| Khái niệm về nghiệp |
|
|
|
| Nghiên Cứu Phật Học - Phật Học Căn Bản | |||||||||||
| Viết bởi Hoang Phong | |||||||||||
Trang 1 của 6
![]()
Nghiệp là một khái niệm chủ yếu trong giáo lý Phật giáo mang nhiều khía cạnh tâm lý và triết học siêu hình thật sâu sắc và phức tạp, thế nhưng lại thường được hiểu một cách quá máy móc và đơn giản. Bài viết dưới đây sẽ cố gắng trình bày khái niệm căn bản này dưới các góc nhìn bao quát, khoa học và triết học hơn. Vài nét đại cương về nghiệp theo giáo lý Phật giáo Nghiệp tiếng Phạn là karma hay karman, tiếng Pali là kamma, có nghĩa là một "hành động", một "hành vi". Vần kar (car) trong chữ karma có nghĩa là "hành động", "tác động", và cũng là vần gốc làm phát sinh ra chữ creare trong tiếng La-tinh, chữ creare lại biến thành créer khi chuyển sang tiếng Pháp và chữ create trong tiếng Anh, tất cả các chữ này đều có nghĩa là tạo ra, gây ra... Tóm lại có thể hình dung karma như là một động lực thúc đẩy để tác tạo một cái gì đó. Phật giáo Tây phương không dịch chữ này mà dùng thẳng tiếng Phạn là karma hay karman hoặc tiếng Pali là kamma. Ngày nay chữ karma đã trở thành một từ thông dụng trong các ngôn ngữ Tây phương và các tự điển phổ thông đều có nêu lên và giải thích từ này. Nói thế để thấy rằng ngày nay đối với nền văn hóa phương Tây khái niệm về nghiệp đã trở nên phổ cập. Thế nhưng đối với quảng đại quần chúng Tây phương và có thể cả Á đông, nghiệp đôi khi được hiểu như một thứ định mệnh, một hình phạt đeo sát người "tạo ra" nó như bóng với hình. Khi nghe nói đến nghiệp họ thường liên tưởng đến một cái gì đó thật tệ hại mà họ phải gánh chịu. Đối với những người có đôi chút kiến thức về Đạo Pháp thì nghiệp tượng trưng cho một khía cạnh vận hành nào đó của một quy luật tổng quát gọi là quy luật "nguyên nhân - hậu quả". Đấy là một quy luật tự nhiên, mang tính cách toàn cầu và không nhất thiết tượng trưng cho một sự áp đặt. Người tu tập đúng đắn chẳng những không sợ hãi quy luật ấy mà còn biết dùng nó để hành động một cách chân chính để thực hiện những quyết tâm và ước vọng của mình hầu mang lại hạnh phúc cho chính mình và người khác. Tuy nhiên cách hiểu trên đây về nghiệp cũng đã được đơn giản hóa rất nhiều, vì thật ra nghiệp hàm chứa nhiều khía cạnh phức tạp liên quan đến nhiều khái niệm khác trong giáo lý Phật giáo. Thật vậy đối với Phật giáo, khái niệm về nghiệp không đơn thuần tượng trưng cho một chuỗi tiếp nối giữa những nguyên nhân ngẫu biến mang lại những hậu quả tất yếu mà con người phải gánh chịu một cách thụ động, mà cũng không quan niệm nghiệp là một thứ định mệnh an bài mang tính cách tiền định và thiêng liêng. Thật vậy, nếu hiểu đúng những lời giáo huấn của Đức Phật thì nghiệp chính là một sự cảnh giác, một niềm hy vọng lớn lao, một cách ý thức trách nhiệm đối với chính mình và người khác. Văn hóa Tây phương chịu ảnh hưởng nặng nề về một định đề triết học và tôn giáo lâu đời dựa trên nền tảng chủ nghĩa cá nhân, tức xem con người là duy nhất, khác biệt nhau và tách rời khỏi thế giới chung quanh. Sự hiểu biết về nghiệp của một số người Tây phương do đó đôi khi cũng trở nên đơn giản và máy móc. Thật vậy, ta sẽ không thể nào hiểu được nghiệp nếu chỉ biết đơn giản căn cứ vào sự phân biệt giữa "cái tốt" và "cái xấu", "cái đúng" và "cái sai". Cách suy luận như thế quả thật quá đơn sơ và thô thiển để có thể hiểu được khái niệm về nghiệp một cách thỏa đáng. Cái Lôgic (hay sự hợp lý) của nghiệp thực sự không mang tính cách trực tiếp tức hướng theo một đường thẳng - hoặc tích cực hoặc tiêu cực - mà đúng hơn đấy là một sự tương tác vô cùng phức tạp giữa vô số hiện tượng, vừa vật-chất và phi-vật-chất, xuyên qua không gian và thời gian, liên quan đến lãnh vực nội tâm của một cá thể và cả thế giới hiện thực bên ngoài. Vậy nghiệp thực sự là gì ? Trước hết nghiệp có nghĩa là một sự chủ tâm, một ý định (intention), một tác động tâm thần mang tính cách duy ý còn gọi là tác ý (volition), tiếng Phạn là cetana. Tác ý hay sự chủ tâm (cetana) là một trong sáu khả năng căn bản của tâm thức gọi là tri thức tâm thần (manovijnana), năm tri thức kia là năm tri thức giác cảm. Tri thức tâm thần luôn luôn sinh động trong tâm trí của một cá thể và hàm chứa khả năng cảm nhận một vật thể hoặc một biến cố thuộc ngoại cảnh, hoặc một hình ảnh phát sinh trong tâm thức. Các đối tượng vừa kể khi được cảm nhận bởi tri thức sẽ làm nảy sinh ra xúc cảm. Xúc cảm hiển lộ dưới thể dạng một hành vi tâm thần, tức một sự duy ý hay tác ý và đấy chính là nghiệp. Nói cách khác nếu sự cảm nhận của ngũ giác và tri thức khi tiếp xúc với đối tượng nhưng không làm phát sinh ra ý định, duy ý hay tác ý thì sẽ không tạo ra nghiệp, chẳng hạn như sự tiêu hóa, bài tiết, kể cả các giác cảm và sự nhận thức đơn thuần. Tóm lại sự chú tâm, ý định hay tác ý giữ vai trò hướng tâm thức vào một đối tượng thuộc bối cảnh bên ngoài hay một hình ảnh trong tâm thức, do đó người ta có thể định nghĩa nghiệp là một sự chuyển động hay một động tác. Sự chuyển động của nghiệp tác động liên tục trên dòng chảy của tâm thức. Vì thế nếu không chủ động được sự tác động của dòng lưu chuyển đó thì một cá thể sẽ liên tục tạo nghiệp cho chính mình. Thiền định là một cách làm giảm bớt đi hoặc ngưng hẳn dòng chuyển động và hình thành liên tục của nghiệp trong tâm thức. Trong quyển sách (L'Enseignement du Bouddha, Seuil, 1961, trang 42) Walpora Rahula có trích dẫn một lời giảng của Đức Phật trong Tăng Chị Bộ kinh như sau : "Này các tỳ kheo, Ta bảo rằng tác ý (cetana) đấy là nghiệp (kamma). Với ý muốn (chủ đích trong tâm thức) người ta hành động bằng thân xác, bằng ngôn từ và bằng cơ quan tâm thần của mình", (Tăng Chi Bộ Kinh, Anguttara-nikaya, III, 415, ấn bản Colombo, 1929, trang 500). Thiết nghĩ để có thể hiểu được nghiệp là gì thì có lẽ đây là một trong những lời giảng quan trọng của Đức Phật. Ý nghĩa trong câu trên đây cho thấy rõ tác ý đã là nghiệp, từ nghiệp sinh ra hành động trên thân xác, bằng ngôn từ hay trong nội tâm tức cơ quan tâm thần. Chữ cơ quan tâm thần là dịch từ chữ organe mental trong câu tiếng Pháp, tiếng Phạn là manas, tiếng Pali là mano, kinh sách gốc Hán dịch là mạt-na thức. Mạt-na thức là thức thứ sáu còn gọi là tri thức (consciousness), hoặc nếu hiểu theo học phái Duy thức (Yogacara) thì đấy là thức thứ bảy (còn gọi là nhiễm tâm - klistamanas), các vấn đề liên quan đến các thuật ngữ này sẽ được trình bày chi tiết trong các phần bên dưới. Ý định hay tác ý xảy ra trong từng khoảnh khắc một, tức mang tính cách nhất thời có nghĩa là không liên tục, thế nhưng khi khoảnh khắc ấy chấm dứt thì vết hằn hay sự tồn dư vẫn tiếp tục lưu lại trong khoảnh khắc xảy ra tiếp theo sau đó, đây cũng là cách giải thích về trí nhớ theo quan điểm của Phật giáo. Vết hằn của tác ý lưu lại một dấu vết trên dòng chảy của tâm thức gọi là mầm mống, nghiệp lực, chủng tử, v.v...(tiếng Phạn vasana), tượng trưng cho một xung năng hay một sức mạnh thúc đẩy. Vào một lúc nào đó khi một số điều kiện hay cơ duyên hội đủ tạo ra hoàn cảnh thuận lợi thì các vết hằn của nghiệp sẽ làm phát sinh ra hậu quả mang cùng một bản chất tích cực hay tiêu cực với các dấu vết ấy. Câu trích dẫn sau đây trong kinh Di-lan-đà (Milandapanha, còn gọi là Na-tiên Tỳ kheo kinh) có thể tóm lược những gì vừa trính bày trên đây. Trong kinh này nhà vua Di-lan-đà (Milanda, vua xứ Penjab, thế kỷ thứ II trước Tây lịch) có hỏi tỳ kheo Na-tiên (Nagasena) như sau : "Thế thì nghiệp nó nằm ở đâu ?". Tỳ kheo Na-tiên trả lời như sau : "Thưa Đại vương, không thể bảo nghiệp được "cất giữ " một nơi nào đó [cố định] trong cái tri thức luôn luôn chuyển động không thể nắm bắt được, hoặc một nơi nào đó trong thân xác. Thế nhưng nó lại tùy thuộc vào tâm thức và vật chất (thân xác) và sẽ phát hiện vào một thời điểm thích nghi. Cũng thế không thể bảo rằng các quả xoài được "cất giữ" một nơi nào đó trong cây xoài, thế nhưng nó lại lệ thuộc vào cây xoài và hiện ra (đơm quả) khi mùa màng thích nghi", (dựa theo bản dịch tiếng Pháp của Louis Finot, Les questions de Milanda, Ed. Dharmas, 1983) Khi một vết hằn được lưu lại trên dòng tri thức của một cá thể, nó sẽ liên kết với vô số các dấu vết khác tức những ý định hay tác ý khác có sẵn từ trước hoặc sẽ phát sinh sau đó để tạo ra một sự "kết hợp" mang một "xu hướng chung", thúc đẩy cá thể ấy phát lộ trong tương lai những tác ý mang một xu hướng nào đó mà cá thể ấy không cưỡng lại được. Tác ý sẽ xui khiến cá thể ấy "phạm" vào những hành động mang tính cách tự phát tức có nghĩa là thực thi một cách tự động. Tóm lại nghiệp gồm có hai thành phần và cả hai đều thuộc vào lãnh vực tâm thần : thành phần thứ nhất là ý định tức thuộc cùng một thể loại phi-vật-chất với tâm thức, thành phần thứ hai là một vết hằn ghi khắc trên dòng tri thức của một cá thể. Vết hằn có thể hiển hiện và chuyển thành quả bất cứ lúc nào, do đó có thể gọi nó là mầm mống tồn lưu trong tri thức. Mầm mống đó sẽ tác động và chi phối sự hình thành của một cá thể trong tương lai, tức ảnh hưởng đến sự cấu tạo hình tướng và tâm thức của cá thể ấy.
|




