Triết Học Phật Giáo
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Thích Tuệ Sỹ
|
|
Trước hết chúng ta phải hiểu Tâm là gì? Trong tiếng Hán, Tâm là trái tim. Từ cái nghĩa tâm là trái tim, rồi sau mới suy diễn ra tâm là tấm lòng, cho rằng tâm là tấm lòng suy nghĩ.
Định nghĩa tâm xét theo nghĩa tiếng Phạn thì có khác. Theo tiếng Phạn, tâm (citta) có nghĩa là tích tập. Định nghĩa này được thấy trong kinh Hoa Nghiêm, bản dịch chữ Hán của Bát-nhã (quyển 6): tích tập danh tâm 積集名心. Nó do gốc động từ là CI (cinoti): tích chứa, tích lũy, tăng trưởng và cũng có nghĩa là quán sát, tri nhận, cảm nhận. Đây là định nghĩa đặc biệt trong thuật ngữ Phật giáo, đặc biệt là Đại thừa. Nghĩa thông thường của nó, được nói là do gốc động từ cit hay cint (cintayati): tư duy, suy tưởng. Tâm là cái tư duy… Chính những ghi nhớ tích tập đó tác thành một con người hoặc thiện hoặc ác tùy theo kinh nghiệm môi trường, hoàn cảnh. Vì thế, ta nói tâm hướng dẫn đời sống con người. Như vậy, tâm đó chính là nghiệp, là hành vi của con người, vì những năng lực tạo ra hành vi của con người không bao giờ mất. |
|
Đọc thêm...
|
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Tuệ Sỹ
|
|
Kinh nói: "Hết thảy mọi pháp giới
trong vô số thế giới như hư không, thảy đều dùng đầu của một sợi lông mà đo
lường khắp. Mỗi một đầu của sợi lông ở ngay trong một niệm, hóa ra vô số thân
nhiều như vi trần bất khả thuyết bất khả thuyết... "
Đoạn kinh này mô tả năng lực thiết lập
Chánh pháp của Phật. Chánh pháp được biểu lộ ngay nơi các sự vật như trên đầu
sợi lông, trong mỗi hạt bụi. Tùy theo căn tánh, sự tiếp thu của chúng sanh trở
nên bất đồng.
Hình ảnh của một thế giới như đã mô tả chỉ
có thể mô tả và bằng vào dự tưởng, được gợi hứng từ khát vọng nào? Người ta
phải trở lại thế giới thường nhật để tìm thấy sự thúc đẩy của nó.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Tuệ Sỹ
|
|
Học giả lấy sự thành Phật làm khó ư? Con
nít vọc đất, vẽ cát mà giỡn thôi, cũng đủ thành Phật. Lấy đó mà cho là dễ ư?
Những bậc đã được thọ ký, đã đắc đạo, như các vị Bồ tát và các Đại đệ tử (của
Phật Thích Ca) mà còn không dám đi thăm bịnh (cư sĩ Duy-ma-cật); cái nghĩa đó
là thế nào?
Lúc đang mê loạn điên đảo, trôi lăn trong
biển khổ, mà vừa có một niệm Chân thành, thì vạn pháp đều có đủ cả. Còn như,
cần khổ dụng công, như đắp núi đã cao đến chín bậc, sau chỉ vì một chút sai sẩy
cỏn con mà một nghìn đời không phục lại nổi.
Hỡi ôi, Đạo vốn là như vậy đó!
Nhưng riêng gì Phật thôi ư? Thầy Tử Tư có
nói: "Hạng phàm phu phụ không ra gì cũng có thể hành (đạo) được; còn như
chỗ tột cùng, thì dù là Thánh nhân cũng có chỗ chưa đủ sức."
|
|
Đọc thêm...
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Thích Thiện Hoa
|
|
Thân người hòa hợp, do tinh huyết cha mẹ
cùng thần thức, góp bốn chất: Cứng, ướt, nóng, động mà thành. Chủ động
trong ấy là thức (nghiệp thức). Bởi nghiệp thức người nhóm các duyên hội họp
làm thân người. Nghiệp thức ấy có ra do bởi sự gây tạo vì đời trước huân tập
nơi tự tâm kết thành công năng có tánh cách người, có thể cảm đặng thân người.
Như vậy là từ nơi tự tâm tạo tác hạnh nghiệp, các hạnh nghiệp ấy trở lại huân
tập thành công mang nghiệp người nơi tự tâm, cho đến khi công năng nghiệp thức
ấy thuần thục, gặp đủ các trợ duyên, chiêu cảm hiện ra có thân người. Vậy thân
thể không phải tự nhiên không nhân mà có, cũng không phải ai khác làm ra, mà
chính do tự tâm tạo, tự tâm biến hiện, nên có câu: "Tâm tạo nhứt
thiết" và câu "Tam giới hữu tình, giai tùng nghiệp hữu".
|
|
Đọc thêm...
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Liễu Pháp
|
|
Nhiều cách dùng và ý nghĩa của từ Dhamma
trong những ngữ cảnh khác nhau đã được giải thích trong các chú giải Pali với
những ví dụ lấy từ tam tạng[2]. Bộ Abhidhànappadìpikà, bộ "từ điển"
Pali cổ viết bằng văn vần (vào thế kỷ 12 sau công nguyên), bộ sách mà các vị Tỳ
kheo trẻ theo truyền thống giáo dục và kỷ luật của các tu viện Phật giáo phải
học thuộc lòng, sau khi liệt kê 14 nghĩa khác nhau của từ Dhamma, kết thúc bài
kệ bằng chữ àdo (vân vân) [3]. 14 nghĩa được nêu lên trong bài kệ là: 1. bản
chất; 2. giáo pháp; 3. trí tuệ; 4. công lý; 5. sự thật; 6. điều kiện hay trạng
thái bình thường; 7. phước đức; 8. đối tượng của nhận thức; 9. đức tính; 10.
giới hạnh; 11. thiền định; 12. vô ngã; 13. sự phạm giới; 14. nguyên nhân, lý
do.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Tâm Diệu Nguyên Quang
|
|
Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khổ
sinh tử nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng
sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng
sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục
đế, đến thế giới Chân đế.
Toàn bộ giáo điển của chư Phật là pháp
phương tiện, Ngài "dùng pháp thế gian, (tức thế tục đế) để giảng nói cho
chúng sinh" (2), cốt để
chúng sinh ngộ được cái chân lý tuyệt đối như Ngài vì Ngài thấy Tâm Phật và Tâm
chúng sinh vốn không khác, vốn tự đầy đủ mênh mông khắp không gian và thời
gian.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Thích Tâm Tịnh
|
|
Các giá trị do Đức Phật giảng dạy như tình
thương không biên giới, phục vụ nhân loại, sự bình đẳng và sự tôn trọng chân
giá trị của con người, các giá trị phổ quát và có thể ứng dụng khắp nơi, đã cấu
thành nên nền tảng đạo đức và luân lý vững chắc của xã hội của chúng ta, của
quốc gia của chúng ta và của những đặc cách của chúng ta.
Ngoài việc nhấn mạnh đến hành vi chân chánh
và thảo luận dân chủ, Đức Phật tin tưởng xác quyết rằng không có quyền lực
tuyệt đối nào về sự lãnh đạo Tăng đoàn có thể ngự trị trong bất kỳ thành viên
Tăng-già nào. Khi các vị đệ tử của hỏi về vấn đề ai sẽ là người thay thế Như
Lai lãnh đạo Tăng đoàn, Đức Phật đã trả lời rằng chỉ có chánh pháp, quy luật
muôn đời, có thể đảm nhiệm chức năng đó. Lời khải thị này dù trải qua hơn 2500
năm vẫn có giá trị vô song cho thời đại chúng ta hôm nay. Hơn thế nữa, lời dạy
ấy đã được thi hành trong thiết chế chính trị của chúng ta, trong các hội đoàn
dân chủ của chúng ta và còn là nguồn khích lệ và khai thị vĩnh hằng.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Nguyễn Thế Đăng
|
|
... Đạo Phật, với
muôn ngàn hướng đi, không gì khác hơn là làm cho con người càng ngày càng thực
hiện được tính người cao đẹp của mình, những điều Chân - Thiện - Mỹ đang tiềm
tàng hột giống nơi tính người được thực hiện, và sự thực hiện trọn vẹn thì gọi
là thành Phật. Đức Phật đã thực hiện tính người một cách trọn vẹn, trở nên con
người lý tưởng (nói theo danh từ Phật giáo là trí huệ, vô ngã, vị tha), trở
thành con người toàn thiện và toàn diện, được nói gọi là Bi - Trí - Dũng, hay
là bậc Chí thiện, hay là bậc Trong sạch, bậc Vị tha, bậc Điều ngự...
Đạo Phật thực
tiễn ngay trong chỗ thâm sâu nhất của nó là trí huệ. Đạo Phật cho rằng con
người đau khổ không mãn nguyện không phải vì một đấng nào ban phát hạnh phúc
hay khổ đau, không vì một hoàn cảnh bên ngoài nào, mà vì chính tâm thức con
người. Con người không thấy đúng, không thấy được như thực, mà chỉ thấy theo
vọng tưởng, thành kiến, tham chấp của mình. Từ đó phiền não, khổ đau nảy sanh.
Cái thấy đúng (chánh kiến) là sự mở đầu cho con đường đi đến hạnh phúc chân
thực. Vì thấy sai, từ đó suy nghĩ sai, sống sai, làm sai mà phiền não khổ đau
tiếp diễn.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Thạc Đức
|
|
...Sinh hoạt tâm
linh của con người phong phú hơn mọi vật. Khả năng ý thức, khả năng tự chủ và
khả năng phán đoán của con người đã nâng con người cao hơn mọi vật, và vì thế,
con người có một phẩm vị đặt biệt, một địa vị độc tôn. Con người có nhiều điều
kiện hơn hết để tiến hóa, tự do tiến hóa, tự do phát triển đến tận cùng những
khả năng tốt đẹp của chính mình. Nếu con người thiếu những điều kiện ấy thì con
người không còn là con người nữa, mà con người sẽ chẳng hơn gì mọi loài khác.
Vì thế, nếu con người bị cản trở trên bước đường tiến hóa, nếu con người bị
tước mất quyền tự do phán đoán, tự do suy tưởng, tự do quyết trạch, tóm lại, bị
tước mất quyền tự do tiến hóa, tức là nhân vị của con người bị khinh thị, chà
đạp, vì con người bây giờ chẳng còn có gì để mà tự bảo rằng mình là "tối
linh ư vạn vật" nữa.
...Cho nên đạo
Phật chỉ nhận rằng con người hơn mọi loài nhờ có nhiều điều kiện sinh lý và tâm
lý thuận lợi cho sự tiến hóa chứ không phải chỉ loài người mới có thể tiến hóa
thành Phật. Xác nhận địa vị thuận lợi của con người, đức Phật đã từng nói trong
Kinh Hoa Nghiêm:
"Nhân thị tối
thắng" (Con người là hơn cả). Trong nhiều Kinh điển, Ngài luôn luôn lặp
lại câu này để khuyên các đệ tử nên lợi dụng những điều kiện thuận tiện mà con
người sẵn có để tiến bước mau lẹ trên đường giải thoát: "Nhất thất nhân
thân, vạn kiếp nan phục" (Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại).
|
|
Đọc thêm...
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Thích Nguyên Hiền
|
|
Xét về phương diện
thuyết giáo của Phật, Đức Phật luôn lấy con người làm đối tượng quan sát. Ngài
luôn có thái độ im lặng đối với những câu hỏi siêu hình. Hoài bão ra đời của
Phật là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, tất cả các pháp đều nói cho
con người, bởi con người và vì con người. Kinh điển Phật giáo không chủ trương
thành lập một Vũ trụ luận theo hệ thống. Thế giới quan của Phật giáo chỉ là đối
tượng quan sát để giải quyết vấn đề Nhân sinh quan. Phật không bao giờ giải
thích về thế giới như hữu biên hay vô biên, ngoại trừ Vũ trụ quan được thuyết
minh qua tinh thần nội chứng của Bất tư nghì giải thoát cảnh giới nói trong
Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Duy Ma Cật hay một số kinh điển Đại thừa khác...
Sự nội chứng của Phật là toàn triệt, nhưng phương tiện thuyết giáo
ở mỗi địa vực và thời gian khác nhau sẽ tạo thành những giáo lý khác nhau.
Chúng không mâu thuẫn trên đại để, nhưng chắc chắn sẽ có dị biệt đối với từng
nhu cầu thuyết giáo của các căn cơ. Nếu không khảo sát kỹ quá trình này, người
học Phật sẽ hoang mang khi nghiên cứu Phật giáo Bộ phái, và sẽ có nhiều điều
bất tín khi đọc kinh điển Đại thừa sau này. Đó là lý do lớn nhất để người viết
trình bày viết này...
|
|
Đọc thêm...
|
|
Nghiên Cứu Phật Học -
Triết Học Phật Giáo
|
|
Viết bởi Thích Thiện Quang
|
|
...Câu chuyện ngụ
ngôn Rùa và Cá vẫn là một minh họa sống động cho kết luận này. Làm sao cá hiểu
nổi khái niệm đất liền là gì! Dù rùa có dùng hữu ngôn hay vô ngôn thì cá cũng
đành chịu thôi! Chúng ta, cũng vậy, không thể nào hiểu Niết bàn là gì khi chưa
thật chứng Niết bàn. Ngôn ngữ không phải bất lực trong diễn đạt mà do chúng ta
chưa có kinh nghiệm Niết bàn, thì dù diễn đạt bằng phương tiện nào cũng chỉ là
một ảo giác về nó. Câu chuyện Rùa và Cá cốt để cảnh tỉnh cho những ai đi tìm
chân lý trên bình diện ngôn ngữ chứ không nói đến cái bất lực trong cung cách
diễn đạt của ngôn từ, tác dụng của ngôn từ là diễn đạt. Đó là cái dụng chứ
không phải bản thể, cái thể của ngôn ngữ cũng thường tự tịch diệt tướng; thường
vắng lặng...
Đẹp là sự vắng
mặt của tham, sân, si, sự đổ vỡ của thế giới hữu ngã. Tất cả những gì gây nên
đau khổ, khi chúng bị đoạn trừ là Niết bàn, là Đẹp. Con người thoát khỏi tham
lam, thù hận và si mê nhiều chừng nào thì hạnh phúc càng gia tăng chừng đó.
Niết bàn sẽ hiện hữu ngay từ bước khởi đầu và rồi thăng tiến theo lộ trình ấy
cho đến lúc viên mãn. Niết bàn, như vậy là giác ngộ, giải thoát khỏi những cùm
xích của ngã và ngã sở. Đó là cái Đẹp. Một cái Đẹp như vậy thường được tán thán
với những ngôn từ diễm lệ.
|
|
Đọc thêm...
|
|
|
|
|
|
|
Trang 1 của 3 |
|