Home Lịch Sử Phật Giáo Phật và Thánh Chúng Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda
20 | 11 | 2008
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda PDF. In Email
Lịch Sử Phật Giáo
Viết bởi thienminh   
Chỉ mục bài viết
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.III
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.IV-
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.VII-
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.IX
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.X
Tất cả các trang

Trong hàng Phật giáo có rất nhiều vị đại tông đồ rất đáng cho hậu thế noi gương. Một trong những vị đại tông đồ ấy là Thánh Tăng A Nan Ðà, một cái tên đã chiếm trọn vẹn sắc thái phổ thông trong kinh điển đạo Phật.

Khi các hàng Phật tử Bắc tông cũng như Nam tông, tại gia cũng như xuất gia bắt đầu tụng một thời kinh, là cái tên A Nan Ða thường được họ tuyên đọc. Chẳng hạn như: "Ta là A Nan Ða, có nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Phật ngự tại Kỳ Viên Tinh xá v.v...”

Vì vậy, viết về A Nan Ða tức là viết về một Thánh Tăng mà đời sống "chứa" nhiều Phật giáo nhất. A Nan Ða không những là một đại Hộ Pháp, có công lưu truyền giáo lý của đấng Toàn Giác cho đời sau, mà ông còn là một vị La Hán Phật, bậc đã có vô số kiếp trước tái sinh và trau giồi phẩm hạnh, song song với công phu độ đời của tiền thân Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni.


Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda

Tác giả: Hellmuth Hecker

Nguyễn Ðiều soạn dịch (1991)

Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh. Ấn hành. PL. PL. 2538 – DL. 1994 bttdtkvn

Mục lục

Lời nói đầu

I. Phúc duyên làm người

II. A Nan Ða, một cái tên quen thuộc

III. Xứng đáng với vai trò hầu Phật

IV. A Nan Ða đáng gọi là kho tàng Pháp bảo

V. A Nan Ða đối với nữ giới

VI. A Nan Ða đối với các hàng huynh đệ.

VII. Những mẫu pháp đàm của A Nan Ða với Ðức Phật

VIII. Tiền kiếp của A Nan Ða

IX. A Nan Ða lúc Phật gần nhập Niết bàn

X. A Nan Ða sau khi Ðức Phật Viên tịch

"Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammà Sambuddhassa.”

Thành kính đảnh lễ đấng Toàn Giác

Ngài là bậc thân khẩu ý trọn lành, không còn luân hồi

trong Tam giới nữa.

Lời Nói Đầu

Trong hàng Phật giáo có rất nhiều vị đại tông đồ rất đáng cho hậu thế noi gương. Một trong những vị đại tông đồ ấy là Thánh Tăng A Nan Ðà, một cái tên đã chiếm trọn vẹn sắc thái phổ thông trong kinh điển đạo Phật.

Khi các hàng Phật tử Bắc tông cũng như Nam tông, tại gia cũng như xuất gia bắt đầu tụng một thời kinh, là cái tên A Nan Ða thường được họ tuyên đọc. Chẳng hạn như: "Ta là A Nan Ða, có nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Phật ngự tại Kỳ Viên Tinh xá v.v...”

Vì vậy, viết về A Nan Ða tức là viết về một Thánh Tăng mà đời sống "chứa" nhiều Phật giáo nhất. A Nan Ða không những là một đại Hộ Pháp, có công lưu truyền giáo lý của đấng Toàn Giác cho đời sau, mà ông còn là một vị La Hán Phật, bậc đã có vô số kiếp trước tái sinh và trau giồi phẩm hạnh, song song với công phu độ đời của tiền thân Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni.

Ðây là cuốn sách thứ 3 trong loạt phiên dịch ra Việt ngữ, lịch sử của các đại tông đồ của đức Phật. Hai cuốn đầu là "Cuộc Ðời Ðức Xá Lợi Phất" và "Lịch Sử Ðức Mục Kiền Liên" đã được tái bản và ấn tống cách đây không lâu.

Riêng cuốn "Cuộc Ðời Thánh Tăng Ananda" này dịch giả xin mạn phép vừa dịch vừa soạn (dựa theo kinh điển Pali) để bổ túc một cách vừa phải những chỗ quá gọn, khó hiểu trong nguyên bản Anh ngữ của Ni sư Ayya Khema, vì bản Anh ngữ ấy vốn cũng lại được dịch từ một tập sách tiếng Ðức của học giả Hellmuth Hecker, đã biên soạn cách đây mấy mươi năm.

Dịch giả cố gắng làm tròn bổn phận của một Phật tử luôn luôn tôn thờ ba đức an lành là Phật, Pháp, Tăng. Trình độ hiểu biết của một Phật tử tại gia như chúng tôi cho dù có được đào tạo căn bản trong các Phật học viện lớn một thời gian đi nữa, thì bao giờ cũng còn tương đối. Nếu có điều chi sơ sót ngưỡng mong quý vị Cao Tăng, học giả niệm tình bổ túc cho. Dịch giả xin hết lòng cảm tạ.

Cuốn sách này ra đời là nhờ sự khuyến khích phiên dịch và nhờ sự hảo tâm hùn phước ấn tống của một số Phật tử.

Dịch giả xin chân thành chia đều phần phước "Pháp thí" này đến tất cả quý vị ấy cũng như đến tất cả các chúng sanh, nhất là đến hai đấng sinh thành và các bậc hữu ân. Thầy Tổ của dịch giả.

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nguyễn Ðiều.

A Nan Ða (Một Kho Tàng Pháp bảo)

Vị đại đệ tử được nhắc đến nhiều nhất trong những kinh Phật là Tôn giả A Nan Ða. Thánh Tăng này chiếm một địa vị độc đáo trong hàng những đại tông đồ Phật Tổ Thích Ca.

Và với tất cả sự ngưỡng mộ tính cách độc đáo ấy mà soạn giả xin cống hiến đến chư Phật tử một sử liệu quý giá hầu làm gương cho ngày sau, xuyên qua những trang sách này!

Chương I: Phúc Duyên Làm Người

Phẩm vị đặc biệt của Ananda (A Nan Ða) trong hàng các vị đại Thanh văn giác của đức Phật đã bắt đầu từ xa xưa, trước khi bước vào kiếp chót.

Cũng như đức Phật, A Nan Ða đã giáng sinh từ cõi trời Ðâu Suất (Tusita) và sinh ra cùng ngày, đầu thai vào cùng giai cấp (hiệp sĩ) trong hoàng tộc Thích Ca, song song với đức Phật.

Hai thân phụ của đức Phật và của A Nan Ða vốn là anh em, nên A Nan Ða đối với đức Thế Tôn đương nhiên ở vào địa vị huynh đệ (chú bác). A Nan Ða có ba anh em là Anuruddha, Mahànàma, Pandu và em gái là Rohini.

Anuruddha xuất gia như A Nan Ða, rồi nghiêm trì Giới luật, phát triển Trí tuệ Giải thoát, đã đắc quả A la hán, một hạng Thánh Tăng cao nhất, Thánh A la hán còn được gọi là Thánh Bất lai, vì bậc Thánh này, sau khi mạng chung sẽ được Giải thoát, không còn luân hồi nữa.

Tiếp theo là Mahànàma, tuy ở ngôi sư sĩ Thái Tử để duy trì Thích Ca (Sakya), nhưng cũng đắc quả A na hàm (tức quả Nhất lai, hay quả Thánh chỉ còn sinh lại một lần nữa, rồi được Giải thoát).

Trong khi đó thì Pandu, người con trai còn lại trong gia đình, không thấy sử sách nói đến nhiều, chỉ ghi tóm tắt rằng ông là người duy nhất sống sót của dòng họ Thích. Khi đức Phật thọ 80 tuổi.

Riêng người em gái duy nhất của A Nan Ða là Rohini, vì dư quả của tính ganh tị từ tiền kiếp, đã chịu bệnh phong lở ngoài da trầm trọng, đêm ngày khổ sở ẩn thân trong phòng kín cho đến khi đức Phật độ, chỉ rõ ấy là quả xấu của ác nghiệp từ đời trước. Khi được Phật khai ngộ, bà cũng thành tâm tu hành, về sau đạt tới Thánh quả Nhập lưu Tu Ðà Hoàn (Sotàpattimagga) tức là bước vào con đường chắc chắn sẽ Giải thoát.

Kinh truyện chép: Rohini lúc bước vào Thánh lưu thì tự nhiên lành bệnh, và khi mãn tuổi thọ, chết sanh vào cõi trời thứ 33 làm vợ vua trời Ðế Thích (Sakka)

Theo Cùla Vagga thuộc Tạng luật (Vinaya Pitaka), quyển 8 chương 1 thì A Nan Ða được 37 tuổi, khi ông cùng Anuruddha và người anh họ Devadatta (Ðề Bà Ðạt Ða) với một số thanh niên quý tộc Thích Ca cùng bước vào đời sống xuất gia.

Vị Thầy đã làm phép xuất gia cho A Nan Ða là Thánh A la hán Belatthasìsa. Nhưng Pháp bảo của bậc Ðạo sư này lưu lại trong tam tạng rất ít. Chúng ta chỉ tìm thấy vỏn vẹn có mấy câu kệ sau đây:

"Như thân phận làm trâu trong khổ cảnh,

Dù trên vai mang nặng một chiếc cày.

Nhưng vẫn cố tiến lên từng bước mạnh

Thì Sa môn xin chớ ngại gian nguy.

Ngày với tháng chính là tầm thước Thánh,

Ðo chiều cao công đức kẻ tu trì...”

(Thoát dịch theo Theragathà Tôn Túc kệ ngôn số 16)

Chỉ bằng sự hướng dẫn đơn giản và sâu xa của bài Thánh kệ đó, mà A Nan Ða đã mỗi ngày một trở nên thuần thục trong Giới luật phạm hạnh. Ông là một đệ tử chuyên cần và luôn luôn cảnh giác, nên chỉ trong mùa nhập hạ (1) đầu tiên, ông đã đạt được quả Nhập lưu (theo Cùla Vagga VII, 1).

Sau khi xuất gia, một hôm A Nan Ða mách với các đồng đạo rằng: "Trưởng lão Punna Mantàliputta đã giúp cho ông tiến bộ rất nhiều trong việc tu tập. Trưởng lão đã truyền pháp đến những Tỳ kheo mới nhập môn, trong đó có ông, bằng cách giảng dạy cho họ hiểu rõ: Sự cố chấp trong cái tôi chỉ sinh ra xuyên qua hai trợ nhân là Danh và Sắc (tư duy hình tướng), tức là xuyên qua hình thức và cảm nghĩ. Nói cách khác là xuyên qua trình độ của tư duy và tình trạng của sắc thái.”

Ðể cho dễ hiểu hơn, Trưởng lão Punna còn nêu lên một thí dụ: "Nếu một người muốn biết mặt mũi của mình ra sao, hay muốn nhìn thấy hình dạng của họ như thế nào, thì họ phải soi mặt vào gương, hay trong hồ nước phẳng lặng. Tương tự như thế, khi năm uẩn (hay còn gọi là Ngũ uẩn (2) tạo thành một con người thì nó chỉ để lộ bộ mặt chấp ngã của nó xuyên qua hình tướng và tư duy, tức DANH và SẮC mà thôi!”

Hễ sáu căn (hay gọi là lục căn), tức là Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn Thân căn, và Ý căn, trong một cá nhân mà còn cột chặt vào Danh và Sắc, tức là còn cấu kết với hình tướng và tư duy, thì tất nhiên có cái "Tôi" hiện ra! Và khi nào sáu căn không còn được nuôi dưỡng bằng hình tướng và tư duy nữa thì khi ấy cái "Tôi" mới biến mất (theo Samyutta Nikàya 22, 83 - Tạp A Hàm số 22, 83)

A Nan Ða suy gẫm về sự so sánh này một cách lập đi lập lại nhiều lần và càng lúc càng sâu sắc hơn, cho đến khi ông Giác ngộ được Khổ đế (Dukkhàriyasacca), lẽ Vô thường (Aniccà) và lý Vô ngã (Anattà). Rồi ông không còn để cho nội tâm của mình bị "nuôi dưỡng" bằng năm uẩn (hay Danh và Sắc) ấy nữa, để ông bắt đầu gặt hái kết quả của đời sống phạm hạnh, trước tiên là phẩm Nhập lưu Tu đà hườn.

Từ đó A Nan Ða luôn luôn tri túc và an tịnh với đời sống Sa môn. Ông nhận rõ cái an lạc của hạnh chối bỏ (ám chỉ sự đạm bạc trong đời sống xuất gia), và mạnh tiến trên Thánh đạo, ví như một kẻ đang lênh đênh giữa biển cả, sung sướng tìm được hướng vào bờ chỉ nương vào cái phao duy nhất là đức tính cảnh giác hay biết mình.

(Theo kinh Thập Ðộ Ba La Mật: Dasapàramitàsutta, thì dòng suối luân hồi chỉ bị chặn lại bằng ba cái bờ, là bờ kia, bờ trên và bờ cao thượng. Các hàng xuất gia hay tại gia, mà đắc được hạnh Tri túc, cắt cụt được lòng tham, tức là thấy được Bờ Kia vậy!).

Vào những năm đầu của đời sống Sa môn, A Nan Ða đã dành hết thì giờ vào việc thanh tịnh nội tâm. Ông đã hòa mình rất dễ dàng vào cộng đồng Tăng lữ, rồi ông dần dần phát triển sức mạnh tinh thần một cách nổi bật. Khi đức Thế Tôn và A Nan Ða cả hai được 55 tuổi, một hôm Phật cho triệu tập Tăng chúng, và dạy rằng:

"Trong hai mươi năm trường hướng dẫn cộng đồng phạm hạnh, Như Lai đã được nhiều đệ tử thay phiên thân cận, nhưng chưa có một môn đồ nào tình nguyện trọn đời hầu Phật một cách dứt khoát. Như Lai tự biết mình sẽ có một đệ tử như thế. Và giờ đây Như Lai đã 55 tuổi, xác thân này như cỗ xe đang bước vào giai đoạn hư hoại, Như Lai cảm thấy cần nói ra để vị hầu cận ấy tự động xuất hiện.”

Ðức Phật vừa dứt lời thì lập tức tất cả những đệ tử nhiều hạnh kiểm nhất liền tình nguyện được hầu Phật. Nhưng đức Thế Tôn đã hiền hòa từ chối, rồi Ngài yên lặng.

Cử chỉ ấy của đức Phật biểu lộ một ý nghĩa đặc biệt. Toàn thể những đệ tử có mặt liền nghĩ ngay đến A Nan Ða, lúc đó đang ngồi ở một chỗ khiêm nhượng, phía sau các hàng Trưởng lão, và ông là người duy nhất chưa xung phong xin hầu Phật. Rồi họ đồng hướng về A Nan Ða, yêu cầu ông bước lên phía trước.

Do hạnh duyên chín mùi, quy tụ từ nhiều tiền kiếp, A Nan Ða là người duy nhất sẽ đóng vai trò vị tông đồ hầu cận Phật. Nhưng có một số phàm Tăng, chưa đạt được huệ thanh tịnh, tỏ ra ngạc nhiên đặt câu hỏi: "Tại sao A Nan Ða không có mặt trong số những đệ tử đầu tiên xung phong hầu hạ Phật?”

A Nan Ða lễ phép trả lời:

- Ðức tin của tôi vốn trao trọn vào sự sáng suốt hoàn toàn của đấng Toàn Giác. Tôi muốn được chiêm ngưỡng ý Phật Từ bi biểu lộ. Dù trong thâm tâm tôi vốn tình nguyện đảm nhận trách nhiệm ấy từ lâu, vì một người trong dòng họ Thích Ca đóng vai hầu hạ vị Giáo chủ Phật giáo, sẽ tránh cho người đời thuộc các giai cấp khác, bất mãn đức Phật. Nhưng tôi không dám sỗ sàng như thế, bởi đức Thế Tôn là bậc thấu rõ mọi nhân duyên. Chỉ có Ngài tự chọn lựa viên đệ tử hầu cận là chắc chắn nhất, và Ngài đã biểu lộ.

Ðức Phật chờ cho A Nan Ða thốt xong liền tuyên bố:

- A Nan Ða chính là đệ tử hầu Phật mà Như Lai định chọn lựa. Và kể từ nay: Ngoài việc phục dịch Như Lai ra, ông còn là một trong những đại diện Như Lai để ban bố giáo lệnh.

A Nan Ða khi nghe đức Thế Tôn xác nhận địa vị của ông như thế, thay vì hãnh diện mình được Phật nâng lên hàng đại đệ tử, A Nan Ða đã khiêm tốn yêu cầu đấng Giải thoát chấp thuận cho ông tám điều kiện sau đây:

- Thứ nhất đức Thế Tôn đừng ưu tiên tặng đức y phục cho A Nan Ða.

- Thứ hai đức Bổn sư đừng khất thực cho ông ăn.

- Thứ ba đức Bổn sư đừng dành Tinh xá tốt cho ông ở.

- Thứ tư khi có thí chủ mới, đức Bổn sư không ưu tiên tiến cử ông tham dự những buổi Trai Tăng hay cúng dường.

- Thứ năm nếu có ai muốn thỉnh Phật thọ trai thì kẻ ấy chỉ cần nói với A Nan Ða, rồi A Nan Ða thưa lại và Phật sẽ chấp thuận.

- Thứ sáu khi có người thiện tâm từ phương xa đến, muốn yết kiến đấng Như Lai, thì A Nan Ða có đặc ân đưa họ vào hầu Phật.

- Thứ bảy nếu A Nan Ða gặp phải thắc mắc trong Pháp bảo thì ông được phép hỏi Phật bất cứ lúc nào.

- Thứ tám nếu Ðức Thế Tôn thuyết pháp trong lúc A Nan Ða vắng mặt, thì ông xin đức Bổn sư lặp lại bài pháp ấy cho ông nghe.

Rồi ông trình bày lý do ông yêu cầu tám điều trên như sau:

- Bốn điều yêu cầu từ thứ nhất đến thứ tư sẽ tránh cho các hạng phàm phu tục tử dị nghị rằng "A Nan Ða tình nguyện hầu cận Phật chỉ vì lợi lộc!”

- Còn bốn điều yêu cầu tiếp theo (từ thứ năm đến thứ tám) sẽ đánh tan sự phê phán của người đời: "A Nan Ða tối ngày lo hầu hạ Phật thay thế Phật tiếp xúc với mọi người, còn đâu thì giờ để học đạo, tu hành, phát triển phạm hạnh Giải thoát... ?"

Ðức Phật dĩ nhiên đã chấp thuận tám điều yêu cầu đáng khen ấy, bởi nó hoàn toàn phù hợp với nết hạnh của một vị Sa môn. Và kể từ đó, A Nan Ða luôn luôn là bạn đồng hành, là người hầu cận là kẻ tiếp trợ của đức Thế Tôn trong suốt hai mươi lăm năm dài phạm hạnh. Cái khoảng hai mươi lăm năm dài, mà danh thơm cũng như các đức tính tinh tấn, nhẫn nại và bền bỉ trui rèn nội tâm của A Nan Ða, đã không suy giảm, hao hụt, so với mười tám năm đầu, khi ông còn là một Sa môn vô danh, chưa ai biết đến.

Và A Nan Ða đã tự trào bằng những câu kệ sau đây:

"Hai mươi lăm năm hầu bên chân Phật,

Học lên cao, chân lý sáng như gương.

Một cuộc sống không tham lam khao khát,

Diệt vô minh, pháp Phật diệu vô lường!"

(Phỏng dịch theo Theragàtha v. 1039 = Tôn Túc kệ ngôn số 1039)

Rồi trong hai đoạn kế của bài kệ này, A Nan Ða cũng dùng một mạch văn tương tự, để diễn tả sự an tịnh vô song của một bậc Sa môn đã diệt được lòng Sân hận và Si mê.

Quý vị độc giả có thể đọc lại bốn câu thơ trên, chỉ thay thế bốn chữ "Tham lam, khao khát", bằng bốn chữ “giận hờn, hung ác” hoặc làm thay thế bốn chữ ấy bằng bốn chữ "Si mê, lầm lạc" thì quý vị sẽ có ngay hai bài kệ tiếp theo như sau:

"Hai mươi lăm năm hầu bên chân Phật,

Học lên cao chân lý sáng như gương

Một cuộc sống không giận hờn hung ác...

Diệt vô minh, pháp Phật diệu vô lường!”

"Hai mươi lăm năm hầu bên chân Phật

Học lên cao chân lý sáng như gương

Một cuộc sống không si mê, lầm lạc

Diệt vô minh, pháp Phật diệu vô lường!"

Ý chính của bài kệ trên đây cũng như những bài kệ tiếp theo trong Tôn Túc kinh (Theragàtha) là A Nan Ða đã ca ngợi hạnh phúc bất cứ ai noi gương Phật mà dứt được tham lam, sân hận và si mê.

Mặt khác, "hai mươi lăm năm" được nêu trong kệ ngôn vừa nhắc, chỉ diễn tả cái an lạc duy nhất trong thời gian ông hầu hạ đức Phật, chứ không phải ám chỉ phẩm cách của một đời ông làm Sa môn.

Trong suốt hai mươi lăm năm ấy, tuy ông vẫn còn phàm tính. Nói theo kinh điển: Ông là người cần học - Sekha (3), nhưng A Nan Ða đã có nhiều lần tâm tư được lìa khỏi tham lam và sân hận, nên ông đã tế nhị thốt lên rằng: "Dù chưa đắc quả Giải thoát, kẻ nào được hầu hạ một vị Phật, kẻ ấy cũng không bị khổ não vì tham lam và sân hận.”

(Chú ý: Một bậc Tu đà hườn là bậc còn nhiễm phàm tính. Bậc này chỉ diệt trừ được ngã chấp, hoài nghi và mê tín mà thôi.)

Quả thật A Nan Ða là người đã hưởng được quả lành công đức hầu Phật.

Còn những kệ ngôn liên quan đến những thiện pháp khác trong Tôn Túc kinh (Theragàthà) của A Nan Ða, mặc dù không được trích dẫn ra đây, nhưng nói chung nội dung tất cả để ca ngợi các phẩm cách cao thượng, mà ông với tư cách là một người bạn đồng hành của đức Phật lúc tại tiền, đã chứng nghiệm.

Riêng đoạn đời A Nan Ða đã đắc quả A la hán, sau khi Phật Nhập diệt ra sao, sẽ xin nói đến trong những phần tiếp theo.

Ghi chú:

(1) Mùa nhập hạ là thời gian các hàng đệ tử xuất gia của các đức Phật phải ở yên một chỗ để nghiêm trì giới hạnh và hành Thiền. Đức Phật đã chế ra sự nhập hạ này đúng vào mùa mưa (tính theo thời tiết Ấn Ðộ, khoảng từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 9 Dương lịch). Truyền thống nhập hạ này đã được ghi vào trong Tạng luật và được mọi tông phái Phật giáo thi hành cho đến ngày nay. (Tuy có sự chênh lệch thời tiết mùa mưa của từng quốc gia).

(2) Ngũ uẩn: Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, và Thức uẩn. Năm uẩn này còn được gọi chung là Danh và Sắc. Sắc gồm hai uẩn đầu (Sắc, Thọ). Danh gồm ba uẩn sau (Tưởng, Hành và Thức).

(3) Sekhà: cần học, chữ Pali: Sekhà, có nghĩa là người còn học hỏi trong bốn chân lý Giải thoát (Tứ Diệu Ðế). Nhưng nhiều chỗ thuộc Tam Tạng Kinh điển Pali thì từ ngữ Sekhà ám chỉ ba bậc Thánh chưa hoàn toàn Giải thoát là Tu Ðà Hườn, Tư Ðà Hàm, A na hàm. Còn bậc Thánh cao nhất đã được hoàn toàn Giải thoát - A la hán - được Phật gọi là bậc "Hết Học", Asekhà. Nhiều dịch giả Phật giáo Việt Nam còn dịch Sekhà là Hữu Học và Asekhà là Vô Học. Soạn giả xin mạn phép đưa vào đây để quý vị tùy tiện nghiên cứu.

Chương II: A Nan Ða, Một Cái Tên Quen Thuộc

Tên Thánh A Nan Ða thường được tuyên tụng trong tác phẩm mở đầu những kinh điển Phật giáo là một điều mà các hàng Phật tử ai cũng biết. Chẳng hạn như "Ta là A Nan Ða có nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Thế Tôn ngự tại v.v...”

Khi đức Phật còn sinh tiền, Ngài đã chính thức nhìn nhận phẩm vị thay mặt Ngài một cách xứng đáng của A Nan Ða, bằng cách cho phép ông đi thuyết pháp ở chỗ này, hay đến nói đạo ở chỗ kia, với những đề tài mà Phật đã dặn trước.

Do đó, sau khi đức Phật Viên tịch, các tông đồ chưa Nhập diệt vẫn xem những điều A Nan Ða thuật lại như Kim ngôn của Ðức Phật.

Tuy cũng có một số đại tông đồ khác được đức Phật cho phép làm đại diện thuyết pháp, tiêu biểu nhất là Xá Lợi Phất (Sàriputta) và Mục Kiền Liên (Moggallàna), (theo Anguttaranikàya X 115 - Tăng Nhất A Hàm số X 115; xin xem hai cuốn "Cuộc đời Ðức Xá Lợi Phất" và "Lịch Sử Ðức Mục Kiền Liên", cùng một dịch giả), nhưng A Nan Ða là người được thừa hưởng Phật pháp nhiều nhất, và ông đã có khả năng thuật lại hầu hết những bài pháp dài nhất của đức Phật. Trong khi đó thì các vị đại tông đồ kia, thường chỉ thay thế Phật, diễn giải lại những bài pháp ngắn hay trung bình!

Và bên cạnh cái phẩm vị tương đương với những đại tông đồ cỡ Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên ấy, A Nan Ða còn là một đệ tử ưu tú, có nhiều phúc hạnh giống đức Phật Thích Ca nhất. Chính đức Phật lúc sinh tiền trong nhiều trường hợp, cũng đã đề cao A Nan Ða như vậy.

Chẳng hạnh như Phật từng nói trước các hàng Tăng chúng rằng: "Quốc vương Pasenadi, sau khi được nghe pháp của A Nan Ða đã trở thành vị vua anh minh, thiện trí thức, như ông được chính Như Lai cảm hóa vậy.” (Theo Majjihimanikàya 88: Trung A Hàm số 88).

Chỗ khác, Phật cũng nói: "Khi tất cả các hàng quí tộc, Bà la môn, thường dân và Đạo sĩ vui sướng vì được yết kiến một vị Chuyển Luân Thánh Vương như thế nào, thì chư Sa môn, Tỳ kheo ni, thiện nam, tín nữ cũng tràn ngập hân hoan, khi nhìn thấy A Nan Ða như thế ấy.”

Hoặc một đoạn khác Phật nói: "Khi các hàng Phật tử nói trên đến thăm, họ chỉ cần nhìn thấy dung mạo của A Nan Ða là đủ rồi. Nếu A Nan Ða rảnh tay thuyết pháp cho họ nghe thì càng hay, còn giả sử ông bận rộn, không chào hỏi họ một tiếng, họ cũng hoàn toàn hoan hỷ, không bao giờ phiền trách. Ấy chính là cái phúc hạnh của một bậc sắp bước vào ngưỡng cửa Giải thoát!" (Theo Digha Nikàya 16: Trường A Hàm số 16)

Ngày kia, nhân một Cư sĩ hỏi đức Bổn sư: "Làm thế nào để một Phật tử, sau khi cúng dường đứng đắn Phật Bảo và Tăng Bảo, có thể cùng dường xứng đáng Pháp bảo?" thì một lần nữa đức Phật đã nhắc đến A Nan Ða trong câu trả lời:

- Này Cư sĩ tại gia! Nếu con muốn cúng dường Pháp bảo, hãy đến cúng dường Pháp bảo, hãy đến cúng dường A Nan Ða, vì ông là người giữ gìn kho tàng Pháp bảo!

Tức thì vị Cư sĩ ấy liền mời A Nan Ða về nhà trai tăng và cúng dường đến ông một lá y rất quý giá. Lá y ấy về sau A Nan Ða đem về dâng lại cho Trưởng lão Xá Lợi Phất (Sàrìputta) vì ông nghĩ rằng: "Chính đại huynh Xá Lợi Phất mới là người thông hiểu các pháp.”

Nhưng một cách tương tự, đến phiên Trưởng lão Xá Lợi Phất cũng nghĩ rằng: "Chính đức Phật mới là nguyên nhân của kho tàng Pháp bảo.” Rồi Xá Lợi Phất lại đem Y quí báu ấy dâng đến đức Thế Tôn. (theo Jàtaka Sutta 296 - Túc Sinh truyện số 296).

Lại một lần khác, đức Phật đã đề cao A Nan Ða sau khi vị đại đệ tử này vừa trả lời xong một câu hỏi của đức Phật, rồi đi nơi khác. Ðức Thế Tôn tuyên bố trước một số tăng chúng:

- Này chư Tỳ kheo! A Nan Ða chính là người đang tiến lên những trình độ Phật giáo cao hơn. Và ngoài ông ra, khó mà tìm được một Sa môn có nhiều trí nhớ như vậy. (Theo Anguttara Nikàya 3.78 - Tăng Nhất A Hàm số 3.78)

Trong Tăng Nhất A Hàm quyển 3, đoạn 72 còn ghi rằng: Có một Cư sĩ ngoại đạo nghe A Nan Ða thuyết pháp, rồi quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cư sĩ ấy khi hiểu rõ chân lý đã mừng rỡ khen ngợi: "Thật là Thánh đạo! Thật là chân nhân! Sa môn A Nan Ða đã không đề cao Pháp học của mình, cũng không xuyên tạc giáo lý của kẻ khác. Ông chỉ biết ngay thẳng diễn tả những điều chân thật, mà ý nghĩa nào dù tiềm ẩn cao xa nhất, ông cũng không bỏ qua.”

Vua Pasenadi, sau lần thứ hai cùng với Hoàng tử Kosala, nghe A Nan Ða thuyết pháp, đã ca ngợi:

- Hoàng thân, nếu được thấm nhuần Pháp bảo của Sa môn A Nan Ða, là đi vào chân lý cao thượng. Vì lời lẽ của A Nan Ða là lời lẽ đáng kính đáng yêu và ôn hoà đối với tất cả mọi người. Lời lẽ như thế không thể phát ra từ cửa miệng của một người đi ngoài Thánh đạo. (Theo Majjhima Nikàya 90 = Trung A Hàm số 90).

Thông thường, khi một người được quá nhiều khen ngợi, quá nhiều thiện cảm, và quá nhiều đặc quyền như vậy, thì người ấy sẽ gặp phải nhiều ganh tỵ, phàn nàn, bất mãn một cách vô cớ của một thiểu số tiểu tâm. Nhưng A Nan Ða đã không gặp trường hợp ấy. Ông không có kẻ thù, cũng chẳng bị ai ngầm ghét. Ưu điểm độc đáo này, thực ra đã do nhân lành từ nhiều kiếp trưóc. Hay nói cách khác: "Hạnh phúc không có kẻ thù" của A Nan Ða vốn không chỉ trong kiếp này, mà đã do ông tạo trong nhiều kiếp trước.

A Nan Ða sở dĩ được đề cao, vì ông biết hạ mình, dâng trọn cuộc đời cho Pháp bảo. Rồi mọi danh dự cũng không làm cho ông trở thành kiêu căng, ngã mạn. Ông tự nhủ rằng: "Tất cả những phẩm hạnh mà ông đã gặt hái được là nhờ ơn của đức Phật. Bởi thuần hậu như thế, nên tự cao, ngã mạn chẳng thể nào xuất hiện trong ông. Và kẻ không tự cao là kẻ không có kẻ thù, rồi cũng không bị ai ganh ghét.”

Nếu một người chỉ biết lo tu kín, tránh xa mọi tiếp xúc với xã hội bên ngoài, và không có kẻ thù, thì ấy là đương nhiên. Chẳng hạn như trường hợp của Anuruddha, anh ruột A Nan Ða. (Sử chép: Sa môn Anuruddha, sau khi xuất gia đã dành cả ngày lẫn đêm cho việc tu hành, không tiếp xúc với bất cứ ai ngoài đức Phật).

Nhưng A Nan Ða là người hàng ngày phải đối xử với đủ mọi hạng người, phải nghe, thấy và biết mọi vấn đề... , mà ông không bị ai ganh ghét, không bị kẻ khác thù hằn, không bị xung đột trong xã hội, không bị người ta chú ý, theo dõi... thì quả thật là một điều tưởng tượng như ông có phép lạ.

Tuy A Nan Ða chăm chỉ và thuần hậu như vậy, nhưng thỉnh thoảng ông cũng bị đức Phật (hay những đại Trưởng lão) khiển trách. Sự quở trách ấy hoàn toàn khác với sự chỉ trích thông thường, vì khi các bậc chân thật nhắc nhở là khi ông được kích thích vào giác tâm, để cho những đức hạnh cao thượng hơn được un đúc, và từ đó, sức mạnh rèn luyện nội tâm mới được vững chắc. Ai biết quý trọng những sự nhắc nhở như thế là kẻ dễ trở nên thanh tịnh, và đời sống của họ tự nhiên được mọi người tôn sùng.

Phần nhiều các trường hợp A Nan Ða bị Phật quở trách, đều nhằm vào cách giao tế, lễ nghi xã hội, hoặc kỷ luật cộng đồng, hơn là ông bị quở trách vì tâm tánh không cao thượng, hoặc vì ông chẳng hiểu thông Pháp bảo.

Xin kể một vài trường hợp như sau:

Một lần nọ đức Phật bị bệnh rát xót trong bao tử, A Nan Ða được người mách "Cháo nếp sẽ giúp cho Phật khỏi bệnh ấy", ông bèn kiếm vật liệu nấu cháo đem dâng Phật.

Ðức Thế Tôn sau đó đã quở trách ông rằng:

- Những hàng Đạo sĩ, những hàng Sa môn dùng vật liệu nấu ăn trong nơi tu hành là điều không thích hợp.

Rồi đức Phật chế luật; "Một Tỳ kheo, sẽ phạm tội Ưng Xả đối trị, nếu Tỳ kheo ấy tự nấu ăn.” (Theo Mahàvagga số 6, 17, trong Tạng luật)

Từ đó về sau, A Nan Ða ghi nhớ điều luật ấy, và nghiêm giữ một cách tinh tấn, lòng tự nhủ rằng: "Ðiều răn của đức Phật là nền tảng của đời sống phạm hạnh.”

Một hôm A Nan Ða đi khất thực quên mặc Y Tăng già lê, được một đồng đạo nhắc khéo: "Phật đã phê chuẩn bậc xuất gia phải luôn luôn vận đủ tam Y, khi đi vào làng xóm!” A Nan Ða liền vui vẻ cảm ơn vị đạo hữu ấy, và phân trần rằng: "Bần Tăng chỉ quên thôi, chứ không cố ý bất tuân phép Phật.” Rồi ông ngoan ngoãn đi mặc Y Tăng già lê. Và kể từ đó, những phép tắc về cách vận y phục cho trang nghiêm của một Tỳ kheo khi ra khỏi Tinh xá, do đức Phật phê chuẩn đã được ông thi hành từng chi tiết (Theo Mahàvagga 8, 23 = Ðại Phẩm Tạng Luật số 8, 23).

Thuật lại giai đoạn này để cho các hàng Phật tử, tại gia cũng như xuất gia, thấy rằng: "Một bậc có nhiều trí nhớ như A Nan Ða, bậc mà kiếp chót là kiếp sẽ nhập vào Thánh lưu như A Nan Ða, mà còn có thể sơ sót vài oai nghi trong đời sống phạm hạnh, huống chi phàm nhân như chúng ta lại không luôn luôn cảnh giác và biết mình.”

Bởi vậy, đức Thế Tôn đã nhiều lần lưu ý các Tỳ kheo: "Các con chớ coi thường các hành vi nhỏ nhặt, nhất là những oai nghi hàng ngày của đời sống xuất gia! Bởi vì chính những thiện hạnh nhỏ nhặt ấy sẽ làm nền tảng cho mọi cố gắng tinh thần, và Thánh tâm sau này. Luật lệ vốn mang lại những đức hạnh hoàn toàn. Và đức hạnh hoàn toàn sẽ đem đến tính khiêm nhượng và Trí tuệ Giải thoát.”

Trưởng lão Mahàkassapa (Ðại Ca Diếp) cũng từng quở trách A Nan Ða, như trong hai trường hợp sau đây:

Lần nọ, có ba mươi đệ tử A Nan Ða đồng loạt hoàn tục, vì cho rằng Giới luật của các bậc xuất gia quá khe khắc. Trưởng lão Ðại Ca Diếp đã quở trách A Nan Ða đã không huấn luyện những giới tử chu đáo trước khi cho xuất gia.

Trưởng lão nói: "A Nan Ða đã là người đã hướng dẫn vỡ lòng cho các đệ tử trẻ tuổi này. Tại sao ông không tập cho họ cách thu thúc lục căn, tập cho họ phương pháp chế ngự sự ăn uống, và dạy cho họ nết tinh tấn biết mình.”

- "Ông đã vô tình làm hỏng tuổi trẻ và làm hư niềm tin của các tân Tỳ kheo, đến độ phải bỏ cuộc. Phải chăng A Nan Ða, vì còn trẻ nên thiếu kinh nghiệm?” (Khi ấy Trưởng lão Ðại Ca Diếp đã ngoài 80 tuổi và A Nan Ða chỉ 50 tuổi, nên Trưởng lão gọi ông còn trẻ). (Theo Samyutta Nikàya 18,11 = Tập A Hàm số 18,11).

Vì còn là phàm Tăng, nên trước sự khiển trách nặng nề này, A Nan Ða đã vui vẻ trả lời rằng:

- Tuy trên đầu bần Tăng đã hai thứ tóc, bần Tăng vẫn hết lòng phục vụ Tăng già như một thanh niên, nên Trưởng lão Ca Diếp cho bần Tăng là còn trẻ, thiếu kinh nghiệm.

Ở đây, chúng ta có thể hiểu rằng: A Nan Ða đã quá tin tưởng vào sự chân thành phục vụ Giáo hội của ông, và đã coi thường tính ham mê đời sống nhục dục của ba mươi tân đệ tử! Ông đã không biện minh được trách nhiệm không làm tròn của mình trước sự phê phán của một vị Trưởng lão. Chúng ta chớ quên rằng khi ấy A Nan Ða đã chưa đắc quả A la hán, nên trong ông vẫn còn ít nhiều phiền não thô thiển. Câu trả lời của A Nan Ða đến Trưởng lão Ðại Ca Diếp hiển nhiên là do những phiền não thô thiển ấy bất chợt bộc phát, chứ không phải do bản tánh cứng đầu cố ý phạm thượng.

Trường hợp quở trách thứ hai của Ðại Trưởng lão Ca Diếp (Mahà Kassapa) đến A Nan Ða thuộc về một bối cảnh khác:

Số là lần nọ A Nan Ða yêu cầu Trưởng lão cũng đi với ông đến dạy đạo tại một nữ tu viện. Sau một phút chần chờ, Trưởng lão Ca Diếp đã nhận lời. Nhưng khi thuyết pháp xong, một Tỳ kheo ni ương ngạnh trong lòng còn chứa dục tình đã bình phẩm: "Trưởng lão Ðại Ca Diếp cứ dành nói pháp một mình không để cho Tôn giả A Nan Ða, là kẻ đẹp trai, hiểu biết rộng, thốt ra được một lời!” Tỳ kheo ni ấy còn ví dụ Trưởng lão như người bán kim cương, cứ ca tụng cây kim trước người biết chế tạo nó! (ám chỉ A Nan Ða).

Trên đường về, A Nan Ða hiểu ý, bèn yêu cầu Trưởng lão Ðại Ca Diếp tha lỗi cho Tỳ kheo ni kia. Nhưng Trưởng lão đã quở trách rằng:

- Này A Nan Ða! Sao ông không nhớ thu thúc lục căn! Ông cứ để những điều khen chê ảnh hưởng đến hạnh kiểm của mình (Theo Samyatta Nikàya 16.10 - Tạp A Hàm số 16.10).

Ðiều này có nghĩa là Trưởng lão Ðại Ca Diếp đã khéo léo quở trách A Nan Ða đã quá sốt sắng trong việc mang lợi ích tinh thần cho Ni giới, mà coi thường sự nguy hiểm luyến ái riêng tư, không phải từ thân A Nan Ða, mà từ phía một người khác (ám chỉ của một Tỳ kheo ni). Sự quở trách này về sau đã giúp ích cho A Nan Ða rất nhiều.

Dẫu sao, hai trường hợp A Nan Ða được Trưởng lão Ðại Ca Diếp nhắc nhở nói trên vẫn không làm cho những nhà nghiên cứu đời sống của các đại tông đồ đức Phật hiểu lầm. Trái lại, xuyên qua những lần quở trách ấy, Trưởng lão Ðại Ca Diếp đã chứng minh lòng Từ bi của mình, cũng như A Nan Ða đã biểu lộ đức tính luôn luôn biết phục thiện của ông. Vì cả hai vị cao đồ này trước sau vốn giao hảo với nhau rất thân mật. Có thể nói họ là hai vị danh Tăng tuy khá chênh lệch tuổi tác, nhưng tương đắc nhất trong hàng Thanh văn đệ tử Phật.

Một lần khác, A Nan Ða bị chỉ trích vì câu chuyện sau đây:

A Nan Ða hỏi Phật: "Tiếng nói của đức Thế Tôn vang vào vũ trụ sâu xa như thế nào?”

Ðức Phật trả lời rằng: "Tiếng nói của một bậc Toàn Giác thì không đo lường được, có thể nghe thấu vào mọi cõi Ðại Thiên thế giới, có thể chạm tận tai tất cả Phạm Thiên (1) và bao trùm Tam giới. Tiếng nói ấy còn thấm nhuần cả đến muôn loài vạn vật, từ kiếp sống ngắn nhất cho đến kiếp sống dài nhất, có tuổi thọ của mặt trời.”

A Nan Ða nghe Phật trả lời như vậy bèn hoan hỷ, tưởng như lời Phật lúc nào cũng văng vẳng mọi nơi, không đâu không có âm vang Giác ngộ, nên ông ca tụng:

- Thật là may mắn cho tôi! Thật là hữu hạnh cho tôi, được làm đệ tử hầu cận cho một bậc Toàn Năng, Toàn Giác.

Tỳ kheo Udàyi nghe A Nan Ða tự mãn bằng những lời tán thán như thế, liền phê bình:

- Này A Nan Ða! Ca ngợi sự toàn năng của đức Bổn sư thì có lợi ích gì cho mình? Nếu mình không tu hành Thánh Thiện và Toàn Giác.

Rồi chính từ sự chỉ trích đó, Tỳ kheo Udàyi đã bàn rộng vấn đề ra. Chẳng hạn như ông phê bình A Nan Ða chỉ nhìn vào thân Phật rồi thỏa mãn với tha lực, không chịu trau giồi thân, khẩu, ý để tự mình được trong sạch Giải thoát, được trở thành toàn năng. Ðức Phật nghe câu chuyện ấy, bèn giải oan cho A Nan Ða như sau:

- Này Udàyi! Không phải như thế đâu! Giả sử A Nan Ða hết tuổi thọ ngay bây giờ, và dù chưa đắc Thánh quả cao hơn Tu Ða Hườn, A Nan Ða vẫn sinh làm vua trời đến bảy lần, nhờ kết quả tu tâm sửa tánh từ những kiếp trước của ông, hoặc ông sẽ sinh làm vua xứ này đến bảy lần, chứ không còn bị đọa xuống bốn đường ác đạo nữa. Này Udàyi! Và đây là kiếp chót của A Nan Ða, để ông được Giải thoát (Theo Anguttara Nikàya 3,80 = Tăng Nhất A Hàm số 3, 80).

Ðức Phật đã tiên đoán về lịch trình tiến hóa của A Nan Ða như thế, trước mặt vị đại để tử hầu cận này, đủ chứng minh rằng: Niềm tin của đức Bổn sư dành cho A Nan Ða quả thật chắc chắn. Ngài cũng biết rõ rằng các lời lẽ ấy sẽ không làm cho A Nan Ða ỷ lại, hay chểnh mảng trong việc tu trì.

Và, Phật thốt ra mấy lời đó vốn có lý do: Thứ nhất A Nan Ða là người thường mặc cảm kém phúc đức, và còn lâu lắm ông mới được Giải thoát. Thứ hai, sự chỉ trích càng làm cho mặc cảm ông gia tăng. Thứ ba, bằng một cách gián tiếp, đức Phật cần bênh vực A Nan Ða, để sau mỗi lần chỉ trích, tâm tư ông khỏi bị lo âu, đồng thời nhân dịp này Phật khuyến khích A Nan Ða nên cố gắng hơn nữa, vì Thánh quả Giải thoát sẽ đến với ông trong kiếp ấy.

Ðức Thế Tôn dành các lời tiên đoán như thế cho những ai luôn luôn cố gắng mà vẫn sợ mình, còn bị tiếp tục luân hồi, hơn là cho những kẻ dễ duôi và ỷ lại.

Nhưng trong câu chuyện sau đây, đức Phật đã nhằm vào tâm thức của A Nan Ða, để khiển trách và chế định một điều luật:

Số là một lần nọ, đức Bổn sư ra lệnh cho A Nan Ða trông nom phân phối vải, và may y phục cho các hàng Tăng chúng, A Nan Ða đã thực hiện công việc này một cách tốt đẹp, nên được đức Phật khen ngợi trước Tăng chúng rằng: "A Nan Ða là người khéo léo, ngay cả trong lĩnh vực khâu vá! Một Sa môn đủ đức hạnh là người biết tự khâu vá mảnh y của mình, không để chỉ viềng bung ra, và không bao giờ bị chỉ trích là phí phạm vật dâng cúng của các hàng thiện nam tín nữ." (Theo Mahàvagga 8 - 12+ Ðại Phẩm 8 - 12)

Sau đó một thời gian, khi đức Phật và chư đệ tử ngụ gần thủ đô Ca Tỳ La Vệ. Một hôm đức Bổn sư thấy trong một Tinh xá có rất nhiều tọa cụ, bèn hỏi A Nan Ða, phải chăng nơi ấy đang có đông Tỳ kheo hội họp?

A Nan Ða liền xác nhận, và ông còn trình rõ với đức Thế Tôn rằng:

- Bạch đức Bổn sư! Vừa rồi Tăng chúng đã cùng nhau vá y. Ðức Bổn sư đã chẳng khen ngợi: "Một Sa môn xứng đáng là người biết bảo trì lấy lá y của mình, tránh phí phạm vải của đàn na tín thí.” Nên đệ tử đã tổ chức một buổi vá Y hội để có thể chỉ cho các đồng đạo phương pháp khâu vá.”

Rồi A Nan Ða thuật lại sinh hoạt cùng nhau khâu y vui vẻ như thế nào cho đức Phật nghe. Ông đâu biết rằng: Mỗi lần họp nhau khâu y như người thế tục đó, sự tinh tấn tu trì của các hàng Tỳ kheo đã giảm xuống rất nhiều, vì cái tính ngồi chung làm việc thì sinh ra nói chuyện nhảm nhí.

Do đó đức Phật đã chế ra điều răn, chấm dứt tật xấu cho các hàng Tăng lữ, hội họp chung giống như hàng thế tụ, như sau:

- "Một Tỳ kheo, đáng bị chỉ trích, là người ưa thích các cuộc hội họp như ngoài đời, hoặc sung sướng khi được tụm năm, tụm bảy, để vừa làm việc, vừa nói chuyện. Hạng Tỳ kheo như thế sẽ không thể nào tìm thấy sự bình an trong hạnh xuất gia, không thể nào nhận ra đức thanh tịnh trong sự sống đơn độc, không thể nào trở nên an nhàn trong nơi yên lặng, và không thể nào thực hiện thiện hạnh tỉnh thức biết mình.

- Kẻ nào ham thích trong các cuộc tụ họp phù phiếm, người ấy sẽ không tìm ra sự an lạc chân chánh, vì tình trạng an lạc chân chánh chỉ phát sanh, khi tách rời khỏi mọi tính ham thích tụ tập. Ngay cả những người đã an trú trong Thiền định, mà khi bị "tính thỏa thích trong tụ họp" lôi kéo, kẻ ấy về sau cũng sẽ bị chi phối, không thể hoàn toàn điều khiển tâm an trụ được.

- Còn giả sử Thiền pháp đắc được của họ, có tồn tại trong một thời gian, khi ấy chỉ là sự vận dụng để biểu dương chứ không phài là chính quả an trụ trong Thiền định. Cho nên những người hành Thiền chung một chỗ (ý nói chung một Tịnh cốc hay chung một Tinh xá) thường sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc đạt đến Thánh quả Giải thoát, vì tu Thiền chung loại ấy là tu Thiền còn tùy thuộc vào những điều kiện thế gian, nhất là điều kiện phải có người tu Thiền chung với mình.

Bởi thế, đức Phật sau khi giảng giải về sự tai hại của tính thích tụ họp, Ngài bèn kết luận:

- Không có một hình thức ham thích hội họp nào mà không gây ra khổ não (dukkha). (Dukkha ám chỉ tất cả trạng thái bất tọai nguyện từ thô kệnh đến vi tế (Bởi vì xuyên qua luật Vô thường (anicca): Hễ có hội họp thì phải có tan. Nếu "Họp" làm cho sung sướng, thì "Tan" (chia tay) sẽ làm cho phiền não. Ðối với sự chia tay trong một thời gian ngắn, vì phiền não rất vi tế, khó nhận thấy, nên người ta coi thường. Nhưng đối với sự chia tay lâu dài, hay chia tay vĩnh viễn, phiền não ấy chính là sự thống khổ, có thể làm cho những phần tử chia tay rủi hết tuổi thọ rơi vào bốn đường ác đạo. Thậm chí tới cõi trời cao nhất là cõi Phạm Thiên mà sự chia ly cũng làm cho các hàng Thiên chúng ở cõi này buồn bã, mất hết hào quang.

Vô thường là một trong ba nguyên tắc bất di bất dịch của pháp lý nhà Phật vậy.

Sau đó, đức Bổn sư còn chỉ rõ một phương pháp thực tiễn, mà Ngài chỉ dành để hướng dẫn A Nan Ða, Phật dạy ông rằng:

- Vì bổn phận phải hầu Phật và phải tiếp xúc với đủ mọi hạng người (Ý nói có hợp có tan), nên ông cần luôn luôn thực hành chi thứ bảy của Bát Chánh Ðạo là Chánh niệm. Lấy nó làm căn bản để phát triển bảy chi còn lại là Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn và Chánh Ðịnh.

Ðức Phật dùng lời dạy này, bởi vì A Nan Ða có bẩm tính trụ tâm rất nhanh, mặc dù ông chưa nhập cao vào Thánh giới, nhưng bản chất Định tâm tự nhiên, cộng với sự thấm nhuần Pháp bảo của ông, đã khiến ông phát ra như một số hành vi cử chỉ, giống như một bậc Thánh.

Ðức Phật cũng biết rằng: Ðối với A Nan Ða, Ngài chỉ cần nêu lên những pháp kích thích là A Nan Ða có thể bước vào Chánh Ðịnh. Do đó, mấy lời dạy có liên quan đến Bát chánh đạo nói trên, chính là để hướng dẫn ông, áp dụng Pháp bảo nào thích hợp nhất, từ đó ông có thể hành trì tròn đủ Bát Chánh Ðạo, mà không có một pháp nào làm cho ông cố chấp.

Ðối với những người tầm thường thì Chánh kiến là bước đầu, là căn bản của Bát Chánh Ðạo. Rồi khi thân, khẩu, ý được thuần thục xuyên qua Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh Tịnh Tấn, họ mới bắt đầu sử dụng Chánh niệm để giữ vững con tâm bước vào Chánh Ðịnh mà không trở thành cố chấp, khi đạt được các bậc Thiền.

Nhưng đối với A Nan Ða, một người có trí nhớ phi thường, một người có bộ óc chứa nổi hầu hết tám mươi bốn ngàn pháp môn của đức Phật, thì Chánh niệm là cánh cửa mở đầu, hễ ông bước vào (thuần thục) là ông có thể đắc được các pháp phá chấp, vượt lên trên tất cả mọi khái niệm, mọi hình thức hay danh xưng, mọi phẩm cách hay lằn mức tận cùng.

Ngoài ra, đức Phật còn kích thích tính Từ bi quảng đại của A Nan Ða, nhất là lòng từ ái đối với đức Bổn sư, và Ngài xác nhận rằng:

"Lòng từ ái ấy không phải chỉ phát hiện với điều kiện A Nan Ða trở thành đệ tử hầu cận Phật."

Chúng ta có thể nhận thấy ở đây rằng, đức Bổn sư đã đặc biệt hướng dẫn A Nan Ða bước vào Thánh đạo, bằng hai phương pháp Công pháp và Biệt pháp, hầu giúp ông ta chặt đứt mọi ràng buộc thế gian, dứt khoát một lần sau cùng.

Do đó, khi kết luận, đức Phật đã nhắc lại mối quan hệ giữa Ngài và ông (tức Biệt pháp hay Biệt nghiệp!) để củng cố niệm lực của ông như sau:

- Này A Nan Ða! Ðã từ nhiều kiếp quá khứ và ngay cả bay giờ, giữa ông và Như Lai chỉ có một tình bạn, tình thân thuộc và tình Thầy trò, chứ không bao giờ có ác nghiệp hiềm thù hay ghét bỏ. Mối quan hệ vô lượng ấy đã làm cho chúng ta hưởng được phúc lành trong vô số kiếp xưa thì kiếp chót phẩm hạnh Giải thoát của ông, không thể nào tách rời đạo quả tuyệt đối của Như Lai được.

- Này A Nan Ða! Nếu ví Như Lai là người thợ gốm và ông ta là tác phẩm, thì người thợ gốm ấy (ám chỉ đức Phật) đang hoàn toàn thỏa mãn vì đã đem hết khả năng của mình để nắn ra một tác phẩm vừa ý nhất (Ý nói đức Phật không xem A Nan Ða như một đệ tử mà Thánh tâm chưa được vững chắc!)

Và bằng những lời giáo huấn, khuyến khích và "xác nhận đạo quả sẽ đến" như thế đức Phật đã củng cố niềm tin và niệm lực của A Nan Ða, cho đến phút chót, trước khi Ngài nhập Niết bàn.

Giai thoại về tiền kiếp sau đây sẽ làm cho chúng ta nhận thức mối quan hệ giữa đức Phật và A Nan Ða một cách sâu sắc hơn: Ðó là câu chuyện số 40 trong Túc Sinh truyện:

Khi ấy tiền thân A Nan Ða làm vua, đã lìa bỏ ngôi báu, để cùng với đức Bồ tát (tiền thân Phật) xuất gia sống đời sống Đạo sĩ. Giống như đức Thái tử Si Ðạt Ta đã làm trong kiếp chót ở vườn Lộc Dã, trước khi thành Phật vậy.

Một hôm đức Bồ tát biết rằng bạn mình (tức tiền thân A Nan Ða), vì gặp quá nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thực phẩm, đã để dành muối nêm thức ăn. Một hành động trái ngược với luật tu trì của các hàng Đại sĩ.

Ðức Bồ tát liền khiển trách rằng:

- Này bạn! Bạn đã can đảm buông bỏ cả ngôi báu, buông bỏ tất cả sự giàu sang của một vương quốc, tại sao bây giờ bạn lại bắt đầu để dành từng hạt muối?

Lời chỉ trích này đã làm cho tiền thân A Nan Ða buồn lòng. Ông trả lời rằng:

- Này đạo hữu! Những lời phê bình của đạo hữu đã làm cho tôi khổ tâm rất nhiều. Các lời chỉ trích ấy khiến tôi cảm thấy chua chát, buồn phiền chẳng khác nào bị ai đâm chém bằng mộng lưỡi dao cùn! (Ý nói dao cùn chém, thì nạn nhân trước khi chết đau đớn rất nhiều. Còn dùng dao bén để) chém thì nạn nhân chết tức khắc, sự đau khổ cũng theo đó biến mất

Nhưng đức Bồ tát (tiền thân Phật) vội thẳng thắn trả lời:

- Này Đạo sĩ! Giữa những người bạn chân thành, lời nói ngay thật, không cần dè dặt, vị nể, như một người thợ gốm cẩn thận trước những chiếc bình chưa được nung chín. Người bạn tốt là người có thể thốt ra lời phê bình bất cứ lúc nào. Vì chỉ nhớ những lời phê bình xây dựng cùng những câu khuyến khích liên tục như thế, mà một kẻ sống đời sống phạm hạnh, mới rèn luyện được một Thánh tâm vững chắc. Vì như chất đất sét trắng tinh, được uốn nắn và nung nấu trở thành những đồ sứ thượng hạng.

Sau đó, Đạo sĩ tiền thân A Nan Ða đã xin lỗi đức Bồ tát (tiền thân Phật) và yêu cầu Ngài, vì lòng Từ bi, hãy tiếp tục hướng dẫn ông ta.

Thuở bấy giờ, những công phu tu luyện, được so sánh với sự gạn lọc đất sét tinh khiết, rồi nắn đúc thành những đồ sứ trang trọng tốt nhất, đã được xã hội thông dụng nên rất thích hợp để so sánh cái tính đa cảm, hay dễ giận của con người với cái tính dễ hư của những bình sứ mỏng manh chưa được nung chín.

Một người thợ gốm bao giờ cũng nâng niu những chiếc bình đất tinh vừa nắn xong, còn ướt, chưa khô, một cách e dè, thận trọng, vì sợ làm vỡ. Rồi sau khi đã nung qua lửa thứ nhất, họ lại cẩn thận tìm đi, tìm lại, những vết nhăn hay những lằn nứt, trước khi cho vào lò, nung chín lần sau cùng. Người thợ gốm rành nghề còn biết thử những tác phẩm của mình, khi ra lò bằng cách gõ nhiều lần để nghe tìm ra những "tỳ vết" trong âm thanh. Khi âm thanh ngân vang, trong đều, và luôn luôn giống nhau, thì họ mới yên tâm đưa nó ra thị trường để bán.

Tương tự như thế, một người trở lên trọn lành chỉ khi nào họ trải qua tất cả những sự thử thách, và đạt được những phẩm cách cao nhất, xứng đáng nhất, để bước vào Thánh đạo! (Trong Phật giáo có hai từ ngữ là Thánh đạo và Thánh quả. Người đắc Thánh đạo là người không những chỉ đã dứt trừ mọi hoài nghi trong Bát Chánh Ðạo, mà chính họ còn biến thành thuần phục, để sống một đời sống đúng theo Bát Chánh Ðạo, với một tâm hồn luôn luôn an lạc, hướng thiện).

Rồi sau kiếp quá khứ đó, tiền thân A Nan Ða đã hưởng được quả an lành, tái sinh vào cõi trời Phạm Thiên (Theo Jàtaka n.406 = Túc Sinh truyện số 406). Và trong những kiếp quá khứ khác, ông cũng đã nhờ sự hướng đạo của tiền thân đức Phật, mà gặt hái được nhiều phúc lộc (Theo Majjhima Nikàya n. 122 = Trung A Hàm số 122). Tất cả những gì tiền thân A Nan Ða hưởng được, không phải do nhờ phép lạ, mà chính là do ông có một tinh thần hướng thiện cao độ, bền bỉ, luôn luôn nghe những lời đức Bồ tát (tiền thân Phật) chỉ dạy, và ghi khắc những lời vàng ngọc ấy vào tâm, để thực hành một cách vui vẻ.

Ghi chú:

(1) Brahama = Brahma Deva, Trời Phạm Thiên, một cõi mà sự tịnh lạc tương đương với đệ Tứ Thiền trong trình độ tâm linh của Phật giáo.



Related news items: