghĩa bi quan yếm thế bày tỏ thái độ tuyệt vọng đối với đời sống, một ý niệm tổng quát và mơ hồ rằng đời sống đầy dẫy khổ đau và tội lỗi. Trong thực tế, giáo lý nguyên thủy của đức Phật cũng lạc quan như bất cứ chủ nghĩa lạc quan nào khác ở phương Tây. Chủ trương rằng Phật giáo là "bi quan" là chỉ áp dụng suông vào Phật giáo nguyên tắc đặc cách của người phương Tây, theo đó không thể có hạnh phúc nếu không có tự ngã. Người Phật tử chân chánh nhìn tương lai với tinh thần nhiệt thành hướng về hạnh phúc trường cửu.

(Encyclopaedia of Britannica.)

Tính chất ôn hòa của dân tộc Ấn biểu hiện trọn vẹn giáo lý của đức Phật. Phật giáo truyền bá tinh thần bất bạo động, tức là lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sanh. Đối với người cư sĩ Phật tử, chế tạo và buôn bán súng đạn, chất độc, chất say, giết hại cầm thú đều là những nguyên tắc đạo đức không nên phạm.

(Aldous Huxley.)

Chắc chắn có những lý do để chủ trương rằng cái "Tôi" ngày hôm nay và cái "Tôi" ngày hôm qua là một, và để lấy một thí dụ hiển nhiên hơn nữa, nếu cùng một lúc, tôi thấy một người và nghe người ấy nói thì rõ ràng là cái "Tôi" nghe và cái "Tôi" thấy là một.

(Bertrand Russell-Religion and Science.)

Thật không phải quá đáng khi quả quyết rằng nhờ sự trung gian của người Ba Tư mà những người Hy Lạp hiếu kỳ đồng thời với đức Phật đã thâu nhập những kiến thức ít nhiều chính xác về thời kỳ văn hóa cực thịnh của phương Đông.

(Greek Thinkers- sử gia Garbe.)

Những ai được ở trong một gia tộc hoặc trong một làng nằm theo lưu vực sông Hằng (Ganges) thật là hữu phước, vì nơi đây dân chúng sống trong tinh thần bác ái, an lành, trong tinh thần công lý cao thượng, nơi đây dân chúng được hít thở một thứ không khí nhẹ nhàng, do những lời giản dị chất phác tạo nên… Ta cũng có thể nói rằng những ai sống trong một gia đình hoặc một làng nằm trong lưu vực sông Thames ngày nay cũng không kém phần hữu phước, vì nơi đây giáo lý từ bi giữa người và người của đức Phật đã thấm nhuần đời sống gia đình và xã hội và đã làm cho nền luân lý vững chắc. Giáo lý đó vẫn còn rõ ràng, đầy đủ và thích hợp với người Anh hiện nay, cũng như từ bao giờ, đã thích hợp với người Ấn.

(Giáo sư Rhys Davids.)

Đức Phật là sự hiện thân của tất cả những đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong suốt cuộc hành trình 45 năm đầy thành công và đáng ghi nhớ của Ngài, Ngài đã chuyển dịch tất cả những ngôn từ của mình thành hành động; và không có chỗ nào mà Ngài không nói hết những khiếm khuyết của con người hoặc là những sự đam mê hạ liệt thấp hèn. Nền tảng luân lý đạo đức chủ yếu của đức Phật là hoàn hảo nhất mà thế giới đã từng biết đến.

(Giáo sư Max Muller, nhà Ấn Độ học người Đức.)

Paul kết hợp tình yêu với lòng tin và hy vọng, và quan điểm của ông về tình yêu liên quan đến niềm tin và hy vọng: "Tình yêu, theo ông, là tin tưởng tất cả mọi thứ và hy vọng mọi thứ."Theo tôi, tình yêu không có nghĩa là tin tưởng vào tất cả và hy vọng tất cả. Tình yêu sống sót khi sự vỡ mộng, thất vọng bắt đầu và tiếp tục ở sự thất vọng, buồn rầu. Tình yêu không phải là thứ tình thương ngưng hoạt động khi không có niềm tin và hy vọng. Miễn là khi nào còn niềm tin và hy vọng hỗ trợ tình yêu thì đó chỉ là một thứ tình yêu trẻ con. Rằng tình yêu là hạnh phúc dễ chịu là một chuyện hoang đường mang tính chất thời trang. Đức Phật biết rằng tình yêu mang lại "sự tổn thương và khổ đau, buồn rầu, thất vọng, áo não"; và Ngài khuyên thái độ ly tham, không chấp thủ. Tình yêu mà tôi xem như là một đức hạnh thì không phải là một thứ tình yêu mù quáng về người mình yêu hoặc là người mình tin cậy, một tình yêu đầy hy vọng của Paul, nhưng tình yêu mà biết những gì đức Phật đã biết và vẫn yêu, với đôi mắt mở rộng.

(Giáo sư Walter Kaufmann, triết gia người Mỹ.)

Anh ta đọc nhiều sách và hiểu sâu sắc về Kinh điển Phật giáo, phiên dịch Kinh điển sang Pháp ngữ, và thậm chí viết tiểu sử của đức Phật. Nhưng căn nguyên sâu xa khiến cho anh ta quan tâm thích thú đạo Phật là sự kiện mà anh ta cảm thấy Phật giáo đã mang lại cho anh ta sự củng cố trực tiếp về tư tưởng triết học để giải tỏa những sự thất vọng trong cuộc sống của anh ta…Jack tuân giữ giới thứ nhất trong đạo Phật hơn tất cả những thứ khác và phát biểu rằng: "Tất cả đời là khổ đau.”

(Ann Charters.)

Nếu tôi biết rằng đức Phật sẽ thuyết giảng ở đây vào ngày mai, thì trên thế gian này không có một thứ gì có thể ngăn cản việc tôi đi đến nghe Ngài thuyết giảng. Và tôi sẽ theo Ngài cho đến cùng.

(J.Krishnamurti, triết gia người Ấn (1895-1986).)

Người Ấn, người Aztec, và người Mê-hi-cô xưa! Tất cả đều làm cho tôi thích thú và đã làm cho tôi thích thú trong nhiều năm qua, có một sức quyến rũ, và một phép thần diệu đối với tôi. Đó chính là đức Phật. Đức Phật là một con người quá hoàn hảo và sung mãn đối với tôi.

(D. H. Lawrence (1885-1930), tiểu thuyết gia người Anh.)

Ngày nay khoa học đang thử thách sự hạn chế của bộ não con người, một bộ não bao gồm khoảng 10.000 triệu tế bào được kích thích xung điện đã được trù tính với những bản năng của lịch sử lâu dài của chúng ta và dễ tiếp thu những ý kiến mới dù đúng hay sai. Tổng số những tế bào này cung cấp cho chúng ta biết được cá tính luôn thay đổi của chúng ta và sự loại bỏ từng phần bằng cách giải phẩu hay thay đổi nhịp bằng sự điều trị bất ngờ thay đổi nhân cách của chúng ta…

Bạn thấy rõ ràng đức Phật là một con người giản đơn, tận tuỵ, đơn chiếc, phấn đấu để đạt được ánh sáng trí tuệ, một cá nhân mang bản chất con người sinh động, chứ không phải là một huyền thoại. Trong số các truyền thuyết thần kỳ tôi cũng cảm thấy có một con người, đó là đức Phật. Ngài đã gởi bức thông điệp tiêu biểu cho tính cách của Tôn giáo mình cho toàn thể nhân loại trên khắp toàn cầu. Nhiều tư tưởng hiện đại tuyệt vời nhất của chúng ta ngày nay rất hài hòa với giáo lý của Ngài. Ngài dạy tất cả những khổ đau và sự bất mãn trong cuộc sống là do ích kỷ. Ích kỷ có 3 hình thức. Một là sự tham muốn nhằm thoả mãn những cảm giác của cá nhân; hai là sự khát ái, hay muốn bất tử; ba là tham vọng được thành công về của cải vật chất và thế gian trần tục. Trước khi một con người muốn trở nên thanh tịnh, anh ta phải từ bỏ lối sống cho những nhu cầu dục vọng của chính mình. Sau đó, anh ta mới có thể trở thành một bậc vĩ nhân. Đức Phật, ra đời trước Đấng Christ, đã dùng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau để kêu gọi con người hãy sống với đức tính vị tha. Xét về một số phương diện, Ngài rất gần gũi với chúng ta và những nhu cầu của chúng ta. Ngài rất minh bạch hơn Chúa đối với tinh thần phục vụ con người, và không mơ hồ về vấn đề bất tử của cá nhân.

(H.G. Wells)

Nếu chúng ta ao ước muốn nhìn thấy con người Thánh thiện nhất của nhân loại, hãy nhìn vị hoàng đế trong y phục của một người hành khất; chính là Người với sự Thánh thiện của Ngài được xem là vĩ đại nhất trong nhân loại.

(Abdul Atahiya thi nhân Hồi giáo.)

Nếu bất kỳ vấn đề nào phải được xem xét, thì vấn đề ấy phải được xem xét một cách hài hòa an lạc và dân chủ như phương pháp mà đức Phật đã dạy.

(J. Nehru, cựu thủ tướng Ấn Độ)

Sự khác biệt giữa đức Phật và một chúng sanh tầm thường cũng giống như sự khác biệt giữa một người bình thường và người điên khùng mất trí.

(Một nhà văn.)

Đức Phật thật xứng đáng được bầu chọn là một nhân vật được đại đa số nhân loại tôn kính nhất.

(Giáo sư Saunders, Tổng thư ký hiệp hội thiên chúa giáo Y.M.C.A, Ấn Độ, Miến điện và Tích Lan.)

Đức Phật vĩ đại hơn tất cả các học thuyết và tín điều khác, và thông điệp vĩnh cửu của Ngài đã làm cho nhân loại rung động qua nhiều thời đại. Có lẽ không thời điểm nào trong lịch sử quá khứ nhân loại mà thông điệp về hòa bình của Ngài lại cần thiết hơn cho nhân loại đang khổ đau và điên cuồng như thế giới hiện nay.

(Nehru)

Khi chúng ta đọc những bài pháp của đức Phật, chúng ta bị cảm kích bởi tinh thần lý trí khoa học của Ngài. Con đường đạo đức luân lý của Ngài, ngay trong những bước đầu tiên là những quan điểm đúng đắn, một cái nhìn lý trí. Ngài nỗ lực nhằm xua tan tất cả những màng nhện giăng mắc làm ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân loại.

(Tiến sĩ S. Radhakrishnan, Đức Phật Cồ Đàm)

Đặc điểm nổi bật đáng chú ý nhất của đức Phật là sự kết hợp độc nhất vô nhị giữa một tinh thần khoa học trầm tĩnh và sự thông cảm thâm uyên đầm ấm và từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về đức Phật nhiều hơn vì chỉ có Ngài là người đại diện cho lương tâm của nhân loại.

(Moni Bagghee, "đức Phật Của Chúng Ta.”)

Đức Phật là người tiên phong của thương yêu nhân loại và là một triết gia siêu phàm kết hợp trong mình một cá tính dũng cảm và sáng chói. Ngài có những điều để nói mà không một ai khó lòng mà quên được là sau hơn 2500 năm hăng say, vội vã và thuyết giảng về nền tảng của tri thức. Vĩ đại hơn là trí tuệ của Ngài là một tấm gương mà Ngài đã đưa ra làm chứng.

(Moni Bagghee, Đức Phật của Chúng Ta.)

Đức Phật như là một bậc lương y. Cũng như bác sĩ phải biết chẩn đoán nhiều căn bệnh khác nhau, nguyên nhân của bệnh, thuốc giải độc và phương pháp chữa trị, và có thể áp dụng thuốc thích hợp. Cũng vậy, đức Phật dạy cho chúng ta Bốn chân lý Thánh thiện (Tứ Thánh Đế) chỉ ra sự hiện hữu của khổ đau, nguyên nhân của khổ, sự đoạn diệt và con đường đưa đến sự diệt tận của khổ đau.

(Tiến sĩ Edward Conze, "Phật giáo")

Đức Phật không phải là tài sản của riêng cho giới Phật tử. Ngài là tài sản của toàn thể nhân loại. Giáo pháp của Ngài dành cho tất cả mọi người. Mọi Tôn giáo, được ra đời sau đức Phật, đã mượn nhiều ý tưởng hay đẹp từ đức Phật.

(Một học giả Hồi Giáo.)

Đức Phật là một người cha nhìn thấy đàn con của mình đang nô đùa, vui chơi trong ngọn lửa thế gian đầy nguy hiểm và Ngài dùng mọi phương tiện thiện xảo để cứu các con mình ra khỏi nhà lửa đang cháy này và đưa chúng đến nơi an lạc của Niết-bàn.

(Giáo sư Lakshimi Narasu, "Tinh Hoa Của Phật giáo")

Càng ngày tôi càng cảm thấy rằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất về các đức tính và thực nghiệm của Ngài. Ngài là con đường, là chân lý, và là lẽ sống.

(Giám mục Milman.)

Đó chính là lúc tôi đang sinh sống tại Oxford vào những năm đầu năm 1970 tôi bắt đầu quan tâm thích thú Phật giáo. Cuộc đời của tôi thì đầy dẫy những bối rối và căng thẳng, và tôi tìm thấy triết lý đạo Phật một phương pháp tư duy mà có thể làm say đắm tôi bởi sự thanh tịnh vắng lặng và lối phân tích triệt để những tham dục, sự từ bỏ tất cả những sức mạnh của một thế giới cảm xúc hư ảo mà tôi đang sống, và một sự hứa hẹn của một sự thành thật mạnh mẽ không mang bản chất tình cảm.

(Andrew Harvey tác giả người Anh và nhà thơ của trường đại học Fellow of all Souls Oxford.)

Tôi rời Ấn Độ và trở về Colombo, nơi tôi làm một người khách của một gia đình sinh viên Tích Lan mà tôi gặp anh ta tại Perth, Tây Úc. Họ đều là Phật tử, nhà của họ xung quanh một ngôi Chùa, và không khí ngôi nhà rất là yên tĩnh và ôn hòa. Tôi đàm luận rất nhiều về Phật pháp với họ và họ đưa tôi đi đến một ngôi Chùa nằm trên những ngọn đồi tại Kandy, nơi mà tôi gặp những tu sĩ và tôi đối thoại rất nhiều về vị trụ trì già của ngôi Chùa, vị trụ trì này đã giải thích cho tôi rất nhiều về đạo Phật. Tôi cảm thấy vô cùng thích thú về Tôn giáo này.

(Một nhà lữ hành người Âu châu)

Phật giáo là một hệ thống không biết đến theo ý niệm của Tây phương; từ chối một sự hiện hữu của một linh hồn ở nơi con người; coi đức tin vào sự bất tử là một sự sai lầm; từ chối bất cứ kết quả nào của sự cầu nguyện và hy sinh dâng hiến thần linh. Đạo Phật còn là một hệ thống khuyên con người không nên trông cậy vào đâu nhưng chỉ bằng nỗ lực của chính bản thân để đạt được sự giải thoát, cứu rỗi cho chính mình; một hệ thống mà sự thanh tịnh bản lai của nó không biết gì về những hạnh nguyện của sự phục tùng và chưa bao giờ tìm sự cứu giúp của một cánh tay thế tục nào, nhưng đã truyền bá khắp nhân loại.

Trong thế giới đầy bão tố và xung đột, hận thù và bạo động, thông điệp của đức Phật tỏa sáng như một vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không một thời điểm nào trong lịch sử nhân loại mà thông điệp của Ngài lại cần hơn cho thế giới của những quả bom nguyên tử và khinh khí. Hơn hai nghìn năm qua đã làm tăng thêm sức sống và sự thật của thông điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt đó và cố gắng uốn nắng tư duy và hành động của chúng ta dựa trên ánh sáng của chân lý đó. Chúng ta có thể bình thản đối diện với những sự kinh hoàng của thời đại bom nguyên tử và giúp một phần nhỏ trong việc thúc đẩy con người tư duy và hành động đúng đắn.

(Nehru)

Đây là một hệ thống giáo lý mà chúng ta có thể thực hành theo một cách tự tin. Liệu nơi nào trong thế giới các Tôn giáo, hệ thống thờ cúng Tôn giáo và các tín ngưỡng, chúng ta có thể tìm thấy một bậc đạo sư thông thái như thế? Trong chuỗi những vì sao sáng tỏ, Ngài là vì tinh tú khổng lồ của những vì sao sáng nhất, vĩ đại nhất. Không có gì là ngạc nhiên mấy khi mà các nhà khoa học, triết gia, và những con người có học thức cao đã khẳng quyết rằng: "Ngài là con Người vĩ đại nhất chưa từng có trong lịch sử nhân loại.” Vầng hào quang toả sáng của bậc Thầy vĩ đại này rọi sáng khắp thế gian đau khổ và tối tăm, giống như ngọn hải đăng dẫn đường và toả sáng cho nhân loại.

Một nhà văn Âu châu.

Những giáo lý như: Lịch thiệp, thanh tịnh, từ bi và sự giải thoát khỏi những tham ái ích kỷ là những lời dạy căn bản của đạo Phật- một Tôn giáo vĩ đại của Phương Đông.