| Tinh thần Nhập thế của Phật giáo thời Trần |
|
|
|
| Nghiên Cứu Phật Học - Phật Giáo và Dân Tộc |
| Viết bởi Như Hạnh |
|
TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO THỜI TRẦNNhư Hạnh
I - DẪN NHẬP Đa số người đời cho rằng đạo Phật là đạo bi quan, tiêu cực, yếm thế; người tu Phật là kẻ chán đời, ăn bám, trốn tránh cuộc đời. Nếu có được một ít thiện cảm, người ta lại nhìn những Tăng Ni trẻ bằng cặp mắt tiếc rẻ, tội nghiệp. Phạm Quỳnh trong Thượng Chi Văn Tập(1) đã nhận định về Đạo Phật như sau: “Đạo Phật là gì? Đạo Phật là câu hát não nùng để ru ngủ cho những dân chán đời ở cõi đông phương, ru cho êm giấc mộng nghìn năm. Mà câu hát ấy, từ hai mươi lăm thế kỷ đến giờ cũng đã từng ru cho biết bao nhiêu kẻ sầu não đau lòng! Nào những người đa sầu đa cảm, ngán nỗi đời mà cam lòng đợi chết, nào những kẻ học giả thâm trầm, cay sự thế mà mơ màng tịch diệt, nên chắp tay mà vái lạy Phật Đà. Lại những người kia nữa, số nhiều biết bao nhiêu, sống ở đời mà ghét căm sự sống, khác nào như một phường kèn thảm, thổi sau một đám rước to, chạy quanh trên vũ đài thế giới, nên lên giọng mà ngợi khen Thầy Mâu Ni đã đắc đạo. Thầy là tôn Sư của các người. Dù giọng các người căm tức mà ngạo mạn, hay than khóc mà nỉ non thâm trầm mà trịnh trọng, hay nức nở mà kêu oan, bài than vãn cũng là một, mà bài ấy là Phật đã xướng lên. Lại những bậc triết nhân yếm thế, các ngài nên tôn trọng Phật đà. Ngày nay các ngài băn khoăn trong dạ, xưa kia Phật đã khắc khoải trong lòng, các ngài làm môn đồ Phật cũng không mất giá chi. Cổ lai những người được cái thiên chức làm hướng đạo cho loài người vào trong cõi siêu nhân loại không phải là có nhiều. Tưởng thế cũng là đủ, cái bí tàng của tạo vật, biết chút thế cũng đủ sống...”
Và gần đây nhất, Nguyễn Tài Thư trong Lịch Sử Phật Giáo Việt “Nếu như nhập thế là một khuynh hướng tư tưởng của một học thuyết, một tôn giáo chủ trương tham gia các hoạt động chính trị và giải quyết các vấn đề chính trị xã hội thì Phật giáo không phải là một tôn giáo nhập thế-trái lại nó là tôn giáo xuất thế hay còn gọi là yếm thế.”
Trên đây là hai ý kiến đại diện cho những người đồng quan điểm đã nhìn nhận một cách phiến diện, thiếu cơ sở và hết sức sai lầm về đạo Phật. Căn cứ vào lịch sử Phật giáo Việt Nam, chúng ta sẽ thấy: Rõ ràng không phải ngẫu nhiên đạo Phật khi du nhập vào Việt Nam lại có thể trở thành thứ tôn giáo tín ngưỡng của đa số dân chúng Việt Nam, thở cùng nhịp đập Việt Nam, gắn chặt với văn hóa Việt Nam và hòa quyện cùng vận mệnh thịnh suy của Việt Nam. Chắc chắn phải nhờ một nét đặc thù nào đó đã kết tụ nên sắc thái Phật giáo việt Thật vậy, chính giai đoạn thời Trần với luồng gió “nhập thế” lớn mạnh của Phật giáo đã dựng nên một bối cảnh huy hoàng của lịch sử Việt Nam trải dài gần hai trăm năm, tạo nên những trang sử hào hùng oanh liệt của dân tộc Đại Việt nhỏ bé đã ba lần chiến thắng đội quân xâm lược vô địch Nguyên – Mông đương thời. Một thời đại điển hình về những vị vua anh minh: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông...mãi mãi lưu danh trong hậu thế cùng những vị tướng tài ba, trung hiếu: Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão,...quyết một lòng gìn giữ xã tắc. Một thời đại Phật giáo Việt Nam chuyển sang bước ngoặt mới mà đỉnh cao là sự khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đứng đầu là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đắc đạo nhờ vị thầy lãnh đạo tinh thần phong cách siêu phóng Tuệ Trung Thượng Sĩ và các đệ tử kế thừa xuất sắc: Pháp Loa, Huyền Quang, Kim Sơn,...Không những thế, chính tinh thần nhập thế của Phật Giáo thời trần cũng đã làm cho bộ mặt xã hội Việt Nam rực rỡ cả về văn hóa mỹ thuật lẫn quân sự chính trị. Phải nói rằng Phật giáo thời Trần với tinh thần nhập thế đã gây nên âm hưởng vang dội không chỉ một thời mà còn vọng mãi đến bây giờ và tới ngàn sau. Chính vì ray rức với quan điểm sai lệch của những người chưa hiểu tường tận về đạo Phật, cụ thể là hai ý kiến nêu trên; người viết chỉ muốn nhấn mạnh rằng đạo Phật chưa bao giờ là đạo yếm thế mà là đạo nhập thế tích cực. Người tu Phật đúng nghĩa không thể là kẻ chán đời mà trái lại chính họ phải là những người can đảm, yêu đời, đầy đủ nghị lực, ý chí để dấn thân, giáp mặt và chuyển hóa cuộc đời. Tuy nhiên, khi chọn đề tài Tinh thần Nhập thế của Phật giaó thời Trần này, người viết hoàn toàn không chủ quan ca ngợi đạo Phật mà chỉ làm sáng tỏ tinh thần nhập thế của Đạo Phật dựa vào sự thật lịch sử. Bởi vì cho dù người viết có muốn ca ngợi đạo Phật hay không thì lịch sử luôn là một bằng chứng sống động hùng hồn mà không ai có thể xóa mờ hay bác bỏ được. Vì phạm vi của một bài tiểu luận, người viết không thể làm nổi bậc hết tinh thần nhập thế của đạo Phật mà chỉ giới hạn trong giai đoạn Phật giáo thời Trần – thời vàng son sáng ngời trong sử sách. Để hoàn thành đề tài tiểu luận này, người viết rất may mắn được sự hướng dẫn tận tâm của Giáo Sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát, người dày công nghiên cứu sử và đã đang được xem như ngôi sao sáng của Phật học đương thời. Đặc biệt, người viết còn được sự hỗ trợ của Thầy tổ, cha mẹ và các chị em; nhất là vị thầy ân nhân luôn luôn khích lệ, động viên người viết về mọi phương diện. Dù người viết cố gắng hết sức để trình bày đề tài tiểu luận song vẫn không thể tránh khỏi những sai lầm ngoài ý muốn. Kính mong các bậc cao minh niệm tình tha thứ và chỉ giáo.
II – CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TINH THẦN NHẬP THẾ PHẬT GIÁO THỜI TRẦNThời Trần được khai sáng nhờ vị vua đầu triều là Trần Thái Tông. Thế nhưng, người khai thông tư tưởng cho Thái Tông và trao cho nhà vua chiếc chìa khóa tinh thần vững chãi lại là Quốc sư Viên Chứng – một nhà sư “ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng(3)” trên núi Yên Tử. Cho nên có thể nói chính Quốc sư là nhân tố gầy dựng nên vị vua mẫu mực, khơi nguồn dòng chảy “đức độ vẹn toàn, miệt mài sống đạo giúp đời” liên tục suốt gần hai thế kỷ triều đại. Và nghĩa là chính Quốc sư là động lực tất yếu thiết lập phong thái ưu việt của Phật giáo thời Trần. Bằng lời dạy bình dị, chân chất của tâm hồn sáng đạo, Quốc sư đã gởi gắm trọn vẹn tinh hoa tư tưởng đạo Phật chỉ trong một câu nói mở lối cho vua Thái Tông bước vào đạo: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ điều đó thì lập tức thành Phật, không cần khổ công tìm kiếm bên ngoài”(4) Và cũng bằng nhận thức thực tế, Quốc sư đã đề ra cho nhà vua một phương kế lãnh đạo thiết thực: “Phàm là bậc nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”(5). Rõ ràng cốt tủy của đạo Phật cô đọng trong ba chữ “Phật tại tâm”, và để nhận ra được “Phật tại tâm” ấy thì phải “quay về với tâm mình”. Nói cốt tủy đạo Phật là vì đây không phải là điều mới mẻ của Phật giáo đời Trần mà thật ra chỉ là một sự kế thừa có sáng tạo của Quốc sư Viên Chứng trong trong quá trình dụng công tu tập và sáng đạo để trao truyền lại cho thế hệ sau. Yếu chỉ Phật tại tâm đã được đức Thế Tôn nhắc đến rất nhiều lần thưở tại thế: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh(6)”. Và phận sự quay lại với chính mình là điều Đức Phật không ngừng khích lệ môn đồ, thậm chí ngay cả khi trước lúc xả báo thân vẫn căn dặn rành rọt: “Các người hãy là nơi nương tựa của chính mình, đừng tìm kiếm một nơi nương tựa nào khác(7)”, hay “ngươi là hòn đảo là nơi nương tựa của chính ngươi(8)”. Và nếu đi vào kho tàng giáo lý Đức Phật thì chúng ta chắc chắn sẽ nhận ra một điều là trong tám vạn bốn ngàn pháp môn ấy tuy nhiều nhưng tựu trung vẫn chỉ là xoay quanh một con đường chính. Đó là con đường hướng nội hay con đường quay về với tự thân chính mình. Cho nên có thể nói: Nếu mục tiêu của một người tu Phật là thấy đạo thành Phật thì con đường hướng nội là con đường thành tựu duy nhất mà người ấy phải miên mật trải qua. Hướng nội được xem là tiền đề của chặng đường tu tập chính vì đây là con đường đấu tranh đầy cam go, gian khổ ở bản thân mỗi con người. Dù biết rằng mỗi người đều có sẵn hạt nhân Phật, ấy là Phật tánh nhưng bên cạnh đó con người còn mang cả những yếu tố bất toàn là tham, sân, si. Hướng nội vì thế là cuộc đấu tranh thầm lặng hết sức gay gắt trong mỗi giờ mỗi phút đối với tự thân mỗi người để tự hoàn thiện chính mình ngày một tốt hơn. Nếu không hướng nội, con người sẽ mãi say sưa sống trong vọng tưởng đảo điên, chạy theo trần cảnh miên man không dứt. Và rồi mang tâm tư của người bám vọng tưởng để đi vào đạo, nếu không thức tỉnh để tìm về tự thân thì khó tránh việc tìm cầu chân hạnh phúc ở tận phương trời xa xôi nào khác. Như vậy, điều kiện cấp thiết đối với một người học Phật chính là phải có một phen quyết áp dụng phương pháp hướng nội cho lộ trình chuyển hóa nội tâm mới mong lần hồi tỏ rõ chân tâm, thể hội Phật tánh. Sự việc các vị vua – thiền sư thời Trần nhờ khéo hướng nội cho mỗi khoảnh khắc dụng công đã khiến cho ánh sáng Phật giáo tỏa rạng khắp bầu trời Đại Việt. Và hiển nhiên, hàng loạt phẩm cách cao đẹp như: tự chủ, tự lực, tự cường, tự nắm lấy và tự lèo lái vận mệnh quốc gia của người dân Việt cũng nhờ vậy càng thể hiện mạnh mẽ hơn, như câu nói khẳng khái của Trần Thủ Độ: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo(9)”, và lời tâm huyết của Trần Hưng Đạo “Nếu bệ hạ muốn hàng xin chém đầu tôi đi đã(10)”, cũng như hình ảnh Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi yên bất động dù bị quân hầu của Trần Hưng Đạo thọc giáo vào bắp vế,... Men theo dòng chủ lưu hướng nội vua Trần Thái Tông đã thực tu, thực chứng và khuyên nhủ mọi người hãy: Quay đầu tìm biết, quang minh ngay đó tự nhiên sanh(11) Chớ mải mê làm khách, quay về sớm chiếu soi(12) Lang thang làm khách phong trần mãi Ngày cách quê xa muôn dặm trình(13) Với Thượng Sĩ, ngoài việc bừng tỉnh con đường phải đi cho Vua Trần Nhân Tông: “Soi sáng lại mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được” ra, mục tiêu “hướng nội” được Ngài thức tỉnh rất nhiều trong các lời dạy: Phật tức tâm, tâm tức Phật; Diệu chỉ sáng ngời suốt cổ kim(14) Bảo anh thôi chớ nương cửa khác Một điểm ánh xuân chốn chốn hoa(15) Thôi tìm Thiếu Thất với Tào Khê Thể tánh sáng trưng đâu có mê(16) Đều là mày ngang mũi dọc như nhau Phật với chúng sanh khác mặt nào(17) Còn vua Trần Nhân Tông thì chỉ ra một kết quả cụ thể hơn: Khi ta đã thực sự nỗ lực quay về và thực sự nếm được pháp vị cũng chính là lúc Phật Di Đà, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, thể tánh kim cương và tâm viên giác nhiệm mầu đang ngự trị trong ta: Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc(18) Tích nhân nghĩa tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca Cầm giới hạnh đoạn ghen tham, chỉn thực ấy là Di Lặc(19) Dứt trừ nhân ngã thì ra tướng thực kim cương Dừng hết tham sân mới tỏ lòng mầu viên giác(20) Vậy mới hay: Bụt ở trong nhà chẳng phải tìm xa Nhân khuẩy bổn nên ta tìm Bụt Đến cốc hay chỉn Bụt là ta(21) Tuy nhiên, nếu con người là cơ hội hạn hữu để quả Phật hiển lộ thì cuộc đời sẽ là điểm hẹn tối quan trọng mà con người cần có để rèn luyện tự tâm. Nói cách khác, không thể có quả Phật ngoài con người huyễn hóa tạm bợ cũng như không thể có đạo tràng thực nghiệm nào ưu thế hơn đạo tràng cuộc đời. Đây là điều mà Lục Tổ Huệ Năng ngày trước đã vạch rõ: Phật pháp ở tại thế gian Không lìa thế gian mà có Lìa thế gian tìm Bồ Đề Giống như đi tìm sừng thỏ(22) Kế thừa và phát huy truyền thống “Đạo Phật không rời cuộc sống” này, các vị vua thiền sư thời Trần đã “đem đạo Phật đi vào cuộc đời” một cách hữu hiệu từ phương châm hành động: “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”, và đã hình thành “Tinh thần nhập thế tích cực” nổi bậc của lịch sử phật giáo Việt Nam. Tuy nhập thế không phải là tính chất riêng có của phật Giáo thời Trần nhưng ảnh hưởng từ vai trò của nhà nhập thế đã đưa Phật giáo thời Trần vươn tới đỉnh cao của lịch sử tư tưởng nhân loại, cũng như lịch sử Việt Nam vươn tới đỉnh cao trên vũ đài chính trị. Nếu vai trò nhập thế của nhà chính trị là chăm sóc dân tình, giữ gìn yên bình cho xã tắc thì vai trò nhập thế của người tu Phật là đem ánh sáng đạo Phật vào đời để giúp đời. Những nhà nhập thế tiêu biểu thời Trần như: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông,...nhờ có sự kết hợp hài hòa đủ cả hai yếu tố nhập thế này nên mới tạo được thế đứng hiên ngang của lịch sử Việt Nam thế kỷ XIII về những cuộc chiến thắng thần thánh. Bởi vì nếu cả hai vai trò nhập thế trên không cùng được thể hiện thì không dễ gì các vị vua - thiền sư Đại Việt xứng đáng được lưu truyền. Về điểm này, so với vị vua Phật tử Lương Võ Đế đời Đường ở Trung Hoa cho thấy: Cũng là vua, cũng là Phật tử thuần thành, thuyết pháp tuyệt hay; thế nhưng, khi đất nước Trung Hoa lâm cơn khói lửa, thay vì xông pha trận mạc nhà vua lại đóng cốc tĩnh tu đã đưa đến thảm họa đau thương cho đất nước. Đối với các vị vua- thiền sư thời Trần, dù phải tận dụng mọi lúc rảnh rang để nghiên tầm kinh điển vẫn sẵn sàng “cởi áo cà sa, khoát chiến bào” khi bờ cõi tổ quốc lâm nguy. Phong cách của các nhà nhập thế thời Trần là sống “hòa quang đồng trần(23)”, tức sống hoà lẫn trong thế tục. Các thiền sư thời Trần sống cùng mọi người nhưng không hề làm ra vẻ khác người, vẫn chia xẻ buồn vui một cách tự nhiên cùng nhân tình thế thái: Đói thì ăn chừ cơm góp mười phương Mệt thì ngủ chừ nơi chẳng quê hương(24) Đó là mô hình “sống ở đời mà vui với đạo” của vua Nhân Tông: Ở trần vui đạo cứ tùy duyên Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền Báu sẵn trong nhà thôi tìm kiếm Lặng lòng đối cảnh hỏi chi thiền(25) Sống rất đạm bạc, không quan trọng hóa những thiếu thốn vật chất tầm thường: Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa hoặc chằm hoặc xể Cơm cùng cháo đói no đòi bữa dầu bạc dầu thoa(26) Như hoa sen tinh khiết vươn lên từ chốn bùn lầy, các vị sống trà trộn giữa dòng đời nhưng mọi cám dỗ cuộc đời không làm vấy bẩn được tâm thái an tường tĩnh lặng. Chỉ có sự giác tỉnh triệt để ở tự tâm, vua Thái Tông mới có thể biểu hiện thái độ “xem ngai vàng như một chiếc giày cũ(27)”. Rõ ràng trong đời sống của các Ngài tuy bận rộn trăm việc nhưng không hề thiếu vắng thiền định. Không phải chỉ đơn giản với việc “Mình ngồi thành thị, nết dùng sơn lâm(28)” mà là lúc nào các Ngài cũng an trụ trong định: “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền(29)” chứng tỏ ngay cả khi lâm triều họp bàn chính sự hay lúc lâm trận điều binh khiển tướng các Ngài cũng không rời thiền định. Trước mắt các Ngài do vậy các pháp đều thành vi diệu nhiệm mầu: “Trong ảo sắc cũng là chân sắc; nơi phàm thân cũng thực pháp thân(30)” Và khi tâm đã lắng mọi vọng niệm lăng xăng thì nơi nào cũng là đạo tràng và chốn nào cũng tiện bề “hồi quang phản chiếu”: Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng Liễu mềm hoa tốt ngất quần sanh tuệ nhật sâm lâm(31) Áng tư tài tánh sáng chẳng tham há vì ở cánh diều Yên Tử Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển lọ chi ngồi am sạn non đông(32) Nghĩa là không gian, thời gian cũng không chi phối được những con tim đầy nhiệt huyết tu tập: Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên Chùi cho vằng vặc tính gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo(33) Chỉ với phong thái nhập thế như vậy mới thật xứng đáng làm niềm tin cho Phật Pháp, làm gương cho đời: Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công(34) Tóm lại, Phật giáo thời Trần lấy “hướng nội” làm nền tảng, lấy “nhập thế” làm hướng đi đã hình thành phong cách Phật giáo Việt Nam đặc biệt: không cầu kỳ, không mê hoặc, không giáo điều cứng nhắc. Đó chính là ánh sáng thực thụ Phật giáo thời Trần đủ lung linh uyển chuyển, đủ soi rọi vào tận ngõ ngách của tâm hồn mọi người. Và như vậy, tư tưởng Phật giáo trở thành tư tưởng chủ đạo và là dòng sống lưu thông trong lòng dân tộc. Để từ đó, thiền Phật giáo không còn là thứ đặc quyền của Tăng sĩ hay chùa chiền: “chẳng kể là tại gia hay xuất gia, chẳng nề tăng hay tục, điều cốt yếu là biện tâm(35)” Thiền Phật giáo đích thực đã trở thành linh hồn cuộc sống, linh hồn quốc gia. Mặt khác, xã hội thời Trần với sự khiếm khuyết của Nho, Lão trong bối cảnh người người học Phật, thử hỏi còn tư tưởng chủ đạo nào đáng tin cậy, đáng làm nòng cốt để bảo tồn đạo đức quốc gia hơn tư tưởng đạo Phật? Và có tinh thần nào của Phật giáo huyền diệu hơn, có khả năng tự khẳng định mình hơn tinh thần nhập thế tích cực? Do vậy, có thể nói tinh thần nhập thế của Phật giáo thời Trần nhờ vậy đã góp phần tô điểm và nâng cao bản sắc một Phật giáo Đại Việt hoàn toàn, không lệ thuộc, không ảnh hưởng nặng nề các nền văn hóa Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa III - NHỮNG NHÂN VẬT TIÊU BIỂU CỦA PHẬT GIÁO THỜI TRẦN
1 – TRẦN THÁI TÔNG (1218 - 1277) A . CUỘC ĐỜI: Trần Thái Tông, tức Trần Cảnh, con trai của Trần Thừa, xuất thân từ gia tộc chuyên nghề đánh cá ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường. Nhờ có công đánh dẹp Quách Bốc, họ Trần được triều Lý tin tưởng. Do đó, ngay từ lúc còn nhỏ, Trần Cảnh đã được hầu cận Lý Chiêu Hoàng, công chúa của vua Lý Huệ Tông, vị vua cuối cùng của triều Lý. Dưới sự dàn xếp của chú là Trần Thủ Độ, Trần Cảnh có dịp thân cận Chiêu Hoàng nhiều hơn và cuối cùng được Chiêu Hoàng chấp nhận lấy làm chồng lúc Trần Cảnh tròn 8 tuổi, hơn vợ một tuổi. Chỉ sau vài tháng, Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho chồng vào ngày 11 tháng chạp năm Ất Dậu (1226), hiệu Trần Thái Tông, đổi niên hiệu Kiến Trung. Tuy nhiên, trải qua 12 năm chung sống mà Chiêu Hoàng vẫn chưa có con, Thủ Độ bèn ép vua Trần Thái Tông giáng Chiêu Hoàng xuống làm công chúa và lập Thuận Thiên công chúa, vợ anh mình là Trần Liễu, đang mang thai 3 tháng lên làm hoàng hậu. Sự đau đớn khi phải ly tán mối tình đầu khiến cho niềm ưu tư về thân phận khổ đau của kiếp người trong con tim nóng bỏng của vua Trần Thái Tông càng biểu lộ rõ rệt. Và đó là động lực thúc đẩy chàng trai 20 tuổi nửa đêm rời bỏ kinh thành, vượt suối trèo non, lên tận chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, mong tìm ra mối đạo. Dù chí nguyện không thành vì sự ngăn cản quả quyết của chú Thủ Độ cùng các quần thần, vua Thái Tông đã quyết tận dụng từng thời khắc trong quá trình tu học và sáng đạo cho tự thân khi trở lại hoàng cung giữa lúc việc nước bề bộn trăm phần. Nắm được yếu chỉ từ lời dạy của thầy là Quốc sư Viên Chứng: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ điều đó thì lập tức thành Phật, không cần khổ công tìm kiếm bên ngoài”; và thực thi theo phương châm trị nước mà thầy đã dạy: “Phàm làm đấng quân nhân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”. Vua Thái Tông đã cật lực hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp tu Phật và cai trị quốc gia. Sự tinh cần tu tập của Vua càng mạnh hơn chính là 20 năm làm Thái Thượng Hoàng sau khi nhường ngôi lại cho con là Trần Thánh Tông vào năm 1258. Vị vua đầu triều đã lìa bỏ hình hài sinh diệt vào ngày 1 tháng 4 năm Đinh Sửu, niên hiệu Bảo Phù thứ 5 (1277), thọ 60 tuổi. B. SỰ NGHIỆP: a) Đối với đời: Cuộc đời của vua Trần Thái Tông là tấm gương mẫu mực cho muôn người. Trong gia đình Ngài là người con hiếu thảo, người em hòa thuận và người bạn đời chí tình. Ngoài xã hội, Ngài là vị vua xứng đáng đứng đầu một triều đại. Ngoài đức khoan dung độ lượng, Ngài đã sáng suốt cùng dân xông trận khi đất nước nguy biến và chăm lo đào tạo nhân tài khi độc lập thái bình. a1. Người con hiếu thảo, người em hòa thuận, người bạn đời chí tình. Lẽ thường tình phận làm con ai cũng có hiếu. Thế nhưng nỗi khổ sở khi mất mác cha mẹ đến vô cùng thống thiết của một vị vua thì chỉ thấy xuất hiện ở vua Trần Thái Tông. Trong bài tựa cuốn Thiền Tông Chỉ Nam, Vua viết: “Năm trẫm vừa 16 tuổi, Thái hậu đã chán cõi đời, trẫm nằm rơm gối đất, khóc ra máu mắt, đau như cắt lòng, ngoài nỗi ưu phiền không nghĩ gì khác. Thế rồi cách vài năm sau Hoàng Đế lại bỏ ngôi trời, nỗi nhớ mẹ chưa nguôi, tình thương cha càng nặng, ngổn ngang đau xót khó nỗi khuây lòng. Trẫm nghĩ: Cha mẹ vỗ về nuôi nấng con không thiếu điều gì, con dù thịt nát xương tan cũng không đủ đền ơn trong muôn một(36)” Làm vua nhưng Thái Tông không quên bổn phận làm em nên đã cư xử với anh mình hết sức thâm tình. Đó là sự việc Trần Liễu vì bức xúc với nỗi mất vợ là Thuận Thiên công chúa nên đã cất quân làm loạn ngoài sông Cái. Sau biết thế không chống nổi bèn đích thân đến trước thuyền vua Trần Thái Tông xin hàng, anh em ôm nhau mà khóc. Thủ Độ nghe tin, đến thẳng thuyền Vua, tuốt gươm lên quát: “Giết thằng giặc Liễu” Thái Tông vội đẩy Trần Liễu vào trong thuyền rồi nói với Thủ Độ: “Phụng Kiều vương đến xin hàng đấy”, vừa nói vừa lấy mình che chở cho anh. Thủ Độ giận, vứt gươm xuống sông nói: “Tao chỉ là con chó săn thôi, nào biết anh em mày lúc nào hòa lúc nào nghịch”. Vua đứng ra hòa giải, khuyên Trần Liễu bãi binh, rồi ban cho đất An Phụ, An Dưỡng, An Sinh, An Bang và phong hiệu là An Sinh Vương.(37) Xa cách Lý Chiêu Hoàng vì sự ép buộc của chú Trần Thủ Độ. Dù đó là biện pháp bảo tồn dòng tộc vô cùng sáng suốt của Thủ Độ, song không phải vì thế mà vua Trần Thái Tông trở thành kẻ bạc tình để chóng phai mờ hình ảnh cũ. Nghĩa là đúng lúc đại thắng quân Mông Cổ vào năm 1258, tức sau 20 năm kể từ ngày phế bỏ Chiêu Hoàng, vua Trần Thái Tông trải qua bao thăng trầm vào sinh ra tử mà vẫn được bình an là nhờ vị hầu tướng can đảm và trung thành Lê Phụ Trần. Nghĩ đến ơn cứu tử của trung thần Vua cũng nghĩ đến Lý Chiêu Hoàng. Dù không sống trọn đời với người yêu, Vua vẫn mong Chiêu Hoàng phải có được người chồng xứng đáng. Thế là sáng mồng một tết năm 1258, nhà vua ngự triều ở chính điện, định công đánh giặc để ban thưởng, phong cho Lê Phụ Trần chức Ngự Sử đại phu và gả Chiêu Hoàng công chúa cho Phụ Trần.(38) a2. Đức khoan dung độ lượng–anh minh cứu nước–đào tạo nhân tài. Vua Trần Thái Tông không chỉ khoan dung đối với người thân tín, với kẻ trung thần mà ngay với kẻ có ý đồ phản nghịch Vua vẫn sẵn sàng tha thứ. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: “Một hôm Thái Tông ban cho quân hầu cận ăn xoài, Hoàng Cự Đà không được ăn. Đến khi quân Nguyên đến bến Đông, Cự Đà ngồi thuyền nhẹ trốn đi. Đến Hoàng Giang, gặp Hoàng Thái Tử đi thuyền ngược chiều, Cự Đà tránh sang bờ sông bên kia. Quân lính hỏi: “Quân Nguyên ở đâu?”. Cự Đà đáp: “Không biết, hãy hỏi bọn được ăn xoài ấy!”. Sau khi phá được giặc, Thái Tử xin trừng phạt Cự Đà để răn những kẻ làm tôi bất trung. Thái Tông nói: “Tội của Cự Đà đáng giết cả họ nhưng đời xưa có việc Dương Châm không được ăn thịt dê đã làm cho quân nước Tống bị thua trận. Thế nên, trường hợp của Cự Đà ngày nay là lỗi của ta. Vậy, hãy tha chết, cho đánh giặc để chuộc lại lỗi lầm.” Ngồi trên ngai vàng, vua Trần Thái Tông đã nhận thức đúng đắn rằng không phải là để hưởng thụ vật chất và nắm giữ quyền hành, mà phải là điểm tựa vững chắc để chống đỡ và chịu trách nhiệm lớn lao cho sự tồn vong của một quốc gia. Cho nên, Vua đã thân chinh đi đầu dẹp loạn cùng quần thần tướng sĩ. Theo VSTGCMCB cho biết: -Tháng 10 năm 1241, quân Tống sang cướp phá biên giới, Vua sai tướng Phạm Kính Ân đem quân đánh tan quân giặc. Nhân đó muốn biết tình hình quân địch, Vua cải trang thân hành dẫn quân tiến sâu vào tận Châu Khâm, Châu Liêm. Ban đầu, người Châu ấy bỏ chạy. Sau, họ mới biết liền giăng xích sắt giữa dòng sông để ngăn đường thủy, Vua bèn sai quân nhổ vài chiếc cọc sắt đem về. -Tháng 12 năm Đinh Tỵ (1257), quân Mông Cổ xâm phạm địa phận sông Thao, Vua tự làm tướng đem quân chống cự. -Ngày 24 tháng chạp năm Mậu Ngọ (1258), Thái Tông cùng Thánh Tông chỉ huy đoàn thuyền ngược dòng Thiên Mạc, đánh tan giặc ở Đông Bộ Đầu, chiếm lại Thăng Long. Chiến thắng của Trần Thái Tông khiến quân Nguyên hoảng sợ. Trần Cương Trung nhà Nguyên đã viết trong cuốn Sứ Giao Châu Tập rằng: Tưởng chừng giáo sắt lòng kinh khiếp Nghe vẳng trống đồng tóc bạc phơ Và khi sống trong cảnh thái hòa, vua Trần Thái Tông lại nghĩ đến sự phồn thịnh của đất nước qua việc nâng cao văn hóa, đào tạo nhân tài. Trong ĐVSKTT có ghi: - Năm Nguyên phong thứ nhất, tháng 8, Vua mở khoa thi Tam giáo các khoa. - Năm Nguyên Phong thứ 3, tháng 6, Vua lập viện Quốc Học, tô tượng Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu Công và họa tranh 72 bậc hiền để thờ. Tháng 8, mở nhà giảng võ. Tháng 9, ban chiếu gọi nho sĩ trong nước đến viện Quốc Tử Giám để giảng học: Tứ Thư, Ngũ Kinh. Ngô Thì Sĩ đã ca ngợi: “Vua lập ra nhà học, tôn chuộng nghề văn, dựng nên ngôi nhà giảng tập việc võ. Cả văn lẫn võ có vẻ rực rỡ lắm cho nên có ông Hán Siêu, Trung Ngạn, Nhật Duật, Ngũ Lão nối nhau xuất hiện. Văn Trinh và Hưng Đạo là bậc danh tướng lẫy lừng thời bấy giờ, là kết quả của sự tôn chuộng văn võ đó”(39). b) Đối với đạo: Song song với vai trò lèo lái một quốc gia hùng mạnh và thịnh trị, vua Trần Thái Tông đã dành trọn từng phút giây trong ngày để củng cố nội tâm mình. Ngoài việc nỗ lực tu tập và sáng đạo cho tự thân, Vua còn khích lệ mọi người cùng đi trên con đường hướng thượng như mình qua tư tưởng của Ngài gởi gắm vào các tác phẩm. b1. Nỗ lực sáng đạo và khích lệ mọi người tu tập. Từ lúc còn niên thiếu, Vua đã “để tâm vào nội giáo, tham cứu đạo thiền, dốc lòng tìm thầy, thành khẩn mộ đạo”(40). Và đến khi gánh vác một quốc gia, Vua đã tinh chuyên học đạo như sau: “Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc, quên cả sớm chiều. Công việc thì có hàng vạn thứ mà thì giờ nhàn rỗi không có được bao lăm. Cho nên ban đêm đến giờ khuya vẫn còn phải thức để đọc sách, đã học sách Nho rồi còn học kinh Phật”(41). Vua còn lập viện Tả Nhai và rủ các vương hầu ra đó học Phật với mình. Thật là một sự kiên trì và nhiệt thành hiếm có của một ông vua: “Trong khoảng hơn 10 năm, mỗi khi có cơ hội nhàn rỗi lại triệu tập các bậc kỳ đức để tham vấn đạo thiền, các kinh điển của những hệ thống giáo lý lớn, không kinh nào là không nghiên cứu”(42). Và dĩ nhiên, tất cả những nỗ lực miệt mài ấy của Vua đã được trả giá xứng đáng bằng sự sáng đạo của Ngài: “Trẫm thường đọc kinh Kim Cang, một hôm đọc đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, buông kinh xuống chiêm nghiệm, bỗng thoát nhiên tự ngộ”(43).
Sau đó, vua đã trình bày cái sở ngộ của mình vào tác phẩm Thiền Tông Chỉ Đối với một tâm hồn đã sáng đạo thì lời nào của vị ấy chẳng phải là lời vàng. Điều này có nghĩa rằng nếu đi vào những sáng tác của vua Trần Thái Tông hẳn chúng ta sẽ bắt gặp vô vàn bài học tâm đắc. Tuy nhiên, để thấy được con tim nhiệt tình với đạo ở vua, một vài điều khích lệ của Ngài sau đây cũng đủ minh chứng: Để thức tỉnh khả năng giác ngộ của con người, Vua khuyên: “Những ai có mắt tinh đời, hãy sớm hồi tâm xem lại, cất mình vượt khỏi hang sống chết, dang tay xé toạc lưới ái ân. Chẳng nề trai gái, ai cũng nên tu, bất luận trí ngu, đều có phần cả”(44). Về tính cách bất tịnh và vô thường của con người Vua chỉ rõ: “Công danh cái thế chẳng qua một giấc mộng dài, phú quý kinh người khó tránh vô thường hai chữ. Tranh nhân chấp ngã rốt cuộc là không, khoe giỏi khoe hay rốt cùng chẳng thực”(45). Và để việc thành tựu đạo nghiệp được vững chắc thì cần phải theo một trình tự nhất định là: “Nếu chưa đạt được tâm Phật, ý Tổ thì trước hết hãy trì giới, niệm kinh. Đến khi đạt tới trình độ Phật cũng không mà Tổ cũng không thì còn giới nào cần trì, kinh nào cần niệm?”(46). b2. Tác phẩm và tư tưởng: Bằng con đường lặn lội trong từng trang kinh để phát sáng tâm hồn, để rồi khi từng câu kinh và ý đạo được tiêu hóa, thấm vào xương tủy của mình, vua Trần Thái Tông đã đúc kết những điều thâm nhập thành những đề tài thực dụng trong các tác phẩm: Thiền Tông Chỉ Nam Tự, Kim Cang Tam Muội Kinh Chú Giải, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, Bình Đẳng Lễ Sám Văn, Khóa Hư Lục và Thi Tập. Trong đó Khóa Hư Lục là tác phẩm nổi tiếng với Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, một sám pháp gọn gàng, thực tiễn và đẹp. Bao gồm những phần giáo lý căn bản, Khóa Hư Lục là một bản Kinh Nhật Tụng dùng cho tín đồ tụng niệm 6 lần trong một ngày: sáng, trưa, xế, chiều, tối, nửa đêm. Mỗi lần tụng niệm nhằm răn một trong 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Về tư tưởng, “chân tâm” theo quan niệm của Trần Thái Tông là: “Bản tính huyền ngưng, chân tâm trạm tịch, dứt tuyệt ý niệm về tròn khuyết, nếu không phải do thánh trí thì không tìm được đến giềng mối của nó; nó không hợp, không tan, không còn, không mất; mắt thấy tai nghe không thể tìm được vang bóng của nó, vì nó không phải hữu cũng không phải vô, không xuất thế cũng không nhập thế; nó ngang nhiên, độc tồn, siêu việt, ngoài nó không có gì khác, vì vậy nó được gọi là tánh kim cương”(47). Về vấn đề kiến tánh, Vua viết: “Do lấy ánh sáng trí tuệ phản chiếu lại mình thấy được tánh mà thành phật.”(48) Đối với giáo lý then chốt của Phật giáo là Tam Vô Lậu Học, Vua nhìn nhận Giới là oai nghi, Định là trạng thái bất loạn, Tuệ là sự giác tri. Vì vậy, Vua viết: “Phàm người học đạo chỉ cần thấy tánh. Tuy chịu mọi điều tĩnh giới mà không tọa thiền thì sức định không sinh, sức định không sinh thì niềm bậy không dứt”(49). Đặc biệt với cái nhìn của một thiền sư, tư tưởng thiền học của vua Trần Thái Tông đầy tính sáng tạo. Thiền theo Ngài là một cuộc chiến đấu nội tâm để thực hiện một trạng thái quân bình của tâm hồn. Khi đã vượt cả hai biên giới vô ký và loạn tưởng thì có mặt đương niệm hiện tiền, và đó là kết quả của công phu thiền tập. Cho nên, Vua chủ trương đi, đứng, ngồi, nằm cũng đều là phép thiền cả, chẳng phải chỉ có ngồi mới là thiền. Dù vẫn nhất trí rằng thiền tọa là cách thức dễ tập trung tư tưởng nhất, song vua Trần Thái Tông kịch liệt phê phán những phần tử chỉ mượn hình thức ngồi mà tâm tư vẫn mãi lồng lộn như vượn nhảy, ngựa chạy; nghĩa là: “Tựa giường, tựa vách, nhắm mắt dấu ngươi. Ngủ mê mệt, nước miếng chảy ra, đầu quẹo, lưng gập; tuy có gọi là ngồi thiền, khác nào ngồi trong hang quỷ dưới núi tăm tối vậy”(50). Ngoài ra, quan niệm “thiền tịnh đồng hành” cũng là một biểu hiện mới mẻ trong tư tưởng Thái Tông. Bởi vì theo Ngài, niệm Phật cũng là một phương pháp thiền định. Nói cách khác, niệm Phật là gạn lọc tâm ý, diệt trừ ác nghiệp và làm hiển lộ Phật tính. Thế nên, Ngài dạy: “Nay học giả muốn khởi chánh niệm để dứt tam nghiệp thì cũng cần mượn công phu niệm Phật. Vì sao Niệm Phật có thể dứt được tam nghiệp? Khi niệm phật, thân ngồi ngay thẳng, không hành tà hạnh, đó là dứt thân nghiệp; miệng tụng chân ngôn, không nói tà ngữ, đó là dứt khẩu nghiệp; ý duy trì tinh tấn mà không khởi tà niệm, đó là dứt ý nghiệp”(51).
Qua cuộc đời và sự nghiệp của vua Trần Thái Tông cho thấy Ngài quả thật xứng đáng là người khai sơn phá thạch dòng thiền Việt 2 – TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ (1230 - 1291)A. CUỘC ĐỜI: Tuệ Trung Thượng Sĩ, tức Trần Quốc Tung, là con trai của Trần Liễu, anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm (Trần Liễu là anh của Trần Thái Tông, hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm là vợ của Trần Thánh Tông). Khi Trần Liễu mất năm 1251, thượng hoàng Trần Thái Tông cảm vì nghĩa, phong cho Trần Quốc Tung tước Hưng Ninh Vương. Theo Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục của vua Trần Nhân Tông cho biết: “Thượng Sĩ khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhã, từ lúc còn để chỏm đã mến mộ cửa không. Sau đó, Thượng Sĩ đến tham vấn thiền sư Tiêu Dao ở Tinh xá Phước Đường và dốc lòng học đạo với thầy, cuối cùng lãnh hội được yếu chỉ. Hằng ngày, Ngài chỉ lấy thiền duyệt làm vui mà không lấy công danh làm sở thích.” Tuy nhiên, là vị tướng của hoàng tộc nên Thượng Sĩ đã cùng với các vương hầu thân tín khác trong triều tham gia cả ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Sau đại thắng, Thượng Sĩ được phong chức Tiết Độ Sứ, coi giữ phủ Thái Bình. Nhưng chỉ ít lâu sau, Ngài đã lui về ấp Tịnh Bang, đổi tên là làng Vạn Niên, lập Dưỡng Chân Trang để tiếp tục tham cứu ý thiền. Bằng phong thái hòa quang đồng trần, Thượng Sĩ đã làm hưng thịnh hạt giống chánh pháp. Người nào đến hỏi đạo đều được Ngài chỉ dạy cương yếu giúp họ trụ tâm tu tập. Ở Phật Giáo đời Trần, Thượng Sĩ là một điển hình về phong cách siêu thoát. Không xuất gia, vẫn có vợ con nhưng Thượng Sĩ lại là một nhà thiền học thừa bản lĩnh và trí tuệ, sống tự tại và chói sáng giữa cuộc đời. Quả thật, vua Trần Thánh Tông đã sáng suốt khi tin tưởng Thượng Sĩ và giao Trần Nhân Tông cho Thượng Sĩ dạy dỗ. Sự việc sáng đạo của vua Trần Nhân Tông khẳng định Thượng Sĩ là vị thầy xứng đáng khêu đuốc tuệ, là người gián tiếp thành lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. B. SỰ NGHIỆP: a) Đối với đời: Vốn mang trong mình dòng máu Đại Việt lại là người mến mộ cửa không từ bé nên tuổi trưởng thành của Tuệ Trung gắn liền với hai phẩm chất cao sáng: vừa là vị tướng tài ba, vừa là cư sĩ thoát tục. a1. Vị tướng tài: Với bẩm chất thuần hậu và kính mến đạo Phật, Tuệ Trung chào đời không phải để làm nhà chính trị. Điều này có nghĩa là nếu so với những chiến công oanh liệt của các vương tôn công tử khác như: Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật,...thì công trạng của Tuệ Trung chưa phải là cao. Tuy nhiên, sự việc Tuệ Trung tham gia kháng chiến khi đất nước Đại Việt bị xâm lăng cũng phần nào chứng tỏ mưu trí và hành động nhập thế vô cùng tích cực của các Phật tử đời Trần: -Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai, vào ngày 10 tháng 6 năm 1285, khi Thoát Hoan núng thế bắt đầu rút khỏi bờ bắc sông Hồng thì Tuệ Trung cùng với Hưng Đạo Vương đem hơn hai vạn quân đến đón đánh, kịch chiến với tướng giặc là Lưu Thế Anh và đuổi Thoát Hoan chạy dài đến sông Như Nguyệt. -Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ ba năm 1288 Tuệ Trung được giao những nhiệm vụ ngoại giao quan trọng. Ông nhiều lần đến đồn giặc vờ hẹn trá hàng làm cho quân giặc mất cảnh giác. Sau đó, cho quân đến cướp phá doanh trại giặc.(53). a2. Cư sĩ thoát tục: Là cư sĩ, Tuệ Trung vẫn sống êm ấm trong gia đình hạnh phúc cùng vợ cùng con và vẫn sinh hoạt bình thường như một Phật tử thuần thành có nghiên cứu đạo Phật. Tuy nhiên, tìm hiểu về nếp sống rất đời thường của Tuệ Trung không ai dám phủ nhận phong cách quá siêu việt của Ngài, một phong cách chỉ tìm thấy ở những bậc ngộ đạo. Là công tử của hoàng cung, là tướng của triều đình nhưng Tuệ Trung không để cho lợi danh trói buộc mà đã thấy được sự tạm bợ, vô thường của vinh hoa phú quý, của chính thân tâm mình cũng như sự biến chuyển liên tục của không gian, thời gian. Công danh giàu sang như mây nổi Năm tháng đời người như tên bay(54). Chẳng những thế, Tuệ Trung lại xem việc sống chết chỉ như trò đùa, nhẹ hơn cả lông hồng, trong khi chính điều ấy luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với tất cả những người tầm thường: Chết là dối chết, sanh dối sanh(55) hoặc là: Người ngu điên đảo sợ sống chết Bậc trí tử sinh thường thôi vậy(56) Lại nữa, lúc Thái Hậu Thiên Cảm qua đời, vua Trần Thánh Tông thiết lễ trai tăng mời đủ các vị danh đức về dự. Tuệ Trung được vua trao cho quyển tập để trình kiến giải của mình. Chẳng ngần ngại, Ngài viết một mạch bài tụng tự thuật khiến nhà Vua và mọi người có mặt đều thán phục: Kiến giải trình kiến giải Như dụi mắt làm quái Dụi mắt làm quái rồi Rõ ràng thường tự tại (57) Và một khi tâm thức đã tĩnh tại trước mọi đổi thay phiền toái của cuộc đời rồi thì những nghịch cảnh theo Tuệ Trung chỉ là bàn đạp để nâng cao giá trị mình lên: Nếu là bậc siêu quần xuất chúng Mỗi lần hạ xuống một lần cao(58) Cứ như vậy, Tuệ Trung đã sống tròn bổn phận và trách nhiệm của mình, sẵn sàng lao mình vào trận địa để bảo vệ tổ quốc cũng như vững chãi trong cuộc sống đời thường để giúp ích cho dân. b) Đối với đạo: Là cư sĩ thoát tục trong đời thế nên Tuệ Trung dễ dàng trở thành cư sĩ liễu ngộ trong đạo. Và chặng đường hành hóa của Ngài đã để lại những lời dạy thâm sâu, quý giá mà hàng hậu học luôn luôn lấy đó để tự soi sáng chính mình. b1. Cư sĩ ngộ đạo: Đạo Phật là đạo giác ngộ. Dù là tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia trong khi tu hành được ít nhiều giác ngộ đều được quý kính như nhau. Nếu ngay thời Phật tại thế, cư sĩ Duy Ma Cật có thể khuất phục cả những đệ tử thượng túc của Phật và ở Trung Hoa đời Đường, cư sĩ Bàng Long Uẩn được các thiền khách xuất gia nể trọng, thì ở Việt Nam chúng ta vào thời Trần, Tuệ Trung xuất hiện tự tại giải thoát giữa nhân gian khiến vua Trần Thánh Tông vô cùng bái phục gọi là sư huynh và tặng tước hiệu Tuệ Trung Thượng Sĩ. Theo Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục của vua Trần Nhân Tông viết, chúng ta biết được Tuệ Trung nhờ tham vấn thiền sư Tiêu Dao ở Tinh xá Phước Đường mà lãnh hội được yếu chỉ. Và sau khi ngộ đạo, Ngài tùy phương tiện khi ẩn danh khi lộ diện trong đời để làm hưng thịnh hạt giống chánh pháp. Vua Trần Nhân Tông cũng nhờ Ngài mà có được hướng vào đạo, đã kính cẩn viết: “Tôi biết môn phong của Thượng Sĩ cao vót. Một hôm tôi xin hỏi Ngài về Bổn phận tông chỉ. Thượng Sĩ đáp: “Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được”(59). Nghe xong tôi thông suốt được đường vào, bèn vén áo thờ Ngài làm thầy. Vua Trần Nhân Tông cũng mô tả sự ra đi của Thượng Sĩ hết sức kỳ diệu: “Sau Ngài bệnh ở Dưỡng Chân Trang, chẳng ở trong phòng thất. Kê một chiếc giường gỗ ở giữa nhà trống, Ngài nằm theo thế kiết tường, nhắm mắt mà tịch. Các người hầu và thê thiếp trong nhà khóc rống lên. Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy, đòi nước súc miệng rửa tay, rồi quở nhẹ rằng: “Sống chết là lẽ thường nhiên, đâu nên buồn thảm luyến tiếc, làm nhiễu động chơn tánh ta”(60). Nói xong, Ngài an nhiên thị tịch Ngưỡng mộ thiền phong của Thượng Sĩ, các hàng môn đồ đệ tử như: Trúc Lâm, Pháp Loa, Bảo Phác, Tông Cảnh, Vương Như Pháp, Pháp Cổ, Tuệ Nghiêm, Pháp Đăng,...đều kính cẩn tán tụng, ca thán. Chỉ cần lược qua hai bài tán của Trúc Lâm và Pháp Loa dưới đây, chúng ta cũng đủ thấy tầm vóc cao vời của Thượng Sĩ: Bài tán của Trúc Lâm: Trông đó càng cao Dùi đó càng cứng Bỗng dưng ở sau Nhìn đó ở trước Đây mới gọi là Thiền của Thượng Sĩ(61) Bài tán của Pháp Loa: Á Gang ròng nhồi lại Sắt sống đúc thành Thước trời tấc đất Gió mát trăng thanh(62) b2. Tác phẩm và tư tưởng: Sáng tác của Thượng Sĩ được tập hợp trong bộ Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Với 50 bài thơ và ngữ lục, Thượng Sĩ là tác giả để lại số lượng tác phẩm nhiều nhất trong số các nhà thơ thiền thời Lý – Trần. Ngài là người gián tiếp mở đường cho dòng thiền Trúc lâm Yên Tử, làm rạng rỡ ngọn gió thiền thời đại và để lại một di phong tốt đẹp cho nhiều thế hệ về sau. Nội dung sáng tác của Ngài toát lên ba vấn đề chính: tùy tục, phá chấp và tư tưởng thiền học. Quan niệm tùy tục hay hoà quang đồng trần của Thượng Sĩ nhằm nhắc nhở cho mọi người nhận thức được mối liên hệ khắn khít giữa ta với người khác cũng như giữa ta với ngoại cảnh. Nói cách khác, sự hiện hữu của muôn sự muôn vật giữa cuộc đời này là sự tương quan tương duyên lẫn nhau của vạn pháp. Chính vì thấy được nguyên lý ấy mà Thượng Sĩ đã sống hòa quyện với đời mà tùy duyên hóa đạo: Vào xứ mình trần bỏ áo đi Phải đâu quên lễ chỉ tùy nghi(63) Hay : Tạm quen chừ, ấm lạnh thói thường Sâu thì nống chừ, nông thì xắn vén(64) Cái tùy tục của Thượng sĩ còn thể hiện qua việc Ngài bày tỏ thâm tình của mình đối với thầy Tiêu Dao. Mặc dầu thân khó gặp nhau như sao hôm sao mai, song lòng Ngài luôn ở bên cạnh thầy như chim loan chim phượng: Hèn lâu xa ánh sáng Ở gởi chốn hoang thôn Thân tuy ngoài cõi sâm với thương Ý vẫn trong gương loan và phượng(65) Có thể nói rằng hành tung của Thượng Sĩ trong đời như ánh sao Bắc đẩu giữa trời đêm, muôn ngàn ngôi sao khác dù sáng đến mấy cũng không sánh kịp. Ngài cứ thế mà sống và hành động hết mình, tùy duyên theo lẽ trời, tùy tục theo lẽ người, đem lại lợi ích cho tất cả. Quan niệm phá chấp xuất hiện hầu hết trong tác phẩm của Thượng Sĩ chính vì tự thân Ngài đã vượt khỏi tình thường, không còn dính mắc với các pháp đối đãi. Như một hôm Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, em gái Ngài, mở tiệc thịnh soạn có cả chay lẫn mặn, mời Thượng Sĩ dự. Thượng Sĩ ăn lẫn lộn. Hoàng hậu thấy lạ hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt làm sao thành Phật được?” Ngài đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cầu thành Phật, Phật chẳng cầu thành anh. Hoàng hậu chẳng nghe cổ đức nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao.”(66) Và trong Phàm thánh bất dị, chủ trương phá chấp thể hiện rất rõ khi ranh giới nhị nguyên không còn . Tất cả đều là huyễn hóa, là không. Thân từ vô tướng vốn là không Huyễn hóa phân ra thành nhị kiến Ta người như móc cũng như sương Phàm thánh như sấm cũng như chớp(67) Chính lúc mọi phân biệt, mọi đối đãi đã bị dẹp bỏ cũng là lúc pháp thân thanh tịnh bao trùm pháp giới và thực tại có mặt: Dơ sạch là tên suông Xưa nay chưa hề có Pháp thân không giới hạn Có dơ sạch bao giờ(68) Và: Không sanh cũng không diệt Không thủy cũng không chung Chỉ cần bỏ nhị kiến Thực tại lộ hình dung(69) Thượng Sĩ còn khuyên môn đệ hãy tỉnh thức, chớ nên bám víu vào khái niệm vì đó cũng chỉ là pháp trần dù là khái niệm chân hay vọng: Người đời bỏ vọng để cầu chân Chân vọng tâm kia vốn pháp trần Hãy vượt cao lên bờ bến ấy Tham cùng đồng tử nối tiền nhân(70) Thiền học theo Thượng Sĩ không phải là tư tưởng một tôn giáo mà là một cách sống, một đạo sống đẹp giúp con người đạt đến hạnh phúc tối thượng ngay trong phút giây hiện tại “bây giờ và ở đây” bằng sự tự do, tự tại và sự hài hòa cùng vạn vật. Thiền đích thực là cái gì rất gần gũi với đời sống, ẩn chứa trong đời sống qua từng tác phong: đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tịnh: Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền. Đó là sự thấu đạt, cảm thông với nguồn sống linh động của vũ trụ và tìm thấy sự tròn đủ, sự thảnh thơi trong ấy: Trăng thanh gió mát, sinh nhai đủ Nước biếc non xanh, kế sống đầy(71) Điều quan trọng đối với Thượng Sĩ là nắm chắc gậy thiền, uống được ngụm nước đầu nguồn giải thoát. Khi đã có được trong tầm tay tư lương giải thoát rồi thì vững chãi lưu xuất, phiêu du trong đời bằng tất cả nhiệt tình khiêm tốn của mình mà giáo hóa: Chiếc gậy ngày ngày nắm dạo rong Bỗng dưng như cọp với như rồng Chống lên đã ngại sơn hà lở Cất dậy càng e nhật nguyệt long(72) Tuy nhiên, con đường “thể hội chân tánh”, nhận ra “bộ mặt thật xưa nay của chính mình” theo Thượng Sĩ không phải chỉ đơn thuần thông qua lý luận, giải thích suông, hoặc là sự cầu cạnh, van xin chút xót thương của chư Phật, chư Tổ; mà phải là con đường thực hành, thực tu, thực chứng. Nghĩa là trong mỗi người đều ngầm sẵn khúc hát nhiệm mầu–khúc hát thiên thu bất diệt thì mỗi người phải tự mình cất lên mà thôi: Diệu khúc muôn đời xin tự hát Chớ tìm Nam Bắc với Đông Tây(73) 3 – TRẦN NHÂN TÔNG (1258 - 1308)A . CUỘC ĐỜI: Trần Nhân Tông, tức Trần Khâm, là con đầu của vua Trần Thánh Tông, sinh năm 1258. Là người được tinh anh của thánh nhân nên vừa ra đời có nhan sắc như vàng ròng, vua Thánh Tông đặt tên là Kim Phật. Trên vai trái lại có nốt ruồi đen được tiên đoán là có thể đảm nhiệm việc lớn về sau. Thưở còn bé, Trần Nhân Tông đã không thích làm vua nên đôi ba phen xin nhường địa vị Đông Cung Thái Tử cho em mình nhưng không được. Buộc lòng Trần Nhân Tông phải đăng quang vương vị lúc 20 tuổi vào năm Kỷ Mão (1279), đổi niên hiệu Thiệu Bảo. Bằng sự thông minh, hiếu học, nhiều tài và tham cứu đủ loại sách vở nên vua Trần Nhân Tông thông suốt cả ngoại điển lẫn nội điển. Trần Nhân Tông là biểu tượng vị vua yêu nước và anh hùng của lịch sử chế độ phong kiến Đại Việt. Là người nổi tiếng khoan hòa và nhân ái, vua đã xây dựng một chính sách đoàn kết từ trong hoàng tộc đến ngoài muôn dân, cùng quân xông pha dẹp loạn và sáng suốt lãnh đạo toàn dân kháng chiến. Ngoài ra, Vua vẫn để tâm tham cứu thiền học và thâm nhập được ý đạo từ vị thầy hướng dẫn là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sau 14 năm trị vì thiên hạ, vua Trần Nhân Tông đã nhường ngôi lại cho Trần Anh Tông và nhận tước vị Thái Thượng Hoàng. Trải qua 5 năm nghiên cứu đạo Phật, Vua chính thức xuất gia, thực hành khổ hạnh và lấy niên hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà. Trong vai trò xuất gia Trần Nhân Tông đã giúp vua Trần Anh Tông tạo an bình cho nước bằng những việc ngoại giao để mở mang bờ cõi, cũng như việc lập chùa, giảng pháp. Đặc biệt chủ trương sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, làm đệ nhất tổ càng chứng tỏ tài lãnh đạo tuyệt vời của vua Trần Nhân Tông và xứng đáng là nhà văn hóa của dân tộc ta thế kỷ XIII. Nhiệt tình với đạo pháp, vua Trần Nhân Tông quan tâm đến việc kén chọn người kế thừa và trước khi rũ bỏ thân tứ đại năm 1308 (lúc 51 tuổi), vua Trần Nhân Tông đã giao phó gia nghiệp Phật Pháp lại cho Pháp Loa – vị đệ tử mà Ngài tâm đắc nhất. B. SỰ NGHIỆP. a) Đối với đời: Cuộc đời vua Trần Nhân Tông, đạo và đời, đời và đạo hòa hợp nhau một cách tự nhiên. Lúc ở ngôi vua, Ngài là bậc “nhân minh anh vũ”, trong thì hòa ái, nhân từ, ngoài thì dẹp giặc lẫy lừng. Có thể nói cả nước muôn lòng như một dưới tài lãnh đạo của vua Trần Nhân Tông. a1. Vua bình dị, nhân từ: Sống trong cảnh vinh hoa tột bực, vua Trần Nhân Tông vẫn giữ vững cung cách bình dị, trong sáng. Sách Thánh Đăng Ngữ Lục viết: “Trần Nhân Tông lên làm vua hồi 16 tuổi nhưng đó là vương vị bất đắc dĩ. Do vậy, việc cưới trưởng nữ của quốc mẫu Nguyên Từ, tức thái hậu Khâm Từ là việc phải làm. Song dù sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc mà tâm Ngài vẫn canh cánh hướng về đường tu(74)”. Cuộc sống giản dị của một vị hoàng đế qua việc học và đọc sách trong đêm vắng thật đáng trân trọng: Đèn song chếch bóng sách đầy giường Đêm vắng sân thu lác đác sương Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết Trên cành hoa quế nguyệt lồng gương(75) Sau khi xuất gia, Vua càng giản dị hơn qua sự nỗ lực tu tập 12 hạnh đầu đà trong nếp sống thiền môn thanh đạm cao quý: Ăn rau, ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay. Vận giấy vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc(76) Chính ngài Huyền Quang trong những ngày chung sống với thượng hoàng Trần Nhân Tông ở Yên Tử cũng đã xác nhận hình thức giản dị này của Thượng Hoàng: Mặc cà sa, nằm trướng giấy, Màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương. Quên ngọc thực, bỏ hương giao, Cắp nạnh cà một vò, tương một hũ.(77) Bên cạnh sự trong sáng bình dị, vua Trần Nhân Tông là hình ảnh vị lãnh đạo đầy nhân từ. Trước hết, bằng lòng thương bao la, vua Trần Nhân Tông đã đánh giá cao tầm vóc của từng người dân yêu nước của mình. Vua không chỉ nêu cao những tấm gương quả cảm của quan tướng mà còn thấy được công sức quý báu của những gia đồng. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi: “Lúc ngự chơi bên ngoài, nếu gặp gia đồng của các vương tôn ở ngoài đường, vua thường gọi lại thăm hỏi, không cho các đệ tử quát tháo họ. Và bảo với tả hữu: “Ngày thường thì có vệ sĩ tả hữu nhưng khi quốc gia lâm nạn thì chỉ có bọn chúng có mặt.” Không dừng lại ở đó, lòng nhân từ của Vua còn lan tỏa đến cả thân phận những người làm tướng cho giặc. Đó là sự việc khi Toa Đô thua trận Tây Kết, bị quân ta giết, đem đầu đến trình vua Trần Nhân Tông. Trông thấy đầu Toa Độ, Vua thương hại nói: “Người làm tôi nên như thế này”, rồi cởi áo bào bọc đầu Toa Đô, sai quân đem chôn. Và nữa, chiến tranh kết thúc với thắng lợi vẻ vang, vua Trần Nhân Tông ra lịnh thả các tù binh mà quân ta bắt được trong hai cuộc chiến. Rõ ràng, những cử chỉ này của Ngài chẳng những thể hiện lòng nhân từ rất mực mà còn cho thấy tính nhân bản, cao thượng rất đáng quý phục. a2. Đức anh dũng, sáng suốt: Lên nối ngôi vua giữa tình thế đất nước đang đứng trước cuộc xâm lăng không thể tránh khỏi của đế quốc Nguyên – Mông, vua Trần Nhân Tông đã cùng vua cha Trần Thánh Tông lãnh đạo triều đình và dân chúng khẩn trương chuẩn bị lực lượng ra trận. Trong hai cuộc đọ sức với năm mươi vạn quân giặc năm 1285 và năm 1288, nhờ tài thống lĩnh tuyệt vời của vua Trần Nhân Tông, hàng loạt chiến công hùng tráng của quân dân Đại Việt lần lượt xuất hiện trên trang sử:(78) Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp, Phù Ninh,...đem lại kết quả là hai cuộc đại thắng thần kỳ. Đó là đại thắng lần thứ 2 năm 1285 và đại thắng lần thứ 3 năm 1288. Chiến thắng vẻ vang của vua quan thời Trần Nhân Tông cho thấy Vua đã huy động được tiềm lực yêu nước trong mọi tầng lớp nhân dân. Trong đội quân xúc tiến của vua Trần Nhân Tông có đủ các hạng người. Trên từ các vị thân vương như: Trần Quốc Tung, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật,...dưới cho đến thường dân như: Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái; thậm chí đến hàng nô tỳ như: Yết Kiêu, Dã Tượng; lại các cụ bô lão trong hội nghị Diên Hồng đến các em bé như Trần Quốc Toản,...tất cả đều đồng lòng góp sức chống trả kẻ thù, bảo vệ đất nước. Riêng bản thân mình, tuy đã xuất gia, vua Trần Nhân Tông vẫn quan tâm đến sự an nguy của đất nước. Dưới cái nhìn chiến lược của một nhà quân sự thiên tài, ngay từ những năm chiến tranh, thượng hoàng Trần Nhân Tông đã thấy được hai vùng đất Châu Ô và Châu Lý của nước Chiêm Thành có vị trí chiến lược xung yếu đối với nền an ninh của Đại Việt. Thế là, nhân chuyến vân du đến Chiêm Thành năm Tân Sửu (1301)(79), Thượng Hoàng hứa gả công chúa Huyền Trân, vị công chúa duy nhất của mình cho vua Chế Mân của Chiêm Thành. Chính sáng kiến ngoại giao vô cùng khéo léo của Ngài đã đem lại lợi thế cho Đại Việt. Đó là biên cương tổ quốc được mở rộng thêm khi Châu Ô, Châu Lý có tên trên bản đồ Đại Việt mà quân dân ta không đổ một giọt máu nào. Còn trong thời bình, bằng nhận thức sáng suốt trong việc giáo dục những người dân lương thiện, vua Trần Nhân Tông đã không ngại thân mòn sức mỏi của lứa tuổi sắp sửa ngũ tuần để lặn lội vào tận những vùng thôn quê, khuyên dân chúng thực hành thập thiện. Đây là giáo lý căn bản của đạo Phật nhằm xây dựng mẫu người đạo đức, trung thành với tổ quốc, hiếu thảo với mẹ cha. Nói cách khác, đó là những công dân tốt, có ích cho xã hội: Sạch giới lòng, dồi giới tướng, Nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm. Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu(80) b) Đối với đạo:
Ngoài việc nước, có giờ phút nào rảnh rỗi vua Trần Nhân Tông lại trao đổi nghiên cứu học tập, thường chú trọng đến giáo lý đạo Phật để mài sáng tâm trí. Chính Ngài chủ động sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền Phật giáo mang sắc thái hoàn toàn Việt b1. Giáo chủ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Trước khi ngộ đạo và trở thành giáo chủ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông đã từng là quốc chủ anh hùng. Tuy nhiên, tiềm ẩn trong cương vị quốc chủ oai phong ấy, một ý chí xuất trần đã nung nấu từ rất lâu. Thánh Đăng Ngữ Lục ghi: “Một đêm vào giờ tý, Vua bèn vượt thành mà đi, tìm vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp núi Đông Cứu thì trời đã sáng mà trong người lại rất mệt, bèn vào nghỉ ở trong tháp. Vị sư chùa thấy diện mạo vua khác thường, bèn đem thức ăn dâng vua. Hôm ấy, Thái hậu đem trình bày hết cho Thánh Tông nghe, vua liền sai quần thần đi tìm khắp nơi, buộc lòng Trần Nhân Tông phải trở về và lên ngôi. Tuy ở cửu trùng sang trọng mà vẫn tự mình giữ thanh tịnh”.(81) Vì chí nguyện chưa được thực hiện nên vua Trần Nhân Tông phải ở lại ngôi vua suốt 14 năm điều hành quốc sự. Khi phận sự quốc gia đã giải quyết trọn vẹn và khi Trần Anh Tông đã lớn, Vua nhường ngôi cho con lên làm Thái thượng hoàng. Trải qua 5 năm ở tước vị Thái Thượng Hoàng, Trần Nhân Tông càng có dịp đi sâu vào giáo lý nhiều hơn. Vậy là vào năm 1294, Ngài chính thức xuất gia tại núi Vũ Lâm(82) Cũng trong Thánh Đăng Lục có ghi lại sự ăn chay, học Phật một cách kính cẩn của vua Trần Nhân Tông...năm gần đi xuất gia, Vua mời Văn Túc Vương Đạo Tái(83) đến chơi ăn cơm. Tiếp đãi một vị khách quý nên Vua cùng ngồi tiếp chuyện tại điện Dưỡng Đức và thết đãi cho khách những món cao lương mỹ vị. Còn tự thân vua Trần Nhân Tông thì đã ăn chay. Bài thơ Ngài làm nhân bữa tiệc đó và tự xưng là “sơn tăng” cho thấy sự thanh tịnh đáng nể của Ngài: Món quy cước đỏ thắm Món mã yên vàng thơm Sơn tăng giữ tịnh giới (84) Cùng ngồi không cùng ăn Nhờ quá trình thanh lọc thân tâm kỹ lưỡng như thế, cho nên sau khi xuất gia không lâu, vua Trần Nhân Tông vào thẳng Yên Tử tinh cần tu tập 12 hạnh đầu đà một cách dễ dàng, và lấy hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà. Sự việc vua Trần Nhân Tông ngộ đạo không phải sau khi xuất gia mà đã xảy ra từ trước, tức mùa xuân năm Đinh Hợi (1287).(85) Căn cứ vào Thánh Đăng Ngữ Lục cho biết Trần Nhân Tông đã “tham học với Tuệ Trung Thượng Sĩ sâu được cốt tủy của thiền, nên thường lễ thầy mà thờ”. Chính vua Trần Nhân Tông đã kể lại kinh nghiệm ngộ đạo của mình khi viết về tiểu sử của thầy Tuệ Trung trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục và được thầy ấn chứng rồi dặn “Chớ bảo cho người không đáng”. Những phút cuối đời của vua Trần Nhân Tông cũng chứng tỏ sự ngộ đạo của Ngài. Thánh Đăng Ngữ Lục ghi trước đó bốn ngày “trời đất tối tăm, gió lốc thổi mạnh, mưa tuyết phủ cây, khỉ vượn đi quanh am khóc la, chim rừng buồn bã hót” và “vào lúc nửa đêm ngày mồng một tháng 11 năm Mậu Thân (1308), sao mai sáng rực” Thượng Hoàng hỏi: “Lúc này mấy giờ rồi?” Bảo Sát thưa: “Giờ tý”. Thượng Hoàng dùng tay mở cửa sổ ra nhìn rồi nói: ”Đây là giờ ta đi”. Bảo Sát Hỏi: “Tôn Đức đi đâu?”. Thượng Hoàng đáp: Tất cả pháp không sanh Tất cả pháp không diệt Nếu hay hiểu như vậy Chư Phật thường hiện tiền Sao có chuyện đến đi (86) Bảo Sát đứng lên hỏi: “nếu không sanh không diệt thì thế nào?”. Thượng Hoàng bỗng nhiên lấy tay che miệng Bảo Sát nói: “Đừng nói mớ”. Nói xong, Thượng Hoàng nằm theo thế sư tử, rồi lặng lẽ ra đi. Đến đêm mồng hai, Bảo Sát theo di chúc làm lễ hỏa táng, hương thơm bay ngào ngạt, nhạc trời vang dội cả hư không, mây ngũ sắc phủ trên giàn lửa. Đến ngày mồng bốn, tôn giả Pháp Loa mới từ Yên Tử về đến, đem nước thơm tưới giàn lửa, làm lễ thu ngọc cốt, lượm được xá lợi ngũ sắc loại lớn hơn 500 viên, loại nhỏ như hạt thóc, hạt cải thì không kẻ xiết. Với ý thức sâu sắc về bổn phận duy trì mạng mạch Phật pháp, vua Trần Nhân Tông đã chủ trương sáng lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Dòng thiền này ra đời tuy là sự kế thừa nhưng kể từ thời Trần Nhân Tông trở đi, thiền Phật Giáo Việt Nam mới khẳng định được sắc thái riêng của dân tộc Việt. Nói cách khác, nếu tất cả những gì Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông đã thiết lập làm nền tảng cho một triều chính vững mạnh thì Trần Nhân Tông là người có công phát huy và làm cho đất nước hưng thịnh. Cũng thế, đối với đạo pháp, nếu những gì Trần Thái Tông và Tuệ Trung đã khai phóng, phát họa để Phật giáo Đại Việt tỏa sáng thì chính Trần Nhân Tông bằng sự sáng tạo trong tư tưởng và hành động làm cho đạo Phật được vững bền và phổ biến cùng khắp trong lòng dân chúng thời Trần. Đó là chủ trương độc sáng của Ngài theo chiều hướng “sống đời mà vui đạo”. Có thể nói “Cư trần lạc đạo” đã trở thành phương châm hành đạo của Phật giáo Việt Nam được Trần Nhân Tông đề ra đã thấm sâu vào cuộc sống của hàng triệu người Phật tử Việt Nam thời Trần và liên tiếp những thế kỷ về sau. Trong vai trò giáo chủ, Trần Nhân Tông cân nhắc để chọn lựa pháp tử thay mình thừa tiếp Phật sự. Trong số những đệ tử của Ngài thuộc hàng danh tăng có tiếng tăm lúc bấy giờ như: Pháp Loa, Pháp Cổ, Pháp Đăng, Bảo Sát, Bảo Tháp, Tông Cảnh, Tuệ Nghiêm,...vua Trần Nhân Tông nhận thấy nơi Pháp Loa một năng lực xứng đáng có thể đảm đương việc lớn, ích đạo đẹp đời. Do đó, Trần Nhân Tông đã quyết định chọn ngày “mồng một tết Mậu Thân (1308) là ngày chính thức hóa việc truyền y ở Cam Lộ Đường tại chùa Siêu Loại với sự chứng kiến của vua Trần Anh Tông và thượng tể Trần Quốc Trấn. Cũng trong buổi lễ này, sau việc trao y và nghe Pháp Loa thuyết pháp. Trần Nhân Tông đã trao cho Pháp Loa 20 hộp nhỏ đựng kinh điển Phật giáo, lại thêm 100 hộp “kinh sử ngoại thư” và dặn dò “mở rộng việc học bên trong và bên ngoài”(87). Đây là một biểu hiện nguyện vọng của Đệ nhất tổ Trúc Lâm. Ngài đã sống những năm tháng xuất gia trọn vẹn trách nhiệm với đạo với đời, cho nên Ngài mong ước người kế thừa dòng thiền mình gầy dựng cũng nhiệt tình hành đạo theo kiểu ấy. Nghĩa là vua Trần Nhân Tông hy vọng Pháp Loa có đủ kiến thức nội điển cũng như ngoại điển để thực hiện mẫu người Phật giáo lý tưởng “sống đời mà vui đạo”, đem đạo Phật đi vào đời, giúp đời bằng tất cả tài năng, trí huệ, từ bi và nhiệt huyết của một người đệ tử Phật. Tuy nhiên, đệ nhị tổ Pháp Loa cũng như đệ tam tổ Huyền Quang trong suốt thời gian hành đạo, mọi hoạt động chỉ giới hạn vào công việc Phật giáo là chính. Bởi vì tất cả nỗ lực của các Ngài tập trung chủ yếu vào việc quy y, truyền giới, giảng kinh, thuyết pháp, lập chùa và viết sách; nhất là công trình chép và in Đại tạng kinh của Pháp Loa. Mặc dù sinh hoạt mạnh mẽ của Phật giáo cũng phần nào củng cố sự thanh bình của quốc gia, song nếu chỉ khép chặt nơi chùa chiền thì khó nắm bắt được nhịp đập của thời đại mà tùy duyên hóa đạo. Có lẽ đó là lý do sau thời Huyền Quang trở đi dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử phải ẩn tàng, ngấm ngầm chảy để chờ đợi một cơ hội phấn phát trở lại. b2. Tác phẩm và tư tưởng: Theo “Tam Tổ Thực Lục”, những tác phẩm của vua Trần Nhân Tông gồm có: Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Đại Hương Hải Ấn Thi Tập, Tăng Già Toái Sự và Thạch Thất Mỵ Ngữ. Nhưng căn cứ vào sự tổng kết của giáo sư Lê Mạnh Thát trong “Toàn tập Trần Nhân Tông” thì toàn bộ sáng tác của vua Trần Nhân Tông chia làm sáu loại: thơ, phú, bài giảng, ngữ lục, văn xuôi và văn thư ngoại giao. Trong đó, về thơ có 32 bài nguyên vẹn và 3 đoạn phiến, về phú có 2 bài là Cư Trần Lạc Đạo và Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, về bài giảng có 2 bài: một tại chùa Sùng Nghiêm năm 1304 và một tại viện Kỳ Lân năm 1306, về ngữ lục có hai đoạn: một trích từ buổi đãi yến Sài Thung năm 1278 và một phát biểu trong buổi tiệc đãi Trương Lập Đạo năm 1291, về văn xuôi có tập Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, về thư ngoại giao có cả thảy 22 văn kiện ngoại giao mà vua Trần Nhân Tông gửi cho vua quan nhà Nguyên. Với số lượng sáng tác phong phú và đa dạng như thế vua Trần Nhân Tông đã gởi gắm vào đó những nội dung tư tưởng sâu sắc được hun đúc từ quá trình hoạt động tích cực với đạo với đời cũng như sự thấm nhuần, uyên thâm cả thế học lẫn Phật học. Tuy nhiên, tư tưởng then chốt chiếm lĩnh và ảnh hưởng trên toàn bộ tác phẩm của Ngài là tư tưởng “cư trần lạc đạo”. Có thể nói từ chủ đề tư tưởng “sống đời mà vui đạo”, vua Trần Nhân Tông đã giúp chúng ta nhận thức về cuộc sống |



"Tinh thần Nhập thế của Phật giáo thời Trần” xuất phát từ lời dạy của Quốc sư Viên Chứng với vua Trần Thái Tông là người đi đầu thực hiện đã tạo thành làn sóng Phật Giáo Việt Nam mang vị mặn dân tộc, phả vào tất cả mọi bờ mé tâm thức của từng người dân Việt và kết tụ nên tiếng vang lớn “Phật giáo đời Trần là quốc giáo” trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đến đời vua thứ ba triều Trần là Trần Nhân Tông, vừa thừa tiếp dòng chảy “Nhập thế” ấy và vừa thừa sức sáng tạo đã làm nên đợt sóng thần bất diệt, tác động lớn đến nền văn hóa xã hội Đại Việt thời Trần. Đó là sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mà chính Ngài làm Đệ Nhất Tổ.