05 | 07 | 2009
Phật Giáo Việt Nam ... PDF. In Email
Nghiên Cứu Phật Học - Phật Giáo và Dân Tộc
Viết bởi Trần Chung Ngọc   
Chỉ mục bài viết
Phật Giáo Việt Nam ...
I. Sơ Lược Lịch Sử Gia Tô La Mã Giáo
II. Nội dung Thánh Kinh
III. Phật Giáo Với Nhiệm Vụ Gìn Giữ
Tất cả các trang
Chúng ta cũng còn có bổn phận phát huy tinh thần Phật Giáo, góp phần truyền bá Phật Giáo vào đại chúng ở trong nước cũng như ở hải ngoại để cho họ thấy đâu là con đường quốc gia dân tộc, đâu là những giá trị tinh thần thiết thực và đâu là những giá trị huyền hoặc.

Phật Giáo Việt Nam Và Vấn Đề Gìn Giữ Và Phát Huy Nền Văn Hóa Dân Tộc

Trần Chung Ngọc


Trong bài thuyết trình về đề tài “Sứ Mệnh của Người Phật Tử Đối với dân tộc” tại Tổng Vụ Thanh Niên, Saigon, 1968, Hòa Thượng Thích Đức Nhuận có nói: “Nói riêng về dân tộc Việt Nam thì đạo Phật đã thể nhập vào dòng sống của dân tộc này không thể tách rời ra được nữa… Việt Nam còn, Phật Giáo còn. Phật Giáo còn, dân tộc còn… Phật Giáo đối với dân tộc Việt Nam được coi như một thứ vũ khí tinh thần hiệu nghiệm nhất để vừa đối kháng với nền văn hóa vĩ đại Trung Hoa, vừa thâu thái những tinh hoa của nền văn hóa đó, rồi dung hòa cả hai nền văn hóa Ấn Độ - Trung Hoa với tinh thần phải chăng của dân tộc, làm thành một nền văn hóa VIệt Nam sống động trong tâm tư mỗi người và trong cuộc sống dân tộc” . Trong bài “Vài Nét về Phật Giáo Dân Gian Việt Nam”, Bông Sen số 19, tháng 9, 1994, Giáo Sư Trần Quốc Vượng viết: “Đạo Phật đã ngấm vào lòng người dân như nước ngấm vào lòng đất”. Cùng một nhận định, trong bài “Về sự hội nhập của Phật Giáo vào nền văn hóa Việt Nam”, Giao Điểm số 21, tháng 12 1995, Giáo sư Minh Chi viết “… Phật giáo từ Ấn Độ hay từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam đã có đầy đủ điều kiện để thành tựu một sự hội nhập thật sự vào nền văn hóa Việt Nam, vào cuộc sống của dân tộc Việt Nam. ” Hội nhập, theo giáo sư Minh Chí đến mức như “Nước hòa với sữa, đến nỗi không thể phân biệt được đâu là nước đâu là sữa”.

Nhận định của một bậc xuất gia đạo cao đức trọng như Hòa Thượng Thích Đức Nhuận và của hai vị giáo sư có tên tuổi như Trần Quốc Vượng và Minh Chi cho chúng ta thấy, cái nền văn hóa Việt Nam dính liền với lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam mà con dân Việt Nam ai cũng lấy làm hãnh diện, đã dung hợp rất nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo. Cho nên, Phật Giáo ắt đóng một vai trò quan trọng nhiệm vụ gìn giữ và phát huy nền văn hóa dân tộc, một nhiệm vụ chung của mọi người dân Việt. Gìn giữ và phát huy như thế nào? Theo thiển ý, nhiệm vụ này gồm có hai phần:

1. Ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa của những ý thức hệ không tương hợp với nền văn hóa Việt Nam. Điều này không có nghĩa là bài ngoại một cách mù quáng, không tiếp nhận những cái hay cái đẹp trong các nền văn hóa khác. Vấn đề là chúng ta phải ngăn chặn sự xâm nhập của những ý thức hệ không hợp với dân tộc tính và đã chứng tỏ trong lịch sử nhân loại là không có căn bản đạo đức, tự do, dân chủ, cũng như tinh thần từ bi, khoan dung của Phật Giáo, những đức tính đã thấm nhuần trong lòng dân tộc Việt Nam từ bao nhiêu thế kỷ.

2. Gìn giữ, phát huy nền văn hóa dân tộc bằng cách luôn luôn cải tiến cho ngày càng tốt đẹp và hợp với thời đại mới, thời đại của khoa học và kỹ thuật, nhưng không xa lìa dân tộc tính, đạo đức và tinh thần từ bi hỉ xả của Phật Giáo; lọc lựa để tiếp nhận những cái hay cái đẹp trên thế giới để cho nền văn hóa dân tộc ngày càng phong phú hơn, củng cố tinh thần yêu nước, giữ nước và xây dựng nước, truyền thống của dân tộc Việt Nam. Điều này chỉ có thể thực hiện được qua chính sách mở mang dân trí để cho người dân biết tới những sự thực lịch sử, lấy đó làm kinh nghiệm, và cập nhật hóa kiến thức về những tiến bộ trên thế giới.

Trước ngưỡng cửa Thế Kỷ 21, khi mà các cuộc xâm lăng quân sự chuyển sang xâm lăng văn hóa, người dân Việt Nam phải ý thức được tầm quan trọng của vấn đề gìn giữ nền văn hóa dân tộc, nếu chúng ta không muốn một ngày nào đó trong tương lai, con cháu chúng ta không dám ngẩng mặt lên vì đã mất đi niềm hãnh diện của dân tộc, hay nói khác đi, đã bị nô lệ hóa, một hình thức nô lệ tệ hại và mất phẩm cách con người nhất.

Thật vậy, lời khuyên nhủ sau đây của Giáo Hoàng Gia Tô La Mã John Paul II sẽ cho chúng ta thấy rõ vấn đề: Trong một bài diễn văn tại Maribor, Slovenia, ngày 19 tháng 5 năm 1996, Giáo Hoàng Giatô La Mã John Paul II than phiền về sự suy thoái của niềm tin tôn giáo và kêu gọi các quốc gia phải bảo tồn nền văn hóa dân tộc, nguyên văn như sau: “Sự suy thoái của các lý tưởng đã phá ngầm nhân văn thế tục và mang tới lòng hoài nghi. Niềm tin tôn giáo phải lấp khoảng trống này và tạo ra một kết nối với khoa học. Các quốc gia PHẢI GÌN GIỮ NỀN VĂN HÓA CỦA HỌ như là MỘT BIỂU THỊ CỦA PHẨM CÁCH QUỐC GIA”. (The warning of ideologies, he (the Pope) said, has undermined secular humanism and brought on skepticism. Religious belief must fill the void and create a bond with science. Countries must preserve their culture as an _expression of national dignity. (“Wisconsin State Journal”, May 20, 1996, Daniel J. Wakin, Associated Press). Trong cái thế giới đa dạng, đa tôn giáo này, John Paul II đã ngộ được một điều: phẩm cách quốc gia chính là nền văn hóa dân tộc. Trước câu nói này, cả thế giới hân hoan và tin tưởng rằng, trong tương lai gần, John Paul II sẽ ra lệnh cho tín đồ của Ngài chấm dứt những hành động xâm lăng văn hóa vào các quốc gia ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh v. v…, nơi đây những nền văn hóa địa phương có bản chất rất xa lạ nếu không muốn nói là đối ngược với nền văn hóa Gia Tô Tây Phương.

Riêng đối với Việt Nam, một người uyên bác như Ngài chắc cũng biết rằng, nền văn hóa dân tộc của Việt Nam tuyệt đối không tương hợp (incompatible) với nền văn hóa Gia Tô của Tây Phương, và dân tộc Việt Nam cũng đã ý thức được thế nào là phẩm cách quốc gia từ ngàn đời nay rồi. Cho nên, trong suốt mấy trăm năm truyền đạo với sự hỗ trợ của chính quyền đô hộ Pháp, cộng với 9 năm cầm quyền ở miền Nam của ông Tổng Thống GiaTô Ngô Đình Nhiệm, dù các giáo sĩ và chức sắc GiaTô đã làm đủ mọi cách, từ dùng bả vật chất cho tới cưỡng bách vào đạo, mà số người theo GiaTô Giáo chưa bao giờ lên quá 7% của tổng số dân số. Cho tới bây giờ, một số giáo dân Việt Nam vẫn sống trong những làng mạc riêng biệt, với nếp sống riêng, xa lạ với phong tục tập quán của người Việt, như người ngoại quốc sống giữa chính đồng bào của mình” (Nguyễn Văn Trung: “Nhận Định 1, Nam Sơn, Saigon”, Thích Nhất Hạnh trích dẫn trong “Lotus in a Sea of Fire”, trg. 24). Những sự kiện này cho thấy dân tộc Việt Nam trên thực tế đã từ chối, không chấp nhận một nền văn hóa GiaTô mà từ cấu trúc, tư tưởng, tín điều, nghi lễ v. v… đều không hợp với nền văn hóa Việt Nam.

Nhưng những kinh nghiệm trong quá khứ đã cho chúng ta thấy rõ, “lời nói đi đôi với việc làm” là chuyện hiếm hoi trong lịch sử GiaTô Giáo trên toàn cầu. Qua những lời phát biểu của John Paul II ở những nơi khác, người ta thấy rõ là trong thâm tâm Ngài vẫn ấp ủ một niềm tin của thời Trung Cổ: chân lý GiaTô là chân lý chân thật duy nhất, và một nền văn minh xứng đáng với con người phải là nền văn minh KiTô. Ở đây giáo hoàng đã lấy cái nền văn minh Tây Phương vào làm nền văn minh KiTô trong khi thực ra thì lịch sử đã chứng minh rằng bản chất của KiTô giáo là phản văn minh, phản tiến bộ (tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một đoạn sau). Niềm tin này đã đầu độc những tín đồ kém hiểu biết từ khi họ còn nhỏ, nhất là ở trong các nước chậm tiến, dân trí còn thấp kém.

Bởi vậy, trong khi Tây phương đã thấy rõ bản chất của GiaTô La Mã giáo và dần dần từ bỏ tôn giáo này, hay ít ra cũng không còn tin vào những tín lý huyền hoặc hay những huyền thoại trong Thánh Kinh nữa, thì ở Mỹ, ông Nguyễn Văn Chức, niềm hãnh diện của giới trí thức GiaTô, Tổng Thư Ký Liên Đoàn GiaTô Hải Ngoại, vẫn sống trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là “bóng tối dày đặc của ý thức hệ La Mã” (The thick darkness of Romanism) và phát biểu trong bài thuyết trình ở Denver, Colorado ngày 13/08/1993, một câu có tính cách mạ lỵ cả một dân tộc như sau: “Quyển Thánh Kinh sẽ là cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và đạo lý tại Việt Nam”. (“Tạp chí ngày nay, số 144, trang 17, tháng 9/1993, Kansas”; Chu Văn Trình: “Văn Sử Địa 1994, tập I”; và Đỗ Mậu: “Tâm Thư”). Thật vậy, ông Chức đã đồng hóa một số người mà có thể ông đã thù hận trên căn bản đối nghịch ý thức hệ với cả một dân tộc trong câu nói trên, chưa kể đến chuyện quyển Thánh Kinh sẽ phục hưng con người và đạo lý tại Việt Nam như thế nào, điều mà chúng ta phải nghiên cứu, phân tích cẩn trọng.

Vì sự thực thi điều này có thể ảnh hưởng tới tương lai dân tộc, tới nền văn hóa cổ truyền của Việt Nam, phản ánh một ý đồ xâm lăng văn hóa theo sách lược của các cha cố và thực dân Pháp ngày xưa, ngược hẳn với tư tưởng cấp tiến của John Paul II đã nêu ở trên, cho nên đứng trên cương vị của một người dân Việt Nam, đặt quyền lợi tổ quốc trên hết, đặt việc công trên tình quen biết riêng tư (tôi và ông Nguyễn Văn Chức vốn là bạn cùng khóa, nằm cùng phòng với nhau suốt 10 tháng trời trong trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định), tôi không thể không thắp lên một ngọn đèn nho nhỏ để soi sáng sự thật:

Đức Khổng Tử đã chẳng nói: “Thay vì ngồi nguyền rủa bóng tối, tốt hơn là thắp lên một ngọn đèn nhỏ” hay sao? Cái hạnh nguyện của người cư sĩ Phật Giáo là với tinh thần vô úy, với từ bi tâm, phải dấn thân vào làm những việc không thể không làm, nói những điều không thể không nói, làm và nói trong tinh thần không chấp trước, tôn trọng sự thực, không gian dối, không bịa đặt, không xuyên tạc, hy vọng mang lại phần nào ích lợi cho quốc gia đồng bào, dù biết rằng những việc làm hay lời nói của mình có thể đưa tới những thiệt thòi cho chính bản thân.

Sự dấn thân này tuyệt đối không bắt nguồn từ lòng thù hận mà từ lòng mong muốn một sự cải tiến để tốt đẹp hơn qua chánh kiến và chánh tư duy, kết quả của nghiên cứu và suy luận. Có nhiều người cho rằng: “Chúng ta không bao giờ nên phê phán, chỉ trích tôn giáo của người khác,” dù nhiều khi những cái gọi là “phê phán” hay “chỉ trích” chỉ là những sự kiện lịch sử không ai có thể phụ nhận. Tôi tôn trọng những tình cảm cao quý trên của họ. Nhưng sống trong một xã hội mà mọi sự đều liên hệ tới nhau, thái độ này có hại nhiều hơn là có lợi. Thật vậy, trong cuốn “Nền Tự Do của Mỹ và Quyền Lực Gia Tô” (“American Freedom and Catholic Power”, The Beacon Press, New York, 1950, trg. 4-5) Paul Blanshard viết như sau:

“Anh không bao giờ nên chỉ trích tôn giáo của người khác,” cái giáo lý vô hại đó, sinh ra từ những tình cảm cao quý, thật là nguy hại cho lối sống dân chủ. Nó không biết đến bổn phận phải bênh vực sự thực trong mọi ngành tư duy của mọi công dân tốt. Nó không xét đến sự kiện là phần lớn cái mà con người gọi là tôn giáo cũng là chính trị, lành mạnh xã hội và kinh tế. Giữ yên lặng về “tôn giáo của người khác” có thể đưa đến nền y tế hạng hai, nền giáo dục thấp kém, và chính quyền phản dân chủ.

Tôi tin rằng mọi công dân Mỹ - Gia Tô và phi GiaTô - đều có bổn phận phải nói lên vấn nạn Gia Tô, vì những vấn đề liên hệ tới Gia Tô đi vào trọng tâm của nền văn hóa và quốc tịch của chúng ta. Nói thẳng về nền văn hóa và quốc tịch của chúng ta. Nói thẳng về vấn nạn này có thể bị nhiều nguy hiểm cay đắng, hiểu lầm và ngay cả sự cuồng tín, nhưng những nguy hiểm của sự yên lặng lại còn lớn hơn. Bất cứ người nào phê phán về những chính sách của hệ thống quyền lực Gia Tô đều phải gồng mình lên đội cái mũ “chống Gia Tô”, vì đó là một phần trong sách lược chống đỡ của hệ thống Gia Tô: chụp cái nhãn hiệu này lên những người đối lập; và họ cũng phải cam chịu mang danh hiệu là kẻ thù của dân GiaTô, vì hệ thống GiaTô luôn luôn đồng hóa những tham vọng của giới giáo sĩ với những cái mà họ cho là ước muốn của tín đồ. ” (“You should never criticese another man’s religion”, that innocent-sounding doctrine, born of the noblest sentiments, is full of danger to the democratic way of life. It ignores the duty of every good citizen to stand for the truth in every field of thought. It fails to take account of the fact that a large part of what men call religion is also politics, social hygience and economics. Silence about “another man’s religion” many mean acquiescence in second-rate medicine, inferior education and anti democratic government.

I believe that every American – Catholic and non-Catholic – has a duty to speak on the Catholic question, because the issues involved go to the heart of our culture and our citizenship. Plain speaking on this question involves many risks of bitterness, misunderstanding and even fanaticism, but the risks of silence are even greater. Any critic of the policies of the Catholic hierarchy must steel himself to be called “anti-Catholic”, because it is part of the hierarchy’s strategy of defense to place that brand upon all its opponents; and any critic must also reconcile himself to being called an enemy of the Catholic people, because the hierarchy constantly identifies its clerical ambitions with the supposed wishes of its people).

Ý thức được những điều trên và chấp nhận những nhãn hiểu có thể chụp lên đầu và cả những lời trách cứ của những người không muốn dính vào “tôn giáo của người khác”, sau đây tôi sẽ cố gắng phân tích vấn đề GiaTô, dựa theo những tài liệu khả tín hiện hữu, và dựa theo hiểu biết hạn hẹp cá nhân.

Vấn đề đầu tiên được đặt ra là chúng ta phải nghiên cứu kỹ càng nội dung ý kiến của ông Nguyễn Văn Chức: dùng Thánh Kinh GiaTô làm “cẩm nang mang sứ mạng phục hưng con người và đạo lý ở Việt Nam” đề từ đó dựa vào đâu mà chấp nhận hay loại bỏ? Thiết tưởng không còn cách nào hơn là mang vấn đề này ra mổ xẻ và phổ biến trong quảng đại quần chúng vì nó liên hệ đến tương lai của cả một dân tộc. Bài khảo luận nho nhỏ này, dựa trên sự kiện chứ không dựa trên cảm tính, viết ra không ngoài mục đích trên, và với hy vọng sẽ cho chúng ta một giải đáp hợp lý.

Vì đây là một chủ đề liên hệ đến Thánh Kinh Gia Tô, mà Thánh Kinh lại là căn bản ý thức hệ GiaTô, cho nên tôi không thể tránh được việc bàn luận đến cuốn sách này cũng như đến GiaTô Giáo. Chúng ta biết rằng, trong những xã hội dân chủ tự do như ở Mỹ, cuốn Thánh Kinh được bày bán khắp nơi, và được những người truyền đạo hăng say đứng ở đầu đường phát không cho những người đi qua đi lại ở nhiều trường đại học, do đó không phải là một vật thiêng liêng bất khả xâm phạm của một tôn giáo, và nếu tôi có luận trên cuốn sách này thì cũng chỉ là đi theo gót hàng trăm học giả, giới chức tôn giáo đã xuất bản những công cuộc nghiên cứu, phân tích của họ về cuốn Thánh Kinh. Thời buổi này, trong những xứ văn minh tiến bộ Âu Mỹ, không có ai còn sử dụng cái quyền “Cha Nhà Thờ, tha hồ nói, và người ngoại đạo chỉ có quyền tha hồ nghe” (mượn ý của Giới Tử) để lên án những chuyên gia, học giả nghiên cứu về Gia Tô Giáo cũng như về Thánh Kinh là “chống phá tôn giáo”, “chia rẽ tôn giáo”, “đụng chạm đến quyền tự do tín ngưỡng riêng tư”, hay ngớ ngẩn hơn nữa là “thiên CS”, “làm tay sai cho CS”, “theo sách lược chống phá tôn giáo của CS” v. v… Những luận cứ như vậy nghe có vẻ khôi hài, phản trí thức, và phản tiến bộ một cách đáng thương, phản ánh những đầu óc cuồng tín và không đủ kiến thức, khả năng để thảo luận nghiêm chỉnh một vấn đề, cho nên chỉ còn biết lên án vu vơ bất cứ ai viết đụng đến GiaTô Giáo hay Thánh Kinh, dù rằng họ chỉ viết ra những sự thực bất khả phản bác.

Trước hết, nhận xét đầu tiên của tôi là câu của ông Nguyễn Văn Chức phản ánh một niềm tin tôn giáo, một niềm tin đặc thù GiaTô mà chúng ta thường thấy còn sót lại ở một phần các xứ Nam Mỹ, Phi Châu, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân, và buồn thay, ở một thiểu số trên đất nước Việt Nam, chứ không phải là một sự hiểu biết về Thánh Kinh, hay lịch sử của Gia Tô La Mã giáo. Bởi vì bất cứ người nào, với một sự lương thiện trí thức tối thiểu, khi đã đọc kỹ cuốn Thánh Kinh và biết về lịch sử Gia Tô Giáo trên toàn cầu, thì không thể nào thốt ra một câu như vậy mà không cảm thấy ngường ngượng với chính lương tâm của mình. Tôi sẽ chứng minh điều này bằng một số tài liệu, tuy ít ỏi nhưng cũng có thể gọi là tạm đủ, để quý vị đọc giả có thể biết được những điều cần thiết về lịch sử Gia Tô Giáo trên hoàn cầu và nội dung cuốn Thánh Kinh. Tôi hy vọng với sự hiểu biết này, quý độc giả sẽ có một nhận định nghiêm chỉnh về cái gọi là “phục hưng con người và đạo lý ở Việt Nam” bằng quyển Thánh Kinh.

Thứ đến, nhiệm vụ gìn giữ và phát huy nền Văn Hóa Việt Nam là nhiệm vụ gìn giữ và phát huy tinh thần dân tộc. Do đó, Phật Giáo, một tôn giáo của đa số người dân Việt Nam, ắt phải góp một phần quan trọng trong nhiệm vụ này.

Với nội dung như trên, bài khảo luận này gồm có ba phần: 1. Lịch sử Gia Tô La Mã Giáo; 2. Nội Dung Thánh Kinh và 3. Phật giáo với Nhiệm vụ giữ gìn và phát huy nền văn hóa dân tộc.



Related news items: