|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Quyển Thánh Đăng Lục Giảng Giải
|
|
Thánh Đăng Lục là quyển sách kể lại công hạnh tu của năm vị vua đời Trần. Năm vị vua đời Trần tu ngộ được lý Thiền, sống rất đạo đức và chết trong sáng suốt.
Ví dụ: ngày ra đi của vua Trần Thái Tông. Vua ra đi một cách thoải mái, không lo âu sợ sệt là do nhận chân được lẽ thật, nên không cần bớt cái gì không cần thêm cái gì, cứ lặng lẽ mà đi không ồn náo.
Ngày ra đi Vua Trần Thánh Tông. Đến lúc đau gần chết vua còn lấy ngón tay nhịp nhịp vào gối chơi, rồi nói: “sanh như mặc áo, chết tợ cởi trần.” Khi mở mắt chào đời thân trần trụi không áo quần, sau đó mới được cha mẹ mặc áo cho ấm. Và khi nực quá cởi áo ra để thân trần cho mát. Ngài thấy sanh tử giống như mặc áo và cởi áo, đó chỉ là nhu cầu, không có gì quan trọng: “Sanh như mặc áo, Chết tợ cởi trần. Từ xưa đến nay, Không đường nào khác.” |
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Phạm Công Thiện
|
Nhưng tại sao gọi Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ là "hai vị Thiền sư lỗi lạc nhất,
thông minh nhất, uyên bác nhất, trong sạch nhất của Việt nam hiện nay"?
"Thiền sư" à? Chỉ nội cái danh hiệu "thiền sư" đã là mệt
rồi, lại còn thêm mấy chữ mơ hồ như "lỗi lạc nhất, thông minh
nhất.."? Tôi muốn nói về Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát với tất cả thận trọng và
suy nghĩ chín chắn cặn kẽ, và tôi xin chịu mọi trách nhiệm về cái nhìn khác
thường của tôi đối với nhị vị.
Tại sao là "thiền sư"? Và "thiền sư": Là thế nào? Không cần
trả lời trực tiếp về những câu hỏi bất thường này. Nơi đây, tôi chỉ xin nhấn
mạnh đôi điều gián tiếp và ai muốn hiểu gì thì cứ hiểu. Không ai có thể tự nhận
đủ thẩm quyền tôn giáo và tâm linh để trả lời dứt khoát những câu hỏi bất
thường trên. Chỉ có những kẻ bỏ cả trọn đời mình lặng lẽ sống chết với cái gọi
là "Bồ Ðề tâm" hay "Phát Bồ Ðề Tâm" thì may ra mới trực
nhận đâu đó khí phách và thần dụng bảng lảng của "nghịch hành thiền".
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Hoàng Xuân Hãn
|
Lý Thường Kiệt sống trong thịnh-thời của đạo Phật. Ông từng chịu
Phật-giáo chi phối một phần. Quả như lời đại-sư Hải-chiếu nói trong bia
LX: "ông tuy thân vướng cõi tục, nhưng lòng đã quy-y".
Không biết ông theo đạo Phật đến mực nào. Có điều chắc-chắn là ông
che-chở cho các vị sư có danh như Trì-bát, Chân-không (TUTA), Ðạo-dung
(HN) và Sùng-tín (LX).
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Thích Trí Quảng
|
|
...Tổ Long Quang nhận thấy đức hạnh của Hòa thượng sau này có thể “phò trì Phật pháp, tiếp dẫn hậu lai”, nên đã tiếp nhận và hết lòng dạy dỗ Hòa thượng. Hòa thượng cũng đáp lại công ơn giáo dưỡng của Tổ bằng cách quyết chí tu học, dũng mãnh phát nguỵên nhập thất 5 năm liên tục để hành trì Kinh Pháp Hoa.
...Với đạo phong đạo hạnh của một bậc chân tu tỏa rộng đến độ cảm hóa các Tăng Ni Phật tử xa gần, nên mặc dù Hòa thượng trở về dừng chân hành đạo ở Tổ đình Huê Nghiêm sau hơn 20 năm đi tiếp độ khắp nơi, hàng Phật tử vẫn thiết tha hiến cúng cho Hòa thượng ngôi Chùa Bửu Lộc và Chùa Phước Hưng ở Long Thành.
...Bước chân vào cuộc hành trình hoằng dương Phật pháp từ năm 24 tuổi cho đến cuối cuộc đời, nơi Hòa thượng luôn tỏa sáng hình ảnh một vị chân tu giải thoát đầy đủ phẩm hạnh cao quý, là tấm gương sáng cho hàng Tăng Ni soi chung và cũng là bậc mô phạm cho hàng Phật tử kính ngưỡng noi theo tu học.
...Một điểm nổi bật khác trong nếp sống tu hành của Hòa thượng thể hiện tinh thần tinh tấn tu bồi đức hạnh và hướng niềm tin mãnh liệt về đức Phật không biết mệt mỏi đến độ dù cao tuổi sức yếu, mỗi ngày hòa thượng vẫn chuyên trì kinh Pháp Hoa và lạy Sám Ngũ Hối. |
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Chu Huy
|
|
Trong truyền thuyết và cổ tích dân gian, hình tượng Dương Không Lộ (1016-1094) thường được hình dung là ông Khổng Lồ đúc chuông, lấy nón làm thuyền, lấy gậy tích trượng làm mái chèo, chở hết cả kho đồng xứ Bắc về nước Nam và hình tượng Nguyễn Minh Không (1066-1141) thường được hình dung là nhà sư có pháp thuật cao chữa cho vua Lý Thần Tông khỏi bệnh hóa hổ. Cả hai ông đều là quốc sư đời Lý nhưng theo lịch sử thì Dương Không Lộ là quốc sư đời vua Lý Thánh Tông (1054-1072) và Nguyễn Minh Không là quốc sư đời vua Lý Thần Tông (1128-1138). Vấn đề thân nhân của hai vị quốc sư tưởng đã được giải quyết thỏa đáng từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, vậy mà đến giữa năm 2004 vẫn có vị giáo sư còn cho rằng thực ra hai vị quốc sư đó vẫn chỉ là một...
Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không tuy đều là quốc sư thời Lý, đều chữa bệnh cho 2 nhà vua, nhưng là 2 con người thật khác nhau, sống ở các đời vua khác nhau và công trạng cũng khác nhau. Dương Không Lộ là sư tổ chùa Thần Quang tức chùa Keo Thái Bình còn Nguyễn Minh Không là sư tổ chùa Quỳnh Lâm, Quảng Ninh. Hành trạng và tiểu sử nhân thân của 2 vị sư này đã được ít nhiều sử sách, thần phả, truyền thuyết, cổ tích khẳng định và sự nhầm lẫn cho 2 vị chỉ là 1 con người cho đến tận giữa năm 2004 này là một điều không nên có, khó chấp nhận.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Thích Nguyên Tạng
|
|
...Xuất gia năm 1937 (do nhân duyên đọc báo Đuốc Tuệ mà giác
ngộ). Y chỉ sư là Hòa thượng Thích (Thượng) Tâm (Hạ) Thưởng, trụ trì Chùa làng
Liêu Hải, phủ Nghĩa Hưng, thuộc Sơn môn Phú Ninh (Nam Định).
Năm 1993 đến nay (1996), tĩnh tu Chùa Giác Minh, Sài gòn.
Hòa thượng vẫn tiếp tục đọc, viết và ưu tư về đường hướng phát triển của Phật
giáo Việt Nam.
Đã viết cho các Nhật Báo: Thời Luận, Tín Sáng, Dân Chủ, Gió
Nam và các tạp chí: Phật giáo Việt Nam, Văn hóa Á Châu, Liên Hoa, Văn, Vấn đề,
Tư tưởng...
...Suốt cuộc đời, từ khi xuất gia hành đạo cho đến lúc viên
tịch, Hòa thượng Thích Đức Nhuận đã nỗ lực không ngừng trong công việc xiển
dương đạo pháp. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng ngời về đạo hạnh và sự
nghiệp hoằng hóa cho Tăng ni và Phật tử noi theo. Mặc dù sắc thân của Ngài
không còn nữa nhưng đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa của Ngài sẽ mãi mãi là ngọn
đuốc soi đường cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam ở mai sau.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Thích Thiện Nhơn
|
|
...Sau ngày 30/ 04/ 1975, chương trình theo dấu chân xưa trở
về cảnh cũ của Hòa thượng Viện chủ Chùa Huệ Nghiêm đã đề ra, nhằm tạo thắng
duyên trong sự giải thoát, qua Pháp môn Niệm Phật vãng sanh. Thượng tọa đã cùng
các pháp hữu luân phiên nhập thất tịnh tu, tránh duyên bớt cảnh, một lòng phát
nguyện vãng sanh, hầu báo đáp công ơn Thầy Tổ, nguyện sanh về cõi Bảo Liên, là
nơi cực lạc ở miền Tây phương, đến khi thọ mạng vô thường, Di Đà tiếp dẫn Tây
phương an nhàn.
...Trên cương vị là sứ giả của Như Lai và trách nhiệm hiện
hữu, nhằm tục Phật huệ đăng, báo Phật ân đức, Thượng tọa đã không ngại gian
lao, không từ khó nhọc, nỗ lực hoằng dương Chánh pháp, giáo hóa học đồ, Tăng
Ni, Phật tử qua các Trường Phật học, các Giảng đường thính pháp, những lớp đạo
tràng, giáo lý phổ thông v.v… đã làm cho Tăng Ni, Phật tử đượm nhuần ân pháp
nhũ, Tăng trưởng căn lành, trở thành người hữu ích cho Đạo pháp và cho xã hội.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Thích Đồng Bổn
|
|
...Không lâu sau, nhận thấy con đường giải thoát với nếp
sống và phẩm hạnh của người xuất gia mới là cứu cánh và có thể báo hiếu tròn
vẹn mang nhiều ý nghĩa nhất. Ngài quyết định đảnh lễ cầu xin xuất gia với Tổ
Viên Giác (trụ trì Chùa Hải Đức), được Tổ ban pháp danh là Ngộ Tánh.
...Đầu tiên là dời Chùa Hải Đức từ Thành phố Nha Trang lên
núi Trị Thủy nằm ở ngoại ô Thành phố, thuộc làng Phước Hải, cách cửa biển Nha
Trang một cây số để tiện việc quy tụ Tăng Ni tu học và mở rộng khi cần.
Công việc dời Chùa ấy được tiến hành trong năm Quý Mùi
(1943) và ngôi Chùa đã trở thành một cơ sở đào tạo quan trọng rất lừng danh là
Phật Học viện Hải Đức Nha Trang sau này.
...Ngài thường hay nói trong những ngày trước khi viên tịch:
Ta ra đời nhằm ngày Đản Sinh của đức Từ Phụ thì sau này ta cũng chọn ngày ấy mà
viên tịch.
...Ngày mồng 8 năm Quý Mão (1963), Ngài không thấy trang
hoàng cờ phướng để đón mừng Phật Đản như mọi khi và khi biết Giáo hội chủ
trương dời ngày lễ Phật Đản vào đúng ngày rằm, Ngài nói: Rứa thì ta cũng đợi
đến ngày rằm.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Thích Đồng Bổn
|
|
...Ngài đọc tân thư, báo chí và được biết phong trào Phật
giáo các nước đang lên mạnh. Ở Trung Hoa, Thái Hư Đại Sư xây dựng Phật học
viện, xuất bản Hải Triều Âm. Bên Nhật, Tommatsu tiên sinh cùng các nhà nghiên
cứu Phật học phát huy nền văn học Phật giáo, chủ trương biên tập lại Đại Tạng
Kinh. Ở Thái Lan, Phật giáo được xem là quốc giáo làm nền tảng đức dục cho quốc
dân. Ở Miên, một viện khảo cứu Phật giáo được thành lập. Trước sắc thái mới của
nền Phật giáo Thế giới phục hưng, Hòa thượng Huệ Quang đã cùng các Hòa thượng
khác ở Nam Kỳ thành lập Hội Lục Hòa, ý muốn mở Phật học viện và thư xã.
...Trong những lần thuyết pháp giảng dạy, Ngài đã vạch rõ sự
cần thiết phải thành lập Giáo hội, xuất bản tạp chí và kiến tạo Phật học đường,
Ngài đã tiên liệu, đã lo lắng rất nhiều cho tương lai của nền Phật giáo Thống
nhất.
...Sau khi chiêm bái Phật tích về, Ngài đã lâm chứng bệnh cũ
và đột ngột từ trần vì tai biến mạch máu não, hưởng thọ 68 tuổi với 37 năm
hoằng hóa. Nhục thân Ngài được hỏa táng tại Ấn Độ.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam
|
|
Viết bởi Thích Đồng Bổn
|
|
...Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất
gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà
(Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh
về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy. Năm 1952 Ngài có duyên lành
sang Tích Lan để nghiên cứu Phật học tại trường Dhammaducla Viddhyàlaya trong
thời gian hai năm. Ngài cũng đã hành hương sang Ấn Độ để chiêm bái các
Thánh tích và cung thỉnh Ngọc Xá Lợi do Giáo Hội Phật Giáo ở Tích Lan tặng đem
về Việt Nam.
...Ngài là một học giả, biết rất nhiều ngoại ngữ như Lào,
Thái Lan, Khmer, Miến Điện, Tích Lan, Trung Quốc, Pháp, Anh, Đức, Ý, Nga và Cổ
ngữ Pàli. Riêng về Pàli là ngôn ngữ mà Ngài đã dành rất nhiều thì giờ
nghiên cứu và đã soạn thành tự điển Pàli.
Dù bận rộn Phật sự trong nước cũng như Phật sự quốc tế, Ngài
vẫn dành thời gian để phiên dịch và trước tác nhiều kinh sách để hoằng dương
giáo pháp, trên dưới 20 tác phẩm.
...Ngài là một tấm gương sáng về phương diện hoằng pháp lợi
sanh. Công hạnh Ngài còn tỏa rộng ra thế giới, và còn lưu lại trong mỗi
bước hành trì giới pháp độ sanh của những người có lòng vị tha và chí tìm cầu
giải thoát.
|
|
Đọc thêm...
|
|
|