| Kinh Hoa Nghiêm hẩm Dạ-ma Cung Trung Kệ Tán, 20 |
|
|
|
| Kinh bộ bắc truyền - Kinh Hoa Nghiêm | |||
| Viết bởi Thích Trí Tịnh | |||
Các Bồ-tát nhiều như vi trần, đó là : Bồ-tát Công Đức Lâm … đều đến nhóm họp, mười vị Đại Bồ-tát, mỗi vị đều nói kệ ca tụng hạnh nguyện công đức trùm khắp pháp giới của Phật.
Kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa NghiêmHán Dịch: Ðại Sư Thật Xoa Nan ÐàViệt Dịch: HT Thích Trí Tịnh(Trọn bộ 4 tập – Tái bản lần thứ hai)Nhà xuất bản Tôn giáo Hà Nội – PL.2549 – DL.2005(Chánh Tân Tu Đại Tạng, tập 10, Hoa Nghiêm Bộ, số hiệu
0278, 80 quyển, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Đường Thật-xoa-nan-đà
dịch, bttdtkvn) Mục Lục TẬP 101. Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm thứ nhất. (Hán bộ từ quyển thứ nhứt đến hết quyển thứ năm) 02. Phẩm Như Lai Hiện Tướng thứ hai. (Hán bộ trọn quyển thứ sáu) 03. Phẩm Phổ Hiền Tam Muội thứ ba. (Hán bộ phần đầu quyển thứ bảy) 04. Phẩm Thế Giới Thành Tựu thứ tư. (Hán bộ phần sau quyển thứ bảy) 05. Phẩm Hoa Tạng Thế Giới thứ năm. (Hán bộ từ quyển thứ tám đến hết quyển thứ mười) 06. Phẩm Tỳ Lô Giá Na thứ sáu. (Hán bộ trọn quyển thứ mười một) 07. Phẩm Như Lai Danh Hiệu thứ bảy. (Hán bộ phần đầu quyển thứ mười hai) 08. Phẩm Tứ Thánh Ðế thứ tám. (Hán bộ phần sau quyển thứ mười hai) 09. Phẩm Quang Minh Giác thứ chín. (Hán bộ phần đầu quyển thứ mười ba) 10. Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ mười. (Hán bộ phần sau quyển thứ mười ba) 11. Phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một. (Hán bộ phần đầu quyển thứ mười bốn) 12. Phẩm Hiền Thủ thứ mười hai. (Hán bộ phần sau quyển thứ mười bốn đến hết quyển thứ mười lăm) 13. Phẩm Thăng Tu Di Sơn Đảnh thứ mười ba. (Hán bộ phần đầu quyển thứ mười sáu) 14. Phẩm Tu Di Sơn Đảnh Kệ Tán thứ mười bốn. (Hán bộ phần giữa quyển thứ mười sáu) 15. Phẩm Thập Trụ thứ mười lăm. (Hán bộ phần sau quyển thứ mười sáu) 16. Phẩm Phạm Hạnh thứ mười sáu. (Hán bộ phần đầu quyển thứ mười bảy) 17. Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức thứ mười bảy. (Hán bộ phần sau quyển thứ mười bảy) 18. Phẩm Minh Pháp thứ mười tám. (Hán bộ trọn quyển thứ mười tám) 19. Phẩm Thăng Dạ Ma Thiên Cung thứ mười chín. (Hán bộ phần đầu quyển thứ mười chín) 20. Phẩm Dạ Ma Kệ Tán thứ hai mươi. (Hán bộ phần giữa quyển thứ mười chín) 21. Phẩm Thập Hạnh thứ hai mươi mốt. (Hán bộ phần sau quyển thứ mười chín đến hết quyển thứ hai mươi) PHẨM DẠ MA CUNG KỆ TÁN THỨ HAI MƯƠI(Hán bộ phần giữa quyển thứ mười chín) Lúc đó do thần lực của đức Phật, mười phương đều có một đại Bồ tát, mỗi vị đều cùng Phật sát vi trần số Bồ tát câu hội, từ những thế giới ngoài mười vạn Phật sát vi trần số quốc độ mà đến. Tên của mười vị Bồ tát đó là: Công Ðức Lâm Bồ tát, Huệ Lâm Bồ tát, Thắng Lâm Bồ tát, Vô Úy Lâm Bồ tát, Tàm Quý Lâm Bồ tát, Tinh Tấn Lâm Bồ tát, Lực Lâm Bồ tát, Hạnh Lâm Bồ tát, Giác Lâm Bồ tát, Trí Lâm Bồ tát. Quốc độ của các Ngài từ đó mà đến theo thứ tự là: Thân Huệ thế giới, Tràng Huệ thế giới, Bửu Huệ thế giới, Thắng Huệ thế giới, Ðăng Huệ thế giới, Kim Cang Huệ thế giới, An Lạc Huệ thế giới, Nhựt Huệ thế giới, Tịnh Huệ thế giới, Phạm Huệ thế giới. Chư Phật Thế Tôn nơi thế giới đó theo thứ tự là: Thường Trụ Nhãn Phật, Vô Thắng Nhãn Phật, Vô Trụ Nhãn Phật, Bất Ðộng Nhãn Phật, Thiên Nhãn Phật, Giải Thoát Nhãn Phật, Thẩm Ðế Nhãn Phật, Minh Tướng Nhãn Phật, Tối Thượng Nhãn Phật, Cám Thanh Nhãn Phật. Chư Bồ tát này đến dưới bửu tòa đảnh lễ Phật, rồi theo phương của mình đến đều riêng hóa hiện tòa sư tử liên hoa tạng mà ngồi kiết già trên đó. Tất cả Dạ Ma thiên ở thập phương thế giới đều như thế cả. Bồ tát, quốc độ và Như Lai cũng đồng danh, đồng hiệu như trên. Lúc đó đức Thế Tôn, từ trên hai bàn chưn, phóng ra trăm ngàn ức quang minh màu đẹp chiếu khắp thập phương thế giới. Tất cả đạo tràng, Phật và Bồ tát đều hiển hiện cả. Bấy giờ, Công Ðức Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Phật phóng đại quang minh Chiếu khắp nơi mười phương Ðều thấy Thiên Nhơn Tôn Thông đạt không chướng ngại. Phật ngồi cung Dạ Ma Khắp cùng mười phương cõi Việc này rất lạ lùng Thế gian rất hi hữu. Trời Dạ Ma Thiên Vương Ca ngợi mười Như Lai Như hội này đã thấy Tất cả hội cũng vậy. Những chúng Bồ tát kia Ðồng hiệu với chúng tôi Thập phương tất cả chỗ Diễn thuyết pháp vô thượng. Bổn quốc của các ngài Danh hiệu cũng không khác Ðều riêng nơi bổn Phật Tịnh tu các phạm hạnh. Các đức Như Lai kia Danh hiệu cũng đều đồng Quốc độ đều giàu vui Thần lực đều tự tại. Tất cả chúng mười phương Ðều thấy Phật ở đây Hoặc thấy ở nhơn gian Hoặc thấy ở Thiên cung. Như Lai an trụ khắp Tất cả các quốc độ Nay chúng tôi thấy Phật Ở tại Thiên cung này. Xưa phát nguyện Bồ đề Khắp đến mười phương cõi Nên oai lực của Phật Cùng khắp khó nghĩ bàn. Lìa sự tham thế gian Ðầy đủ vô biên đức Nên được sức thần thông Chúng sanh đều thấy cả. Du hành mười phương cõi Như hư không vô ngại Một thân vô lượng thân Thân tướng bất khả đắc. Phật công đức vô biên Thế nào lường biết được Không dừng cũng không đi Vào khắp trong pháp giới. Huệ Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Ðấng đạo sư thế gian Ðấng ly cấu vô thượng Bất khả tư nghị kiếp Khó được gặp gỡ Phật. Phật phóng đại quang minh Thế gian đều khắp thấy Vì chúng rộng diễn bày Lợi ích những quần sanh. Như Lai xuất thế gian Vì đời trừ si tối Là đèn sáng thế gian Hi hữu khó thấy được. Ðã tu thí, giới, nhẫn Tinh tấn và thiền định Bát nhã ba la mật Dùng đây chiếu thế gian. Như Lai không ai bằng Muốn sánh chẳng thể được Chẳng rõ pháp chơn thiệt Thời không thể thấy Phật. Thân Phật và thần thông Tự tại khó nghĩ bàn Không đi cũng không đến Thuyết pháp độ chúng sanh. Nếu ai được thấy nghe Ðấng đạo sư thanh tịnh Thoát hẳn các ác đạo Xa lìa tất cả khổ. Vô lượng vô số kiếp Tu tập hạnh Bồ đề Chẳng thể biết nghĩa này Chẳng thể được thành Phật. Bất khả tư nghị kiếp Cúng dường vô lượng Phật Nếu biết được nghĩa này Công đức hơn công kia. Cúng Phật với trân bửu Ðầy cả vô lượng cõi Chẳng biết được nghĩa này Trọn chẳng thành Bồ đề. Lúc đó Thắng Lâm Bồ tát thừa oai lực của Phật,quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Ví như tháng mạnh hạ Tạnh ráo không mây mù Mặt trời phóng quang huy Thập phương đều sáng chói. Quang minh không hạn lượng Không ai lường biết được Người mắt sáng còn vậy Huống là kẻ mù lòa. Chư Phật cũng như vậy Công đức vô biên tế Bất khả tư nghị kiếp Chẳng thể phân biệt biết. Các pháp không lai xứ Cũng không có tác giả Cũng không từ đâu sanh Chẳng thể phân biệt được. Tất cả pháp không đến Vì thế nên không sanh Vì đã không có sanh Nên cũng không có diệt. Tất cả pháp vô sanh Tất cả pháp vô diệt Nếu biết được như vậy Người này thấy được Phật. Vì các pháp vô sanh Nên không có tự tánh Phân biệt biết như vậy Người này đạt thâm nghĩa. Do vì pháp vô tánh Không thể rõ biết được Nơi pháp hiểu như vậy Rốt ráo không chỗ hiểu. Nói rằng có sanh đó Bởi hiện các quốc độ Biết được tánh quốc độ Thời tâm không mê hoặc. Tánh quốc độ thế gian Quan sát đều như thật Nếu nơi đây biết được Khéo nói tất cả nghĩa. Vô Úy Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Thân Như Lai rộng lớn Rốt ráo nơi pháp giới Chẳng rời bửu tòa này Mà khắp tất cả chỗ. Nếu ai nghe pháp này Mà cung kính tin ưa Rời hẳn ba ác đạo Tất cả những khổ nạn. Giả sử như có người Qua vô lượng thế giới Chuyên tâm muốn được nghe Sức tự tại của Phật, Những Phật pháp như vậy Là vô thượng Bồ đề Giả sử muốn tạm nghe Không ai có thể được. Nếu ai thời quá khứ Tin Phật pháp như vậy Ðã thành Lưỡng Túc Tôn Làm đèn sáng thế gian. Nếu ai sẽ được nghe Sức tự tại của Phật Nghe rồi có lòng tin Người này sẽ thành Phật. Nếu có người hiện tại Tin được Phật pháp này Cũng sẽ thành chánh giác Thuyết pháp vô sở úy. Vô lượng vô số kiếp Pháp này rất khó gặp Nếu có người được nghe Là do bổn nguyện lực. Nếu ai thọ trì được Những Phật pháp như vậy Trì xong rộng tuyên thuyết Người này sẽ thành Phật. Huống là siêng tinh tấn Lòng kiên cố chẳng bỏ Nên biết người như vậy Quyết định thành Bồ đề. Lúc đó Tàm Quý Lâm Bồ tát, thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Nếu ai được nghe pháp Hi hữu tự tại này Sanh được lòng hoan hỷ Chóng trừ lưới si lầm. Bực thấy biết tất cả Tự nói lời như vầy Phật không gì chẳng biết Vì thế khó nghĩ bàn. Không có từ vô trí Mà sanh ra trí huệ, Thế gian thường tối tăm Nên không thể sanh được. Như sắc và phi sắc Hai đây chẳng là một Trí vô trí cũng vậy Thể nó đều sai biệt. Như tướng cùng vô tướng Sanh tử với niết bàn Phân biệt đều chẳng đồng Trí, vô trí cũng vậy. Thế giới mới thành lập Không có tướng bại hoại Trí, vô trí cũng vậy Hai thứ chẳng đồng thời. Như Bồ tát sơ tâm Chẳng chung với hậu tâm Trí, vô trí cũng vậy Hai tâm chẳng đồng thời. Ví như những thức thân Ðều riêng không hòa hiệp Trí, vô trí cũng vậy Rốt ráo không hòa hiệp. Như thuốc a già đà Hay diệt tất cả độc Có trí cũng như vậy Hay diệt sự vô trí. Như Lai không ai trên Cũng không ai sánh bằng Tất cả không so được Thế nên khó gặp gỡ. Tinh Tấn Lâm Bồ tát, thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Các pháp vô sai biệt Không ai biết được đó Chỉ Phật cùng Phật biết Vì trí huệ rốt ráo. Như vàng và màu vàng Tánh nó vô sai biệt Pháp phi pháp cũng vậy Thể tánh vốn chẳng khác Chúng sanh phi chúng sanh Hai đều không chơn thật Như vậy các pháp tánh Thật nghĩa đều chẳng có. Ví như thời vị lai Không có tướng quá khứ Các pháp cũng như vậy Không có tất cả tướng. Ví như tướng sanh diệt Các thứ đều chẳng thiệt Các pháp đều cũng vậy Tự tánh vốn không có. Niết bàn bất khả thủ Thời gian nói có hai Các pháp cũng như vậy Phân biệt có sai khác. Như nương vật bị đếm Mà có cái hay đếm Tánh kia vốn không có Nên rõ pháp như vậy. Ví như pháp toán số Thêm một đến vô lượng Phép đếm không thể tánh Vì trí nên sai khác. Ví như các thế gian Kiếp hỏa có hư diệt Hư không chẳng tổn hư Phật trí cũng như vậy. Như thập phương chúng sanh Ðều lấy tướng hư không, Chư Phật cũng như vậy Thế gian vọng phân biệt. Lúc đó Lực Lâm Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Tất cả chúng sanh giới Ðều ở trong ba thời, Những chúng sanh ba thời Ðều ở trong ngũ uẩn. Nghiệp là gốc của uẩn Tâm là gốc các nghiệp Tâm đó dường như huyễn Thế gian cũng như vậy. Thế gian chẳng tự làm Chẳng phải cái khác làm Mà nó được có thành Cũng lại được có hoại. Thế gian dầu có thành Thế gian dầu có hoại Người rõ thấu thế gian Chẳng nên nói hai việc. Thế nào là thế gian Thế nào phi thế gian Thế gian phi thế gian Chỉ là tên sai khác! Tam thế và ngũ uẩn Nói gọi là thế gian Nói diệt là phi thế Như vậy chỉ giả danh. Sao gọi là các uẩn Các uẩn có tánh gì Tánh uẩn chẳng diệt được Vì vậy nói vô sanh. Phân biệt các uẩn này Tánh nó vốn không tịch Vì không, nên chẳng diệt Ðây là nghĩa vô sanh. Chúng sanh đã như vậy Chư Phật cũng như vậy Phật và các Phật pháp Tự tánh vốn không có. Biết được các pháp này Như thật không điên đảo. Người thấy biết tất cả Thường thấy ở nơi trước. Hạnh Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Ví như mười phương cõi Tất cả những địa chủng Tự tánh vốn không có Không chỗ nào chẳng khắp. Thân Phật cũng như vậy Cùng khắp các thế giới Những sắc tướng sai khác Không dừng, không chỗ đến. Chỉ do vì các nghiệp Nói tên là chúng sanh Cũng chẳng lìa chúng sanh Mà có được các nghiệp. Nghiệp tánh vốn không tịch Chúng sanh chỗ y chỉ Khắp làm các hình sắc Cũng lại không chỗ đến. Những hình sắc như vậy Nghiệp lực khó nghĩ bàn Liễu đạt căn bổn kia Nơi trong, không chỗ thấy. Thân Phật cũng như vậy Chẳng thể nghĩ bàn được Những sắc tướng sai khác Hiện khắp mười phương cõi Thân chẳng phải là Phật Phật cũng chẳng phải thân Chỉ lấy pháp làm thân Thông đạt tất cả pháp. Nếu thấy được thân Phật Thanh tịnh như pháp tánh Với tất cả Phật pháp Người này không nghi lầm. Nếu thấy tất cả pháp Bổn tánh như niết bàn Ðây thời thấy Như Lai Rốt ráo vô sở trụ. Nếu tu tập chánh niệm Sáng tỏ thấy chánh giác Vô tướng, vô phân biệt Ðây gọi Pháp Vương Tử. Lúc đó Giác Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Ví như họa sư kia Phân bố những màu sắc Hư vọng lấy dị tướng Ðại chủng không sai khác. Trong đại chủng không sắc Trong sắc không đại chủng Cũng chẳng ngoài đại chủng Mà có được màu sắc. Trong tâm, không màu vẽ Trong màu vẽ, không tâm Nhưng chẳng rời nơi tâm Mà có được màu vẽ. Tâm đó luôn chẳng trụ Vô lượng khó nghĩ bàn Thị hiện tất cả sắc Ðều riêng chẳng biết nhau. Ví như nhà họa sư Chẳng biết được tự tâm Mà do tâm nên vẽ Các pháp tánh như vậy. Tâm như nhà họa sư Hay vẽ những thế gian Ngũ uẩn từ tâm sanh Không pháp gì chẳng tạo. Như tâm, Phật cũng như vậy Như Phật, chúng sanh đồng Phải biết Phật cùng tâm Thể tánh đều vô tận. Nếu người biết tâm hành Bảo khắp các thế gian Người này thời thấy Phật Rõ Phật chơn thật tánh. Tâm chẳng trụ nơi thân Thân chẳng trụ nơi tâm Mà làm được Phật sự Tự tại chưa từng có. Nếu người muốn rõ biết Tất cả Phật ba đời Phải quán pháp giới tánh Tất cả duy tâm tạo. Trí Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Sở thủ chẳng thể lấy Sở kiến chẳng thể thấy Sở văn chẳng thể nghe Nhứt tâm bất tư nghị. Hữu lượng và vô lượng Cả hai chẳng thể lấy Nếu có ai muốn lấy Rốt ráo chẳng thể được. Chẳng nên nói mà nói Ðây là tự khi dối Việc mình chẳng thành tựu Chẳng khiến chúng vui mừng. Có người muốn khen Phật Vô biên diệu sắc thân Tận cả vô số kiếp Không kể thuật hết được. Ví như châu như ý Hay hiện tất cả màu Không màu mà hiện màu Chư Phật cũng như vậy. Lại như hư không sạch Phi sắc, chẳng thấy được Dầu hiện tất cả sắc Không ai thấy hư không. Chư Phật cũng như vậy Hiện khắp vô lượng sắc Chẳng phải cảnh của tâm Tất cả chẳng thấy được. Dầu nghe tiếng Như Lai Âm thinh chẳng phải Phật Cũng chẳng ngoài âm thinh Biết được đấng Chánh Giác. Bồ đề không lai khứ Lìa tất cả phân biệt Thế nào ở trong đó Tự nói là thấy được. Chư Phật không có pháp Phật chỗ nào có nói, Chỉ theo tự tâm chúng Cho rằng Phật nói pháp./.
|


