| Ý nghĩa Phẩm Pháp Sư thứ 10 |
|
|
|
| Nghiên Cứu Phật Học - Phật Học Căn Bản | |||
| Viết bởi Thích Trí Quảng | |||
|
Trước khi nói kinh Pháp Hoa, Đức Phật chưa thọ ký cho ai thành Phật, chỉ có người đắc A la hán hay Bích Chi Phật, nghĩa là có sai biệt giới; nhưng đến đây quy về bản thể tu hành thì hàng Thanh văn và Duyên giác phải thành Phật, không thể thành quả vị gì khác. Ngoài ra, Đức Phật còn mở rộng sự thọ ký, kể cả hàng cư sĩ tu hành cũng thành Phật. Người tu trước thì đạt quả vị trước và ai tu cũng thành Phật. Ý này bắt đầu bằng phẩm Pháp Sư thứ 10, Đức Phật nói với Dược Vương Bồ tát: “Tất cả Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, thiên long bát bộ, người cầu Thanh văn, người cầu Bồ tát hay cầu Phật đạo mà ở trước Phật nghe kinh Pháp Hoa một câu, một kệ, một niệm tùy hỷ, ta đều thọ ký Vô thượng Bồ đề”.
Trước đó, Đức Phật chỉ thọ ký cho người xuất gia tu hành có đức hạnh như Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Tu Bồ Đề, A Nan, La Hầu La, v.v... Nhưng nay, Đức Phật thọ ký cho mọi thành phần, không phân biệt xuất gia hay cư sĩ, nam hay nữ và kể cả loài súc sinh. Khi họ chưa phát Bồ đề tâm thì chưa thành Phật được, nhưng nếu phát tâm Bồ đề và tu hành, chắc chắn cũng thành Phật. Tuy nhiên, đến đây còn loại trừ hàng nhứt xiển đề, họ không thể thành Phật. Chúng ta nghe kinh Pháp Hoa là học và thực hành pháp tu của Bồ tát hướng đến độ sinh. Một vị đắc A la hán đi vào sinh tử để thực hiện việc giáo hóa chúng sinh; nói cách khác là hành Bồ tát đạo đến khi trọn vẹn được công hạnh của Bồ tát thì sẽ đạt quả vị Phật. Ở giai đoạn tu Thanh văn một mình, nay phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo lấy giáo hóa độ sinh làm việc chính. Việc hành Bồ tát đạo của chúng ta cao hay thấp căn cứ ở thành quả giáo hóa chúng sinh. Độ được càng nhiều người sống theo pháp Phật, công đức chúng ta càng lớn. Như vậy, con đường đi đến Phật quả là phải thực hiện việc giáo hóa độ sinh, cho đến khi không còn người nào, loài nào mà ta không cảm hóa được thì mới thành tựu quả vị Phật. Khi chưa tu, chúng ta không độ được người. Đến khi phát tâm xuất gia học đạo, rèn luyện pháp tu Thanh văn, chúng ta trở thành người đạo đức, tức không tham, sân, si. Từ mẫu đạo đức của Thanh văn, tiến sang bước thứ hai, thực tập pháp tu quán nhân duyên của hàng Duyên giác sẽ giúp chúng ta trở thành người trí thức có tầm nhìn thấy xa biết rộng. Quán 12 nhân duyên là mở rộng tầm hiểu biết về nhân duyên sinh diệt của tất cả các pháp, vì thấy nhân duyên là thấy pháp. Thật vậy, theo Phật, tất cả pháp đều do nhân duyên sinh, nên ta biết được nhân duyên là biết được tất cả pháp hữu hình, vô hình, hữu tình, vô tình. Nói theo ngày nay là phải thấy được sự việc ở mọi mặt về chính trị, văn hóa, xã hội, v.v... Nghe kinh Pháp Hoa tùy hỷ, được Đức Phật thọ ký, tức phát triển đạo đức và tri thức làm đẹp cuộc đời là được thọ ký; không cần phải là Tăng Ni. Ngoài ra, kinh dạy rằng những người là hành giả Pháp Hoa thật sự tức là người đã thành Vô thượng Đẳng giác vì thương nhân gian sinh lại đời. Ý này mở ra cánh cửa thứ hai để chúng ta thấy khác lạ hơn. Trước kia, chúng ta thấy chỉ có con đường từ đây đến thành Phật là từ nhân hướng quả. Nhưng đến yếu nghĩa Pháp Hoa thì từ quả hướng nhân, là vì thương nhân gian mà sinh lại cuộc đời. Điều này giúp chúng ta phân biệt được Bồ tát từ nhân hướng quả và Bồ tát từ quả hướng nhân. Mới phát Bồ đề tâm tu hành, việc công phu tu tập của chúng ta còn nhiều khó khăn lắm. Biết như vậy, ta không phiền não, ganh tức với người; nếu không, ta dễ bất mãn, khinh khi rằng họ dở hay tu sau ta, thì bị tổn phước. Bồ tát từ nhân hướng quả tu hành vất vả cực khổ mà kết quả không được là bao, thậm chí nhiều khi còn bị kết quả xấu. Trái lại, Bồ tát từ quả hướng nhân sống đơn sơ, làm việc đơn giản mà thành quả không ai có thể sánh bằng, phải biết đó là người ngoại lệ. Nếu ai chê Bồ tát thương nhân gian sinh lại đời thì bị tội nặng còn hơn chửi mắng Phật trong một kiếp. Tôi nghiệm ý này thấy rằng nếu ta có học mà thua người không học thì phải tự xấu hổ, còn khinh chê họ là tự hại mình. Đừng chê những thầy có nhiều đệ tử, chê họ thì đệ tử họ ghét ta, chống ta. Trân trọng họ thì đệ tử họ cũng thương mình. Sinh trên cuộc đời, có người được quyến thuộc đông, người ít quyến thuộc; đó là do quá trình hành Bồ tát đạo đời trước. Nếu đời trước chúng ta học giỏi, nhưng tu hạnh viễn ly Thanh văn, Duyên giác, không giúp đỡ ai, nên đời này không ai theo ta. Thầy dở, nhưng người theo vì đã cưu mang họ. Học kinh Pháp Hoa phải nhớ lý nhân duyên. Theo duyên mà độ là làm đúng với sự phân công tự nhiên thì lòng ta luôn thanh thản. Trong phẩm Pháp Sư nói rằng người nghe kinh Pháp Hoa mà tin được và áp dụng trong cuộc sống thì được gần Phật, được Phật thọ ký. Hàng Thanh văn chưa nghe được kinh này, trong khi ta đã nghe rồi là biết ta đã tiến được một bước. Và người nghe kinh Pháp Hoa mà kinh nghi, sợ sệt là Thanh văn tăng thượng mạn hay Bồ tát mới phát tâm. Thanh văn tăng thượng mạn thì nhìn sai lệch, vì không hiểu đạo nên thường phê phán người được quần chúng ủng hộ, cho rằng họ dở, không học, không tu và ưa nói xấu họ, nên thường bị quả báo. Nhà Như Lai, áo Như Lai, tòa Như Lai Hành Bồ tát đạo là cứu người, giống như thầy thuốc chữa bệnh cho người, họ bị đau đớn vì bệnh nhưng lại la mắng thầy thuốc cứu họ; ông ta vẫn vui vẻ là biết thầy thuốc này có tâm từ bi. Giáo hóa độ sinh cũng vậy, người làm gì cũng được, miễn ta độ thoát được họ thôi. Và cứu độ người chống đối, hại ta thì công đức lại lớn hơn, sau này, họ sẽ quý trọng ta nhiều hơn. Lịch sử về cuộc đời truyền giáo của Ngài Nhật Liên cho thấy có người tìm ra tận đảo nơi Ngài đang bị tù đày để giết Ngài. Lúc ấy, Nhật Liên Thánh nhân đang nhập từ tâm tam muội và tên sát nhân đứng bên ngoài hang tuyết chờ, bỗng nhiên lòng thù hận của ông bị tâm từ bi của vị Thánh Tăng này tác động, nên đã chuyển đổi từ tâm sát hại thành tình thương đối với Ngài. Và sau đó ông sám hối, xin làm đệ tử của Nhật Liên, trở thành người hầu cận sống chết với Ngài. Điều thứ ba là ngồi tòa Như Lai vì biết các pháp trong thế giới sinh diệt như mộng huyễn bào ảnh. Mọi vật đều hoàn không, không có gì tồn tại mãi và ta nhắm mắt lìa đời cũng không đem theo được cái gì. Ý thức như vậy, chúng ta không bận tâm với nó, tất nhiên cũng không tham đắm nó, nên chẳng xảy ra vấn đề gì phải đối phó. Nếu chúng ta còn kẹt pháp hữu vi, mà không bảo vệ được điều mình thích thì phiền não nhân đó phát sinh và gây phiền phức với người. Chúng ta coi như mọi sự việc đều không có, nhưng ta sử dụng nó như phương tiện để cứu đời; không phải không có rồi buông tay thụ động, không làm việc lợi ích cho người thì uổng phí cuộc đời.
HT. Thích Trí Quảng
|




