Home Lịch Sử Phật Giáo Phật và Thánh Chúng Một Cuộc Đời, Một Ngôi Sao
16 | 03 | 2010
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Một Cuộc Đời, Một Ngôi Sao PDF. In Email
Lịch Sử Phật Giáo
Viết bởi Minh Ðức - Triều Tâm Ảnh   
Chỉ mục bài viết
Một Cuộc Đời, Một Ngôi Sao
Page 2
Page 3
Page 4
Page 5
Tất cả các trang

Một Cuộc Đời, Một Ngôi Sao là một câu truyện kể về cuộc đời ngài Xá Lợi Phất, người được đại chúng xưng tụng là trí tuệ đệ nhất trong hàng môn đồ của đức Phật khi ngài còn tại thế. Truyện viết với lối văn nhẹ nhàng bình dị sẽ đưa đọc giả đi người thời gian trở về 2500 trước...

Một Cuộc Đời, Một Ngôi Sao

(Truyện Ngài Xá Lợi Phất)

Tác giả: Minh Ðức - Triều Tâm Ảnh

Nhà Xuất Bản Thuận Hóa. PL. 2541 – DL. 1997

Mục Lục

Tự Cảm (thay lời tựa)

1. Giòng tộc

2. Ðứa con Thánh thai

3. Một ngôi sao chào đời

4. Thời thơ ấu

5. Bóng tối hoài nghi

6. Ðại hội Bà la môn

7. Thoát ly gia đình

8. Lang thang tìm Ðạo

9. Ánh nắng siêu thoát

10. Người Thầy cũ

11. Hai vị đại đệ tử

12. Sau khi đắc quả

13. Hạnh tri ân

14. Ðôi bạn

15. Với Trưởng giả Tu Ðạt

16. Kỳ thọ Cấp Cô Ðộc viên

17. Bạn của cha già

18. Một vị A la hán tí hon

19. Với chúng Sa di

20. Hạnh nhẫn nhục

21. Với A Nậu Ðà La

22. Với Tôn giả Ànanda

23. Thân quyến của Ngài Xá Lợi Phất

24. Với Nữ Đạo sĩ tóc quăn

25. Những câu hỏi đạo cao siêu

26. Rừng Gosinga hương thơm, trăng sáng

27. Khen ngợi và khiển trách

28. Với Ðề Bà Ðạt Ða

29. Họ lần lượt ra đi

30. Cuộc từ giã vĩ đại

31. Ðền ơn Mẹ rồi yên nghỉ vĩnh hằng

32. Hội chúng trống rỗng

Cảm bạt

Hồi hướng hương linh cha mẹ

Kính tặng Huynh Ðệ chư Tăng và Phật tử Huyền Không sơn thượng, sơn trung và sơn hạ.

Tự Cảm (Thay Lời Tựa)

Chữ đốt trầm, ý khơi hương

Vọng ngôi sao sáng, cúng dường hôm mai

Mây vàng khói trắng bóng ai!

Chập chờn hư niệm, đời Ngài lung linh

Bút nên tâm, mực nên tình

Quỳ xin sám hối chân kinh lòng này!

Trăng và hoa nở trên tay

Sương mơ còn ngại, lá lay rừng mòng!

Triều Sơn Phương

Tỉnh thượng liêu, hạ 1996

Minh Ðức - Triều Tâm Ảnh

Phần 1

1. GIÒNG TỘC

Ven con sông nhỏ, lặng lẽ, xanh trong bốn mùa, mọc lên một ngôi làng cổ kính, tên là Upatissa. Nằm ẩn sau những lũy tre xanh, núp mình dưới những hàng cau cao vút là những căn nhà gạch vòm cong, mái tròn xưa cũ; đột ngột vươn lên cao là những đền tháp đỏ chói trang nghiêm, màu sắc rực rỡ huy hoàng. Nơi đây có những tượng thần Nàgà hình rồng khổng lồ, tượng thần Hanuman hình khỉ đen đúa, tượng thần Nandì hình bò mộng to tướng. Ngoài ra, khắp các đền miếu, am động, cội cây to thì thật là vô số vị thần. Như thần Brahma bốn mặt; thần Sudra có ngàn mắt và bốn cánh tay; nữ thần Kàlì đen thui thủi, có bốn tay, mặt mũi kỳ hình dị dạng, trang sức bên ngoài thường là máu và đầu người vừa mới chặt v. v...

Không biết đã tự bao giờ, có lẽ đã tự nghìn thu sương khói, khi giống giòng Aryan cao quý, một dân tộc thượng đẳng theo suy nghĩ của họ từ phương Bắc tràn qua xứ này; sự pha tạp huyết thống và văn hóa đã mấy thiên niên kỷ, do tự nhiên hoặc ngẫu nhiên, tự do hoặc tất định, đã để lại dấu ấn miên tồn trên cơ thể phì nhiêu và bao dung của dân tộc Ấn. Bây giờ, bước viễn chinh đã tàn phai theo trí nhớ, thế nhưng trong những đêm trăng mờ trên những ngọn đồi thấp lau cỏ đẫm sương, ai đó còn giật mình lắng nghe tiếng xào xạc của gió, tiếng reo của những cành trúc mềm, những lời thì thào mơ hồ từ hư không vẳng lại. Trong ký ức di truyền của giòng giống pha tạp còn tồn tại những hình ảnh xa xăm của những toán binh ma rầm rập qua đồi; tiếng vũ khí sàn sạt, hờn sôi, tóe lửa của những lần xáp trận. Không! Tất cả đã lụi tàn, đã phai bóng theo thời gian. Và lịch sử của dân Trung Ấn cũng dễ dàng quên đi những bạo tàn kinh khiếp của con người vì họ sẵn tấm lòng đức độ bao dung và niềm tin Tôn giáo.

Do vậy, nơi đây đã thật sự yên nghỉ!

Suối nguồn kinh điển Vệ Ðà đã thẩm thấu và trang bị cho tâm linh xứ này một sức sống nội tâm âm thầm và mãnh liệt. Sự hận thù và tranh chấp trần gian kia có nghĩa gì! "Ôi! Sự huyễn hóa của MÀYÀ, của Ngươi, đã chưng bày ra đó biết bao nhiêu tấn tuồng ảo vọng?"

"Thuở ấy, không có gì, này con! Kể cả vòm trời mênh mông, ngày và đêm. Không có cái chết và không có cả cái Bất tử. Chỉ có cái “độc nhất” và ý chí của Người. Một cái mầm nứt ra, và khi ấy, tình thương xuất hiện.”

Phải! Chỉ có tình thương và lòng từ ái xuất hiện.

Có những tượng thần nói lời từ ái bằng tay, bằng mắt. Có những tượng thần gợi thức thâm sâu cái bản ngã ngu muội đang ẩn tàng trong bao da đựng thịt, đựng xương. Có những tượng thần cuồng nộ, trợn trừng như xuyên suốt tim gan của ma quỷ. Có những tượng thần đen đúa, dữ dằn, giơ cao chiếc búa của thần Indra sẵn sàng bủa xuống những chiếc đầu tri kiến, kiêu căng và đa dục... Những ngày lễ hội, đàn tế, những ngày sóc vọng, khói hương bàng bạc khắp nơi như sương mù. Nơi các gốc cây cổ thụ ngàn đời, nơi những hang động tịch liêu, nơi những nghĩa địa xương trắng, nơi những đền miếu to nhỏ đủ loại... những tiếng "aum, aum" không ngớt vang lên, ùn ùn xao động cả không gian. Lửa lập lòe từng đám như đuốc, như ma trơi... Bóng người xỏa tóc nhảy múa, quỳ mọp, khấn vái, Thiền định, nằm ôm đất, mâm trái cây, đầu súc vật, máu cháy lèo xèo; tiếng hát, lời ca man rợ của âm binh, lẫn lộn xen nhịp vào đấy là những bài kinh cao cả, rơi đều đặn, len thấm, từ từ... Nó! Chính Nó. Chính những lời kinh cao cả chưa pha tạp kia đã duy trì Chánh Khí, là sợi chỉ vàng xuyên suốt từ ngàn xưa đến ngàn sau, làm tồn tại một tâm linh độc đáo, làm xán lạn một nền văn minh tinh thần dẫn đầu loài người: Tự do tín ngưỡng và tâm linh đạo học!

Upatissa là một ngôi làng được thừa kế trọn vẹn và tiêu biểu cho sức sống tâm linh ấy. Ở đây, cả hàng trăm vị thần cùng ngồi hòa bình trước sự chiêm ngưỡng và thờ cúng của mọi người. Người ta có thể đến đây để kích bác nhau, tranh luận nhau đến nẩy lửa nhưng vẫn tôn trọng tín ngưỡng của nhau lẫn những tư tưởng dị biệt, bất đồng.

Ngài Xá Lợi Phất (Sàriputta) được sinh ra và lớn lên trong ngôi làng này. Thật không ngạc nhiên gì khi linh địa, giống giòng, văn hóa giáo dục ngàn đời, túc duyên vạn kiếp đã làm nên cốt lõi cho một nhân cách siêu việt, một Trí tuệ vượt bực chờ đến khi chỉ cần một lời pháp chơn chánh, một ánh nắng siêu thoát dọi đến, đóa hoa kia sẽ nở khai viên mãn.

2. ÐỨA CON THÁNH THAI

Sau giờ Thiền định, Bà la môn Vaganta ra đứng tựa cửa sổ nhìn lên đỉnh núi xa xăm. Trời nhàn nhạt ửng sắc hồng. Ngọn Hy mã lạp sơn phủ tuyết trắng, đứng cô đơn như không có bạn tri âm, lẻ loi và tịch mịch giữa hư không vô biên! Nhìn núi, lão Bà la môn Vaganta chạnh nghĩ đến mình, rồi cũng lẻ loi và cô đơn như thế!

Ông cúi xuống, mái tóc đã chớm bạc, dấu một tiếng thở dài rất khẽ rồi chậm chạp bước ra khung cửa Ðông. Vườn cây ăn quả chạy dài xa hút trong tầm mắt. Bức tường bằng gạch nung rêu phủ, uốn lượn thoai thoải như con rắn khổng lồ nằm ngủ yên trong sương sớm. Bà la môn Vaganta dạo quanh một vòng trên sân gạch rộng thênh thang, bước chân cô liêu dẫm lên lớp rêu xanh xám từ lâu không có người qua lại. Chiếc lưng như còng xuống: một sức nặng đau khổ nào đó làm cho ông cơ hồ không chịu nổi. Xung quanh đìu hiu, tịch mịch không một tiếng người!

Ðến gốc cau có viên đá chạm sư tử hai đầu, ông Vaganta lừ đừ ngồi xuống. Từ trong điện thờ khói trầm tỏa ra, làn hương nhạt xanh, thoang thoảng thơm, mơ hồ, dễ chịu. Nắng sớm đã lên rồi. Ông Vaganta ngững đầu lên, lướt qua vòm mái tròn to rộng của Căn Nhà Hội, rồi dừng lại trên đỉnh tháp xa tít. Một cánh chim chao qua ánh nắng hồng. Bức tượng Ðức thần Brahma tia ra sáu luồng ngọc xanh đầy uy lực, thân Ngài phủ lớp men ngũ sắc sáng loáng, rực rỡ, vừng tráng tỏa hào quang biếc trắng.

Ông Vaganta cúi đầu thấp xuống, đọc lâm râm một bài chú, bắt ấn quyết rồi cầu nguyện:

"Kính lạy Ðức Phạm Thiên cao cả! Là Ðức Cha sinh của muôn loài. Bởi Ngài mà chúng sanh có Trí tuệ, lạc phúc, vinh quang cùng Bất tử. Bởi Ngài mà chúng sanh có thực phẩm, trái cây cùng những nghề nghiệp nuôi mạng...”

"Kính lạy Ðức Brahman tối thượng tôn! Là linh hồn ngu si, nhỏ bé đầy đau khổ do Ngài Sáng Tạo ra, con kính ngưỡng Ngài ban phát cho con niềm vui trần tục để thế hệ cháu con tiếp nối tuân phục Ngài, thờ kính Ngài, phủ phục dưới chân Ngài bằng Ðức Tin thanh khiết và tuyệt đối...”

- "Kính lạy Ðức Brahman vô năng thắng! Là linh hồn ti tiểu đầy nhiễm ô và bụi bặm do Ngài Sáng Tạo ra, con đã dọn sạch bản ngã bằng nước thiêng Soma, bởi Trầm Tư và Thiền Ðịnh. Con lắng dịu mọi vọng tưởng, chỉ còn lại một khát khao nối truyền tông hệ. Xin Ngài ban cho con một mụn con thơ. Con là linh hồn lạc lỏng bơ vơ không còn đâu làm điểm tựa trên cuộc đời này. Vậy, khát khao ấy là duy nhất và chơn chánh. Kẻ nô lệ của Ngài sẽ mừng vui tri ân Ngài mà làm một Ngôi Bảo Tháp, uy nghi tạc tượng Ngài, trầm hương, trái cây, mâm súc vật, tế lễ quanh năm... để bảo truyền linh khí đầy ơn phúc của Ngài lan rộng ra bốn châu thiên hạ...

- "Kính lạy Ðức Brahman tối thượng tôn, Hóa Sanh chủ, Vô Năng thắng! Xin Ngài ban cho con một mụn con thơ!"

Lời cầu nguyện của ông Bà la môn Vaganta đều đều tuôn ra không ngớt, như trận mưa lòng phiền não đổ tràn không gian yên tĩnh. Ðức Brahman có nghe chăng? Và các thượng đẳng thần Brahma, Vishnou và Shiva có nghe chăng? Hay vợ chồng Bà la môn Vaganta bạc phước, hoặc vô ý phạm tội với Ngài nên đã hai phần đời người rồi mà vẫn không con nối dõi? Từ đền thiêng này sang đền thiêng khác, không biết bao nhiêu là phẩm vật cúng tế: gia súc, trái cây, ngũ cốc, hương trầm... mà vẫn không linh nghiệm. Rồi nào là chẩn bần, bố thí, trai đàn..., ghép mình trong bảo điện âm u mấy tháng trường ròng rả để cầu nguyện; rồi biết bao nhiêu là bạn hữu Bà la môn uyên thâm về chiêm tinh, thuật số, đã đoán từ điềm lành này sang điềm lành khác; nhưng rốt lại, hai vợ chồng vẫn không có tin vui!

Nỗi buồn ấy đè nặng lên nếp sinh hoạt Tôn giáo và sinh hoạt gia đình.

Ông Vaganta vốn là Trưởng giáo Bà la môn tinh thông kinh điển Vệ Ðà và các chú thuật. Môn sinh của ông có đến mấy trăm người, ngày ngày đến thọ giáo. Tại nhà giảng, nhà Hội to lớn trong trang viện, bao giờ cũng tấp nập, đông đúc. Lớp học này kế tục lớp học khác. Toán môn sinh này rời đi, toán môn sinh khác tìm đến. Nơi cái sân gạch rộng thênh thang này đã có những buổi sinh hoạt tập thể, lớp học ngoài trời; nơi đã từng nổ ra những cuộc tranh luận sôi nổi đầy hào hứng. Nơi bảo điện trang nghiêm cổ kính kia đã có những lớp cầu nguyện kéo dài cả tuần lễ. Tiếng "aum, aum" đều đều vang vọng lên cao, lên cao mãi.

Bà Sàrì là vợ của ông, về với ông lúc mười tuổi. Tục lệ tảo hôn của người Ấn, do luật Manou chi phối, được dân làng này tuân phục một cách tuyệt đối. Bà là một người mẫu mực của Tôn giáo, dựa vào đức tin không gì lay chuyển nổi với Ðức Phạm Thiên. Bà quán xuyến giúp chồng trong nhiều lãnh vực. Vừa điều khiển một trang viện to lớn với hàng trăm gia nô coi việc đồng áng, vườn tược; vừa tổ chức, sắp xếp chu đáo, hoàn hảo các buổi lễ cúng, cầu nguyện. Bà còn rất trẻ, có cá tính và hoạt động sôi nổi. Bà cầu nguyện tinh tấn không mệt mỏi. Nhưng suốt cả mười năm ròng rã như thế, tất cả tinh lực dường như đã suy kiệt. Niềm hy vọng có đứa con để nối dõi tông đường chỉ còn lắt lay như ngọn đèn sắp lụn bấc.

Lão Bà la môn Vaganta dẫu chỉ mới năm mươi nhưng trông đã già đi rõ rệt. Còn bà Sàrì thì đã lộ liễu nỗi buồn phiền làm bạc trắng những sợi tóc mai! Nghĩ đến cơ đồ do suốt bao đời tâm huyết của tổ tiên, nếu mai này không con, thì trước mắt họ chợt trống không và khô cháy như một bãi sa mạc. Gia đình ông là gia đình trưởng làng, nếu có con trai thì họ có quyền lấy tên làng đặt cho con trai. Và đương nhiên là sẽ thừa kế cái di sản tinh thần quý báu làm kim chỉ nam sinh hoạt cho ngôi làng Upatissa cổ kính.

Một lần Bà la môn Vaganta nói với bà Sàrì:

- Này! Kẻ nô lệ kiều diễm của ta! Hãy kiểm soát xem thử chúng ta đã có một lần nào sơ suất, khiếm khuyết trong các cuộc tế lễ không?

- Chẳng có đâu, Ðấng thần linh chí tôn của em! Kẻ nô lệ đã đích thân xem xét đến nước trắng tinh khiết, cỏ thơm cho bò cái, dao tế lễ và cả que chà răng! Không có gì là thiếu sót, thưa phu quân!

Ông Vaganta gật đầu. Ông biết bà nói đúng. Bà là người cẩn thận và chu đáo từng li, từng tí.

Ông nhớ có lần những người hầu hạ vì bất cẩn thế nào đó làm cho những cây đèn thờ phực cháy, nám xám cả một khoảng trần. Ðấy là hiện tượng "thần linh nổi giận" bởi do một bất cẩn hay một thiếu sót nào đó của gia chủ. Bà Sàrì đã tra xét gắt gao đám nữ tỳ lo việc hầu cúng. Bà tìm không ra tội, nên đã dùng phép "thử tội.” Bà cho người quấy phân bò cái vào thùng dầu sôi, người bị buộc tội hay bị nghi ngờ là kẻ có tội phải nhúng tay vào đó cho tới tận khuỷu tay. Ông Vaganta đã từng giải thích cho bà hay rằng:

- "Những kẻ tình nghi có tội, luật Manou bảo thế này: nếu sau khi rút tay ra khỏi thùng dầu sôi mà không bị bỏng, kẻ ấy vô tội vì được thần linh che chở.”

Rốt cuộc, tám người nữ tỳ, sau lần thử tội ấy đều bị phỏng tay. Thế là cả tám người đều có tội! Giết những kẻ nô lệ, cả luật Manou và luật Dharma Shautras đều coi là "không phạm tội giết người" vì chỉ có tập cấp cao quý Bà la môn mới là người! Tám người nữ tỳ sau đó đều phải bị hy sinh khi "thần linh nổi giận!”

Ông Vaganta khẽ nhíu mày ưu tư rồi hỏi tiếp:

- Vậy thì lòng chí thành, chí kính? Này Kẻ nô lệ kiều diễm của ta, chúng ta có thành khẩn đúng mực chưa?

Bà Sàrì bất chợt quỳ xuống, ôm hôn chân ông Vaganta rồi nói:

- Hỡi Ðấng thần linh yêu quý của em! Ðối với phu quân mà thiếp đã tôn thờ như thế này, thì làm sao kẻ nô lệ lại dám thiếu lòng chí thành chí kính với Ngài!

Ông Vaganta gật đầu hài lòng. Ông biết bà lại nói đúng nữa. Theo luật Manou, bà đã tự gọi mình là kẻ "nô lệ" và gọi ông là "thần linh", đôi khi còn gọi ông là "chúa của lòng em"; thỉnh thoảng gọi là "Thầy", là "phu quân" nữa. Bà không bao giờ trái lời ông, dù là một việc nhỏ. Luật Manou nói rằng: "người vợ nào trái lời chồng thì kiếp sau phải đầu thai thành chó rừng chuyên ăn thịt xác thú chết.” Bà Sàrì luôn là kẻ nói thật và tuân phục chồng như tuân phục đấng thần linh.

Ông âu yếm khe khẽ nâng bà dậy. Nếu ông không cho phép hoặc không nâng bà dậy thì bà sẽ quỳ mãi như vậy cho đến khi gục luôn. Luật Manou bảo rằng, đấy là mẫu người đàn bà trung thành tuyệt đối với chồng, sẽ được thần linh khen ngợi.

Hôm nọ, sau buổi cầu nguyện, bà Sàrì nói với ông bằng khuôn mặt lóe sang niềm vui cao cả:

- Này thần linh của em! Kẻ nô lệ đã trải qua những khoảnh khắc xuất thần. Một vài linh điển ân triệu từ Ðấng Cao Cả đã ban xuống, rung động 32 đốt xương sống rồi tụ sức nóng ở đốt xương cuối cùng. Chẳng hay, điều đó là thế nào hở thần linh của em?

- Hy vọng đó là điềm đại phúc! Con mèo diễm lệ của ta!

Nói thế nhưng Bà la môn Vaganta lại nghĩ khác: "Dầu sao, nàng cũng là đàn bà ngu muội, làm ô nhiễm sự thanh khiết của thần linh! Luật Manou không cho phép nữ nhân biết đến kinh điển Vệ Ðà, ngữ ngôn, chú thuật hoặc bất kỳ một kiến thức nào về các nguyên tắc lẫn trình tự tu chứng của Yoga. Bà đâu biết rằng đấy chỉ là hiện tượng tự nhiên do sự tưởng tượng cao độ. Năng lực tưởng tượng có thể làm phát sanh nhiều hiện tượng bội lý ở ngoài thường nghiệm của trí năng lẫn cảm giác. Ồ! Nhưng lạy Ðức Brahman! Biết đâu đấy lại là ân triệu đại phúc mà Ngài đã ban cho chúng con?" Ðột ngột Bà la môn Vaganta đứng dậy, rời khỏi tảng đá con sư tử hai đầu.

Chuyện đó xảy ra bao lâu rồi? Dường như đã là lâu lắm? Từ đó đến nay, bà Sàrì đóng cửa cầu nguyện. Bà không tiếp xúc với ai cả. Chỉ vài nữ gia nhân lui tới như chiếc bóng để phục dịch cơm nước cùng những nhu cầu cần thiết khác. Chính ông cũng không được phép gặp mặt.

Mỗi ngày đi qua rất chậm, mặc đầu thì giờ của ông hoàn toàn để chìm lắng vào thế giới cao cả của Yoga và cầu nguyện. Cứ mỗi buổi sáng thức dậy, vào đầu canh ba, ông máy móc thực hành những nghi thức cần thiết mà luật Manou đã qui định cho một người Bà la môn vì nó biểu thị tư cách cao quí của một tập cấp đứng đầu xã hội, là người trung gian duy nhất giữa xã hội loài người và Ðấng Thần Linh. Dầu trời nóng hay lạnh, ông cũng phải tắm rửa rất kỹ càng, chà răng ba lần bằng một thứ vỏ cây cho sạch tất cả những uế khí, bợn nhơ được tiết ra từ nội tạng. Rồi ông cẩn trọng trang điểm cho mình: đeo vòng hoa tươi, vòng vàng, vòng bạc hoặc đánh phấn, lựa tấm áo mới giặt thật thơm tho vắt qua vai, cột sợi dây nịt bằng lụa Kàsì có viền kim tuyến, vấn đầu bằng chiếc khăn to dài chừng bốn, năm sãi tay, rỏ một loại thuốc vào mắt cho sáng. Sau đó ông đến bảo điện ngồi công phu, tọa Thiền, đọc kinh hay cầu nguyện. Rời bảo điện thì phương Ðông, sao mai đã nhạt mờ.

Ở nhà điểm tâm, gia nô đã chầu sẵn bằng những chiếc khăn trắng tinh, nước mưa tinh khiết trong cái chậu bạc lóng lánh. Ông Vaganta chậm rãi bước xuống. Cũng theo luật Manou, ông rửa tay, rửa chân và rửa miệng. Thức ăn bao giờ cũng cầu kỳ, sang trọng nhưng được đặt trong những tấm lá chuối, lá vả giản dị. Ông Vaganta thò tay bốc ăn từng chút một. Dẫu là thượng vị nhưng ông không thấy ngon miệng.

Nhà điểm tâm lặng ngắt không nghe cả một tiếng muỗi kêu: gia nô hầu hạ đứng yên như đã hóa đá. Họ thường không được phép nói gì khi chủ nhân chưa hỏi.

Cái điều định hỏi, ông lại ngại ngần: đấy là bà Sàrì! À không, chỉ cần đưa mắt một vòng là ông biết bà Sàrì chưa xả giờ cầu nguyện. Ngày này qua ngày khác, cứ lập đi lập lại mãi, ông Vaganta càng lúc càng thêm chán nãn, buồn phiền. Ông không muốn bước xuống ngôi nhà điểm tâm như mọi bữa, mà thơ thẩn mãi trong sân gạch rộng thênh thang. Khi thì nhìn những hàng cây thốt nốt với những đàn chim trắng bay xa xa. Khi thì lặng lẽ nhìn những bụi chà là trái vàng nặng trĩu. Khi thì nhìn những chùm bông ca ri đỏ thắm ẩn hiện ở ngôi vườn sau. Khi thì nhìn nhà cửa dãy ngang, dãy dọc với kho đụn, với tài sản mà thở dài! Rồi để làm gì? Rồi để cho ai?

Bỗng, mắt trái ông máy động liên hồi, linh tính như có chuyện gì vui. Ông quay lại. Ðầu sân con chim gì cất tiếng hót líu lo, lảnh lót một tràng dài. Phía xa bà Sàrì bước ra từ khung cửa điện. Ông đứng sững. Bước đi của bà hôm nay có gì khác lạ. Ðến gần, ông thấy mặt bà như thoáng ửng hồng.

- Thần linh của thiếp! Giọng bà thì thầm, xoắn xít như cố nén niềm vui Thiếp đã có tin mừng, phu quân ạ!

Ông Vaganta đứng lặng. Ông run cả toàn thân, môi lắp bắp hoài nói không được.

Bà Sàrì nắm tay ông:

- hầy của em! Hãy trấn tỉnh tâm hồn Bà nói tiếp, cũng dồn dập trong hơi thở Ðúng là Ngài đã ban phúc cho chúng ta, từ cái hôm mà kẻ nô lệ tiếp nhận được linh điển... Bà dìu ông đi từng bước một, giọng nói đã bắt đầu điềm tĩnh nhưng kẻ nô lệ còn ngờ. Mười hôm nay, thiếp cầu nguyện, lắng nghe, theo dõi, thì quả thật đúng như vậy. Có một vài biến chuyển trong cơ thể mà thiếp không tiện nói ra với phu quân. Hãy tạ ơn Ngài đi, Thầy ạ!

Ông Vaganta sung sướng quá. Người ông như bay bổng chín tầng mây. Lâu lắm... lâu lắm mà ông chỉ biết lắp bắp:

- Tạ... tạ ơn chứ! Phải tạ ơn chứ!

3. MỘT NGÔI SAO CHÀO ĐỜI

Mấy ngày sau, trang viện của Bà la môn Vaganta đã đổi khác. Một sinh khí mới như bừng lên. Sân trước, sân sau, nhà trong, nhà ngoài gia nhân lui tới tấp nập. Bảo điện trước đây âm u hương khói lạnh lùng, bây giờ sáng rực lên bởi hàng trăm ngọn đèn chóa đồng, chóa vàng, chóa bạc lấp lóa. Những hình người, hình vật, hình chim muông hoa lá, linh thần, tiên nữ trên những bức phù điêu chạm nổi, khảm bạc, khảm xà cừ, khảm hổ phách, khảm ngà đã được đánh bóng, sáng lung linh, huyền ảo, sống động.

Các môn sinh, môn đệ trong làng nghe tin vui của bậc trưởng giáo nên cùng đến chung tâm cầu nguyện để tỏ lòng tri ân Ðức Brahman cao cả. Bà la môn Vaganta đã lấy lại dáng dấp tươi trẻ, hoạt bát năm xưa. Bằng hữu cố tri khắp mấy thôn làng kế cận lục tục tìm đến. Tất cả đều là người cùng một tập cấp cao qúy Bà la môn. Có người ăn bận diêm dúa với đủ loại trang sức, chân đi giày vải đắt tiền. Có người chỉ quấn hờ hững một tấm khăn quanh mình không bao che hết tấm lưng sạm nâu. Có rất nhiều người cao lớn, lực lưỡng, mắt xanh biếc, mũi cao lộ, râu mọc dữ dằn, vầng trán phẳng và rộng. Có người thấp, mập, tròn quay, bước đi lệt đệt. Nhưng tất cả mọi người cử chỉ đều phong nhã, lịch sự, toát ra một căn bản kiến thức lẫn tu chứng đạo học! Có người mắt luôn nhìn xuống, trầm lặng, bước đi chậm rãi, hai tay buông thả. Có người đôi mắt xa xăm, chìm lắng trong suy tư, dường như đang sống trong cảnh giới nào.

Họ đều là những Bà la môn hữu danh, vì trọng đức, mến tài trưởng giáo Vaganta mà tìm đến. Trong bọn có những người là thuần túy Tu sĩ, có người có gia đình. Họ gồm những nhà bác học, nhà giáo dục, Đạo sĩ yogi, các Thầy Bà la môn tư tế ở các đền miếu là thành phần ưu tú, tinh ba của xã hội.

Ông Vaganta đứng ở cổng, chấp tay lên ngực, vái chào, nghiêng mình, mỉm cười hay bắt dấu ấn tùy theo mỗi vị khách. Cứ nhìn dấu vẽ bằng thổ Hoàng trên trán là biết Bà la môn này tôn thờ Thần Vichnou. Cứ nhìn vạch ngang bằng than phân bò cái trên lông mày là biết Bà la môn kia tôn thờ Ðức Shiva. Hoặc các ngẫu tượng đeo ở cổ, ở tay là biết Bà la môn theo tín ngưỡng nào, tôn thờ vị thần nào. Dấu hiệu thì thiên hình vạn trạng, nhưng đa phần họ thờ thượng đẳng thần: tức Brahma, Vichnou, Shiva.

Bà la môn Vaganta đang vui niềm vui to lớn thì tiếp nhận thêm một tin vui khác: một gia đình ở làng Kolita kế cận, giao hảo thâm thiết với nhau đã bảy đời, cũng có "tin vui.” Hai gia đình cố tri kỳ cựu này cùng đi thông báo cho nhau lại gặp nhau giữa đường! Như vậy, khi tính lại thì bà Moggallì ở Kolita cũng được thọ nhận linh điển cùng một ngày với bà Sàrì! Nếu như phân thân được, Bà la môn Vaganta và vợ đã tức tốc qua nhà bạn.

Có niềm vui, nỗi buồn nào mà hai gia đình này không san sẻ cho nhau? Họ thân thiết với nhau còn hơn là ruột thịt. Họ gặp gỡ nhau không những ở tập cấp, giòng trưởng, trình độ, kiến thức mà cùng với cả các thú vui du sơn, ngoạn thủy nữa. Ðiều kỳ lạ là tuổi tác họ cũng bằng nhau và sự hiếm muộn con cái cũng y như thế. Cũng đã mười năm ròng rã, họ cầu nguyện, cúng tế đền thấp, miếu cao, đầu súc vật, mâm trái cây, bông hoa và trầm hương. Họ sẵn sàng bỏ ra cả mấy trăm ngàn đồng tiền vàng để nhận một tin vui là sẽ có một người con trai nối dõi tông đường, thừa kế di sản tinh thần và cả di sản vật chất nguy nga, đồ sộ.

Họ đều là bậc đại phú, đại quý đứng đầu làng và có quyền lấy tên làng đặt tên cho con trai họ. Vốn là trưởng giáo tại ngôi làng Kolita nên môn sinh và bằng hữu đến thăm nhân ngày vui này, cũng rất đông. Bà Moggallì ở Kolita thế là cũng bắt đầu hoài thai một nhân cách siêu việt, một ngôi sao thật sự: đấy là Ngài Mục Kiền Liên, mà sau này đã cùng với Ngài Xá Lợi Phất, làm hai vị Ðại Ðệ Tử lỗi lạc, hai cánh tay phải và trái của Ðức Bổn sư để lăn bánh xe Pháp, hoằng truyền Chánh giáo, phổ độ sinh linh.

Làng Upatissa không lo nhiều về cái ăn, cái mặc. Con sông Ðại Hằng trước khi nhập vào biển cả, đã để lại ngôi làng này một nhánh nhỏ, yên tĩnh, đủ cung cấp nước bốn mùa cho ruộng đồng và vườn tược. Họ tự do canh tác, hưởng lợi tức mà khỏi đóng thuế cho nhà nước. Mỗi năm, họ chỉ nộp một ít lệ phí cho trưởng giáo Bà la môn để nhớ đến ân đức tổ tiên, dòng họ đã khai phá ra đất đai này. Ngoài phí tổn sinh hoạt gia đình, họ để dành hầu hết cho tín ngưỡng và sự thờ cúng.

Vườn nào cũng trồng cau, trồng xoài, chà là và thốt nốt. Thỉnh thoảng một vài nơi, họ trồng bông vải để dệt làm áo mặc. Kỹ thuật đan dệt ở xứ này đã có trước đó mấy ngàn năm, có thể là từ nên văn minh Mohenjodoro, hai nghìn chín trăm năm trước Công Nguyên. Như mọi xứ khác, họ trồng thêm ca ri, đậu, kê, lúa mạch, nếp, rau, các loại cây ăn trái miền nhiệt đới và chăn nuôi đủ loại gia súc. Bò cái là giống vật linh thiêng, được tự do ăn ở, đi lại nghênh ngang bất cứ nơi nào.

Ðặc biệt tập cấp Bà la môn chỉ ăn rau trái và ngũ cốc, còn cá, thịt, gà, vịt... chỉ để dành cho hạng tiện dân, tôi tớ và kẻ giàu có ở ngoài tập cấp. Bù lại, họ dùng rất nhiều ca ri, gừng, đinh hương, hồi hương, hồ tiêu, ớt, quế cùng các thứ gia vị, hương liệu khác. Do vậy không ngạc nhiên gì, trong cuộc lễ mừng vui bà Sàrì thọ thai, người dân làng, môn sinh, bằng hữu mang đến tặng gia đình này cả một núi lương thực, thực phẩm, rau trái, hoa quả đủ loại.

Ông Vaganta cho mười người nữ gia nô tín cẩn, kinh nghiệm lão thành để săn sóc cho bà Sàrì từ cái ăn, cái uống, đi đứng, ngủ nghỉ. Bao giờ cũng có hai Thầy Bà la môn tinh thông y dược, luôn luôn theo dõi các biến chứng trên cơ thể bà để lo lắng thang thuốc kịp thời.

Bằng hữu thông thái khuyên ông tạo điều kiện cho bà được thanh tĩnh và thanh cao tâm hồn bằng cách nghiêm trì những giới luật mà tập cấp cho phép. Ấy là một vài cách điều tức, điều tâm phổ thông, một số kỹ luật về tri thức và cảm xúc được biểu hiện qua thân, khẩu, ý, ăn nói, đi đứng v. v... Người Bà la môn ngàn xưa đã hiểu rằng: sự thanh lọc mọi ô nhiễm ở tâm hồn người mẹ là yếu tố quan trọng quyết định cho Trí tuệ và nhân cách của con cái sau này. Do vậy, ngày này qua ngày nọ, tai bà Sàrì không hề nghe một lời nói vô ích, phù phiếm. Mắt bà không hề thấy một cảnh chướng mắt, khó chịu. Xung quanh bà tràn đầy mùi hương của hoa, của trầm, cùng những hương liệu tuyệt hảo làm thư thái và dịu mát tâm hồn. Ông Vaganta còn cho người lặn lội đi khắp các miền mua những giống chim có màu sắc rực rỡ, có giọng hót thật hay, du dương, êm đềm làm phấn khởi và hoan hỷ lòng người.

Mỗi buổi sáng trước khi vào nhà nguyện, bà Sàrì đi dạo một vòng quanh hoa viên, bao giờ cũng thắm tươi các kỳ hoa dị thảo. Tiếng chim điểm nhịp líu lo, chan hòa, vui tươi như lạc vào một khu rừng thanh bình, u tĩnh. Lời ra từ cửa miệng mọi người, bao giờ cũng là lời kinh, lời chú, lời kệ; lời của những Hiền triết uyên thâm có tính khuyến thiện; lời của những thần linh hay gợi nhắc đến những tư tưởng cao thượng, thoát trần.

Ngày qua ngày, tháng qua tháng, nhờ sự chăm sóc chu đáo như thế, bà Sàrì sanh hạ một trai tuấn tú, phi phàm, không dính một tí huyết dơ; nằm an tĩnh trong chiếc bao hồng ngọc, sáng rỡ và tinh khiết. Sắc diện, dung mạo của trẻ như một chúa sư tử lông vàng bước ra từ động báu. Tất cả đều tinh anh như kết tụ ở đó Ánh Sáng và sự Cao Cả từ muôn ngàn kiếp trước. Tên làng, thế là được phúc hạnh đặt tên cho trẻ: Upatissa!

Ngôi làng kế cận, bà Moggallì cũng sanh hạ cùng một ngày, một giờ, một viên ngọc quý, cũng lấy tên làng đặt tên cho con: Kolita!

Upatissa (Xá Lợi Phất) và Kolita (Mục Kiền Liên) là hai vì sao đồng xuất hiện giữa bầu trời quang sắc diễm kiều, chầu quanh một vừng nguyệt bạch tinh khôi, mới mẻ: "Một bình minh chân lý đang có mặt giữa loài người.”

4. THỜI THƠ ẤU

Thật là không nói hết sự nuôi nấng, chăm sóc chu đáo của gia đình. Trẻ lớn lên như chiếc bóng của thiên thần với ngày tháng Hạnh phúc, hoa mộng. Phước báu tiền kiếp sáng rực rỡ nơi dung sắc, nơi tiếng cười, giọng nói hồn nhiên của trẻ.

Ông bà Vaganta cảm thấy tuổi già của mình đã được Thượng Ðế ban cho một ân sủng quá lớn. Hôm kia, ông nói với bà rằng:

Phu nhân ạ! Kể cả những trò giải trí, ta cũng nên cho con ta hưởng những niềm vui thanh cao của cõi trời. Hãy bỏ đi những trò chơi vô ích, rỗng không, phù phiếm. Quân bình khẩu, ý; trong sáng, lành mạnh và hướng thượng tâm hồn: ấy là mục đích trò chơi của giòng giống cao thượng.

Lên sáu tuổi, Upatissa đã đến tuổi học vỡ lòng. Ông Vaganta cho mời ba Thầy Bà la môn uyên bác từ thành Vương Xá, đảm trách dạy cho trẻ ba môn học khác nhau. Ðó là ngữ pháp, luận lý và triết học! Riêng ông Vaganta dạy cho con về đạo đức học, luân lý học và các môn thường thức khác... Ðấy là những cái thiện, cái ác, cái phải, cái trái... ở đời; phép ngoại giao, cách cư xử đối với kẻ trên, người dưới, trong và ngoài đẳng cấp; bổn phận đối với thần linh, quốc vương, vợ chồng, con cái v. v...; cách giữ gìn thân thể cho lành mạnh cùng một số kỷ luật về cảm xúc, về tinh thần...

Quả là một tham vọng quá lớn của ông Vaganta, khi muốn nhồi nhét từng ấy môn học cho một đứa trẻ sáu tuổi, một chúng hữu tình nhỏ nhoi được giáng sinh do ân sủng của Thượng Ðế! Nhưng thật đáng ngạc nhiên làm sao, Upatissa không tỏ vẻ lúng túng trước môn học nào. Chỉ non nửa năm sau, Bà la môn Vaganta đã dám hãnh diện để nói với bằng hữu rằng: chỉ cần ít năm thôi là các Thầy A đồ lê bác học kia sẽ không còn bao lăm chữ nghĩa!

Sự thực có lẽ còn hơn thế nữa vì Upatissa không phải chỉ có học bấy nhiêu! Vừa mới canh ba, khi đang còn trong giấc ngủ say nồng, ông Vaganta đã đánh thức con dậy để tập cho trẻ về Hathayoga tức là những động tác thể dục để giữ gìn sức khỏe! Bà Sàrì còn đề nghị ông dạy đức tin với thần linh bằng cách để thêm một số giờ cho trẻ đọc kinh, đọc chú và cầu nguyện.

Dường như Upatissa đã có sẵn ý chí, tinh tấn, nhẫn nại, căn tu lẫn Trí tuệ lâu đời nên không một lời, một chữ, một môn học nào mà trẻ tỏ vẻ lơ là hoặc không thực hành, học và hiểu đúng mức.

Tám tuổi, Upatissa đã nổi tiếng khắp làng về sức học. Và kỳ lạ thay! Trẻ Kolita ở làng bên cạnh cũng như thế. Hai trẻ là hai ngôi sao sáng, là hai tiêu chuẩn mẫu mực cho hàng trăm trẻ con cùng lứa tuổi noi gương.

Hai gia đình thường tạo cơ hội cho hai trẻ gặp nhau. Và thật lạ lùng làm sao, những trò chơi của chúng bày ra lại nghiêm túc ngoài sức tưởng tượng của người lớn. Một trẻ đóng vai Đạo sĩ khổ hạnh, một trẻ đóng vai du sĩ hành cước, chúng hỏi đạo nhau hoặc giả làm trò bố thí, cúng dường... Thỉnh thoảng trong những lời đối thoại, các bậc Thầy cũng phải ngỡ ngàng về cái tầm mắc mỏ, có chiều sâu, chiều rộng của vấn đề. Tuy nhiên, trẻ con vẫn là tuổi vô tư vô lự. Chúng thích đi tắm sông, suối, thích chạy nhảy reo hò, thích ngoạn du đây đó. Giữa thiên nhiên, chúng thả sức nô đùa, rượt đuổi chim thú, hái trái cây, hái hoa xâu thành tràng... Thi thoảng chúng cũng vật lộn, đóng vai anh hùng, hiệp sĩ...

Có điều đặc biệt là chúng vẫn gọi nhau là huynh đệ. Upatissa là anh, Kolita là em. Cả hai không chịu kết bạn với trẻ trong làng mặc dầu là cùng tập cấp. Chúng tỏ thái độ đàn anh. Ðôi khi lại dạy bảo, khuyên răn, vẽ vời điều này, điều nọ một cách nghiêm trang đứng đắn.

Giữa đàn gà chỉ có hai con phượng Hoàng. Cả hai gia đình thấy rõ như vậy và họ hãnh diện về điều đó.

Năm lên mười tuổi, sức học của Upatissa đã bằng sức học của một thanh niên Bà la môn hai mươi tuổi thông minh và ham học nhất. Trẻ đã bắt đầu bỏ hẳn các trò chơi và hoàn toàn chú tâm vào sự học. Nhờ sự nuôi nấng và bảo dưỡng đúng mức, Upatissa lớn như thổi, khuôn mặt thanh tú, phi phàm và đôi mắt tinh anh, ngời sáng như ánh sao mai. Ngoài các môn học của Thầy mà trẻ theo đuổi dễ dàng, không phải cố gắng lắm; trẻ còn nghiên cứu số học, đo lường, tự nhiên học, địa lý, chiêm tinh, thuật số v. v... Cái trí của trẻ quả là một đại dương thăm thẳm, dung chứa hàng trăm con sông kiến thức, hiểu biết và trí khôn của cổ nhân từ ngàn xưa mà vẫn không thấy đầy tràn.

Thế là vừa mới mười hai tuổi, Upatissa và Kolita đã nổi tiếng là thần đồng bác học. Trẻ trong làng vây quanh thần tượng của họ. Và Upatissa bắt đầu đóng vai bậc Thầy về đủ loại môn học một cách thông tuệ và ưu việt.

Cái cây đã đủ sức lớn. Bây giờ chỉ cần môi trường thuận lợi; các điều kiện về thời gian, ánh sáng, không khí, nước v. v... là nó tự đủ sức vươn lên vòm trời xanh cao rộng. Ông bà Vaganta không còn một mảy may lo âu nào nữa về đạo đức, sở học cũng như Trí tuệ của con. Tính tình và những phẩm chất cao thượng càng lúc càng hiện rõ như một đóa kỳ hoa từ từ mãn khai. Từ đây, ông giao phó trọn vẹn sự giáo dục cho ba Thầy Bà la môn uyên bác. Vả chăng, ông bà còn nhiều việc phải làm; đó là liên tiếp mấy năm sau, bà lại được "linh điển ơn phúc" thêm ba trai và ba gái nữa! Quả thật, ông bà Vaganta đã được đấng Rama "quá thương!”

Upatissa lúc mười lăm tuổi đã có xung quanh hơn một trăm đồ chúng. Ba Thầy Bà la môn hôm kia đến gặp ông bà Vaganta và nói rằng:

- Thưa Ngài trưởng giáo! Sở học của chúng tôi có hạn, chữ nghĩa của chúng tôi có hạn mà trí thông minh, lòng ham hiểu biết của đức công tử thì vô hạn. Chúng tôi không còn gì để dạy nữa.

Một vị lại nói:

- Chúng tôi, mỗi người, chỉ làm Thầy đức công tử một môn học. Ðức công tử hiện giờ có khả năng làm Thầy chúng tôi rất nhiều môn học khác.

Tất cả họ đều xin rút lui.

Thật ra, bản thân Upatissa, chàng thấy cái sở học của mình còn nhiều thiếu sót, nông cạn. Cái gì cũng biết nhưng chưa có gì là đi chuyên sâu. Thế là chàng bắt đầu lựa chọn một môn học hợp với sở thích cần phải theo đuổi suốt đời: đó là Triết đạo học.

Mười sáu tuổi, chàng đi sâu vào kinh điển Vệ Ðà. Ðấy là kinh điển truyền thống mà dòng họ chàng đang thừa kế. Chàng nghiên cứu đến tận chân tơ kẻ tóc. Tuy nhiên, ở đó tổng hợp nhiều tri thức phức tạp, phong phú, đa dạng và đôi khi lại như mâu thuẫn nhau. Chàng đã không tìm ra sợi chỉ vàng xuyên suốt, và nhất quán. Sau khi ba Thầy Bà la môn ra đi, họ đã để lại cho chàng những kiến thức không suy luận, những mặc khải không được phép hoài nghi! Chẳng lẽ nào lại thừa nhận, đặt đức tin tuyệt đối trước những tri thức mà ta không biết gì về nó? Chẳng lẽ nào lại đem rao giảng những điều mà ta chưa kinh nghiệm và thực hành?

Những thắc mắc, băn khoăn của Upatissa không phải là hợm hĩnh, cao đại mà là do lòng trung thực. Nơi vừng trán thanh mãnh, dịu dàng của chàng trai mới lớn, đã chập chờn suy tư của một lòng biển rộng. Chàng đã có những giờ khắc ngồi yên lặng, xuất thần giữa đêm khuya u tĩnh để nhìn lên bầu trời cao, xa xăm, diệu vợi. Một linh hồn nho nhỏ đang cựa quậy, thao thức, nhìn ngắm và lắng nghe? Nhưng nó là gì với vô biên cái thân phận này, cái thận phận con người muôn nơi, muôn thuở? Nó có mặt giữa cuộc đời để chịu định luật sinh thành và hủy diệt? Ðể nhận chịu nước mắt, niềm vui? Vinh quang và tủi nhục là để làm gì? Cứu cánh của những sinh hoạt lăng xăng: xuống lên, ra đi, sở đắc, yên nghỉ của thiên thu và thời đại là cái gì? Rồi nơi đám cỏ xanh lại có nắm cỏ vàng? Rồi bên xác chết tanh hôi ruồi nhặng lại có trầm hương thanh khiết? Rồi nơi tối tăm hắc ám lại có những nhân cách đâu đó chợt nhiên bừng sáng lên như đốm sao mai? Ngày và đêm, mưa và nắng, nóng và lạnh, thiện và ác là để làm gì? Chàng không hiểu? Có những luật tắc chi phối nhịp nhàng như bởi bàn tay vạn năng và đó là Thượng Ðế? Thật ra, nếu có những câu trả lời thì những câu trả lời ấy cũng là những tri thức có sẵn từ Vệ Ðà! Ôi! mà ở đó là kết tinh cả hằng vạn tri thức, hằng vạn trí khôn của cổ nhân lẽ nào ta lại dám hoài nghi? Bổn phận của ngươi là trở về với Ngài, với siêu việt tính, với Phạm thể tối cao, hằng hữu, đấng vô tạo tác mà hằng sinh, đấng vô nguyên nhân mà làm ra thế giới! Những tri thức về Thánh ca, tán tụng, cầu khấn, tế lễ, thần chú... là con đường để đạt tới Ngài, để siêu thể hóa?

Con đường ấy không phải một sớm một chiều Upatissa không thể nôn nóng. Chàng đi từng bước chậm mà chắc. Chàng thu lượm những tri thức ở tận những chiều sâu của kinh điển Vệ Ðà. Chàng dường như mê man, đắm say, trong thế giới lý giải và ý nghĩa. Ngay cả anh hùng ca Mahabharata, trường ca Bhagavadgita, trường ca Ramanaya, chàng cũng thuộc lòng và cố tìm cho ra những mật ngữ uyên áo. Mười bảy tuổi, vầng trán chàng dường như cao hơn, rộng hơn. Ðôi mắt chàng dường như xanh hơn, sâu thẳm hơn. Một đôi mắt ngời ngời xuyên thủng hư vô! Nhưng tri thức tuyệt đối, vô tận, cuối cùng vẫn không tìm thấy!

Mười tám tuổi, chàng đã có phong độ và tư cách của một Đạo sư lỗi lạc nhất. Chàng nghiễm nhiên thay thế cha dạy dỗ môn sinh và lấy lại sinh khí các lớp học thuở nào. Kolita cũng thành tựu tương đương như Upatissa. Hiện giờ mỗi người có hơn một trăm môn sinh ở trong làng cùng các làng kế cận. Danh tiếng của hai huynh đệ hy hữu này đã vượt qua những lũy tre xanh, vượt qua dòng sông lặng lẽ, vượt qua phạm vi các thôn làng nhỏ bé để bay đến Vương Xá thành tức là kinh đô của văn hóa, kinh tế, tín ngưỡng và tâm linh đạo học.

Tuổi thơ của Upatissa không còn nữa, chàng đã làm Đạo sư khi tuổi vừa thành niên.




Related news items:

 
Author of this article: Minh Ðức - Triều Tâm Ảnh

Show Other Articles Of This Author

Thêm bình luận

Trang nhà có cài bộ gõ tiếng Việt, tự động nhận ra các kiểu gõ, xin các bạn sử dụng tiếng Việt có dấu. Những bình luận không bỏ dấu chúng tôi sẽ không đăng.


Mã an toàn
Refresh (Nhấn vào đây để lấy mã an toàn khác)