| V.17 Pháp hội Phú-lâu-na |
|
|
|
| Kinh bộ bắc truyền - Kinh Đại Bảo Tích | |||||||||
| Viết bởi Thích Trí Tịnh | |||||||||
Trang 1 của 3 Phú Lâu Na bạch Thế Tôn! Nay tôi vì chư Đại sĩ mà hỏi sự như vậy. "Bồ tát tu tập đa văn như biển cả chẳng cạn hết thế nào? Hay chứa họp đa văn bửu tạng hay ở các pháp được nghĩa quyết định ở các ngữ ngôn giỏi rõ chương cú thế nào? Bạch Thế Tôn! Nay tôi tùy theo trí lực của tự địa mà thỉnh hỏi đức Như Lai và chư đại Bồ tát thế nào được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề?" Kinh Đại Bảo Tích Tập VViệt dịch: Hòa thượng Thích Trí Tịnh(Trọn bộ 9 tập)Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành – PL. 2538 – DL. 1994Mục lục Tập VChương XVII: PHÁP HỘI PHÚ LÂU NA - THỨ MƯỜI BẢY Phẩm Bồ Tát Hạnh – Thứ Nhứt Phẩm Đa Văn – Thứ Hai Phẩm Bất Thối – Thứ Ba Phẩm Cụ Thiện Căn – Thứ Tư Phẩm Thần Thông Lực – Thứ Năm Phẩm Đại Bi – Thứ Sáu Phẩm Đáp Nạn – Thứ Bảy Phẩm Phú Lâu Na – Thứ Tám Chương XVIII: PHÁP HỘI HỘ QUỐC BỒ TÁT - THỨ MƯỜI TÁM Chương XIX: PHÁP HỘI ÚC GIÀ TRƯỞNG GIẢ - THỨ MƯỜI CHÍN Chương XX: PHÁP HỘI VÔ TẬN PHỤC TẠNG - THỨ HAI MƯƠI Chương XXI: PHÁP HỘI THỌ KÝ ẢO SƯ BẠT ĐÀ LA - THỨ HAI MƯƠI MỐT Chương XXII: PHÁP HỘI ĐẠI THẦN BIẾN - THỨ HAI MƯƠI HAI Chương XXIII: PHÁP HỘI MA HA CA DIẾP - THỨ HAI MƯƠI BA Chương XXIV: PHÁP HỘI ƯU BA LY - THỨ HAI MƯƠI BỐN Chương XXV: PHÁP HỘI PHÁT THẮNG CHÍ NGUYỆN - THỨ HAI MƯƠI LĂM Chương XVII: PHÁP HỘI PHÚ LÂU NA - THỨ MƯỜI BẢYHán dịch: Dao Tần, Pháp sư Cưu Ma La Thập.Việt dịch: Việt Nam, Tỳ kheo Thích Trí Tịnh.PHẨM BỒ TÁT HẠNH - THỨ NHỨTNhư vầy tôi nghe một lúc đức Phật trong Trúc Viên thành Vương Xá cùng câu hội với chư đại Tỳ kheo và chư đại Bồ tát số ấy đông vô lượng. Bấy giờ Huệ Mạng Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử từ chỗ ngồi đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tôi muốn hỏi ít lời mong Như Lai xót thương hứa cho.” Đức Phật phán: “Tùy ý ông hỏi, ta sẽ giải đáp cho ông vui mừng.” Tôn giả Phú Lâu Na bạch đức Phật: “Nay tôi vì chư đại Bồ tát là những người thật hành công đức cao thượng danh tiếng cao xa thường vì chúng sanh cầu sự an vui mà có lời thỉnh hỏi.” Huệ Mạng Phú Lâu Na nói kệ rằng: “Làm công đức tối thượng Danh tiếng rất cao xa Người giới tịnh ưa pháp Tôi hỏi sở hành ấy Sửa trị tâm thế nào Rộng bố thí thế nào Độ chúng sanh thế nào Hỉ tâm thường hành đạo. Bạch Thế Tôn! Nay tôi vì chư Đại sĩ mà hỏi sự như vậy. Bồ tát tu tập đa văn như biển cả chẳng cạn hết thế nào? Hay chứa họp đa văn bửu tạng hay ở các pháp được nghĩa quyết định ở các ngữ ngôn giỏi rõ chương cú thế nào? Bồ tát thế nào cầu Đa văn như biển cả Nơi pháp được định nghĩa Hay giỏi biết Phật đạo Thế nào ở một lời Mà hiểu vô lượng nghĩa Hay dùng sức trí huệ Thông đạt tất cả pháp Đa văn vô cùng tận Gạn hỏi lòng chẳng động Xót thương mà thuyết pháp Để dứt chúng sanh nghi. Bạch Thế Tôn! Nay tôi tùy theo trí lực của tự địa mà thỉnh hỏi đức Như Lai và chư đại Bồ tát thế nào được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề? Thế nào rời lìa nạn Được gặp gỡ chư Phật Mau được tin thanh tịnh Được tin Vô thượng rồi Bỏ được sự khó bỏ Vứt bỏ tất cả rồi Gắng tu đạo vô ngại Thế nào ưa xuất gia Nhàn tĩnh tu không trí Thế nào chẳng nghịch pháp Mong đáp đủ sự ấy. Bạch Thế Tôn! Chúng tôi đều biết đức Phật đã đủ tất cả trí huệ đã trọn tất cả Thần thông Ba la mật, ở trong tam giới là cao tôn đệ nhứt không ai sánh được, đại trí vi diệu đi không chướng ngại nơi trong các pháp, vì thế nên nay tôi thỉnh hỏi sự ấy. Phật đủ thượng công đức Đã vượt bờ thần thông Được trí không chướng ngại Tôi vì Bồ tát hỏi Giỏi học tất cả pháp Công đức rất cao thắng Phá tối sanh huệ sáng Khiến chúng đều hoan hỉ Oán thân không ghét thương Không lo không khi dối Đại chiến thắng vua chết Dẹp phá chúng quân ma Chẳng cầm nơi dao gậy Hàng phục các oán địch Thường có lòng từ bi Bền giữ giới thanh tịnh Thế Tôn không siểm khúc Không mạn không cợt đùa Chứng được trí giải thoát Công đức rất tối thắng Như xưa chỗ hành đạo Thắng trí huệ đã được Mong nay vì tôi nói Tu thế nào được Phật.” Bấy giờ đức Phật bảo Ngài Phú Lâu Na rằng: “Lành thay tốt thay, ông có thể hỏi Phật sự như vậy. Lắng nghe suy nghĩ kỹ, sẽ vì ông mà nói chư Bồ tát phát tâm tu hành chứa họp Vô Lượng Phật pháp.” Đức Thế Tôn nói kệ rằng: “Nay ta nói Bồ tát Sơ phát tâm Bồ đề Thường dùng sức dũng mãnh Ưa làm đạo Bồ tát Sở hành của Bồ tát Các công hạnh thâm tâm Nơi Phật được thọ ký Sự ấy sẽ lược nói Thâm tâm lòng ưa pháp Vô lượng và vô biên Các thứ công hạnh tu Chẳng do một sự thành Hỉ tâm đã sung mãn Mà thật hành bố thí Thí xong lòng không hối Trong tâm càng vui mừng Bồ tát suy nghĩ rằng Chúng sanh thường nghèo cùng Không có của đa văn Tôi sẽ cầu cho họ Chúng sanh thường nghèo cùng Đều do nơi giải đãi Tôi sẽ siêng tinh tiến Từ đó được Bồ đề Tôi sẽ vì chúng sanh Gia tâm tu nhẫn nhục Mắng nhiếc chửi đánh chém Nín nhận chẳng hề báo Sẽ nghĩ ai mắng tôi Kẻ mắng bất khả đắc Người mạ lị sân hận Thảy đều là không sự Suy nghĩ như vậy rồi Lòng không có giận hờn Thường tu hành nhẫn nhục Do đây thành Phật đạo Chúng sanh không tâm lành Vì họ tôi làm đèn Cho họ có chỗ về Không của cho họ của Chúng sanh đáng xót thương Đều cùng đi đường tà Tôi sẽ độ thoát họ Khiến an trụ Niết bàn Chúng sanh đều nghèo cùng Không có của trí huệ Tôi được Nhứt thiết trí Khiến họ được sung túc Chư Bồ tát như vậy Vì độ chúng sanh nên Phát tâm cầu Bồ đề Hành các nguyện như vậy. Này Phú Lâu Na! Chư đại Bồ tát nhiều thứ nhơn duyên thị hiện tâm mình chẳng trụ một pháp nào cả. Tại sao vậy? Vì chư đại Bồ tát học tất cả pháp rồi sau đắc đạo. Bồ tát có bốn sự hi hữu, chẳng thấy có pháp khác hơn sự ấy. Những gì là bốn? Bồ tát có thể ở nơi chúng sanh giải đãi mà siêng tu hành tinh tấn, đây gọi là sự hi hữu thứ nhứt. Bồ tát có thể ở giữa chúng sanh ngang ngược giận thù mà siêng tu hành nhẫn nhục, đây gọi là sự hi hữu thứ hai. Bồ tát thấy các chúng sanh đi đường tà mà tự mình siêng tu hành chánh đạo, đây gọi là sự hi hữu thứ ba. Bồ tát vì độ chúng sanh chuyển khỏi sanh tử mà dùng thâm tâm phát Vô thượng Bồ đề, đây gọi là sự hi hữu thứ tư. Bốn sự trên đây gọi là bốn sự hi hữu tối đại của Bồ tát.” Đức Thế Tôn nói kệ rằng: “Thấy chúng sanh giải đãi Lòng siêng tu tinh tấn Tôi chẳng nên theo họ Mà làm sự phi pháp Chẳng bắt chước giận thù Phật đạo chẳng giận thù Thường tu tâm từ bi Bồ đề từ đó sanh Chúng sanh ưa đường tà Y chỉ nơi tà đạo Bồ tát cầu chánh đạo Khiến người tu nẻo chánh Thấy lỗi họa sanh tử Nhứt tâm cầu Phật trí Tôi được pháp Vô thượng Sẽ độ các chúng sanh Bốn sự hi hữu ấy Sự khác không hơn được Do đây nên phải biết Được rời pháp chướng ngại Giả như áo mặc cháy Đầu cháy còn chẳng chữa Lòng giải đãi nếu khởi Liền phải mau trừ diệt. Này Phú Lâu Na! Bồ tát có bốn sự hay sanh tâm hỉ. Những gì là bốn? Một là thấy các chúng sanh ở trong sanh tử chẳng tinh tấn được. Bồ tát tự thấy mình ở trong Phật đạo tu hành tinh tấn bèn sanh hỉ tâm. Hai là thấy các chúng sanh lòng họ thường giải đãi, Bồ tát tự thấy mình ở trong Phật pháp tu tinh tấn nên sanh hỉ tâm. Ba là thấy các chúng sanh sân hận tật đố, Bồ tát tự thấy mình không sân không đố thường có lòng từ bi nên sanh hỉ tâm. Bốn là Bồ tát chẳng thấy người khác siêng tu Phật pháp bằng mình nên sanh hỉ tâm.” Đức Thế Tôn nói kệ rằng: “Thấy chúng sanh giải đãi Tự mình tu tinh tấn Vì thế Bồ tát này Tự sanh lòng vui sướng Thấy sanh tử lỗi họa Mà sanh lòng chán lìa Kinh sợ ngục tam giới Lòng siêng cầu bỏ lìa Chúng sanh ưa giận thù Tự mình thường từ bi Vì thế Bồ tát này Lòng luôn khởi vui vẻ Các việc chúng sanh làm Thường là việc chẳng nên Vì thế Bồ tát cầu Phật đạo tối Vô thượng Đây gọi là thiệt trí Được chư Phật khen ngợi Bồ tát học trí này Làm chỗ về cho chúng Vì thế Bồ tát này Thường được lòng vui mừng Từ hữu vi hư ngụy Thường sanh pháp chân thiệt. Lại này Phú Lâu Na! Bồ tát có bốn pháp xa lìa được các nạn mà gặp chỗ không nạn, được gặp rồi không mất có thể tu hành Phật pháp. Những gì là bốn? Một là Bồ tát khiêm tốn dịu hòa, hễ thấy người thì chào hỏi trước, hòa nhan vui vẻ cùng họ nói chuyện, lúc nói luôn mỉm cười. Hai là Bồ tát nhứt tâm cầu pháp thường ưa thưa hỏi siêng cầu học hiểu không hề nhàm đủ. Ba là Bồ tát thường thích rảnh rang vắng vẻ một mình. Bốn là tự mình an trụ đạo Vô thượng Bồ đề cũng giáo hóa chúng sanh an trụ Phật đạo. Bồ tát có bốn pháp trên đây nên được khỏi các nạn gặp được chỗ không nạn, gặp rồi chẳng mất có thể tu hành Phật pháp.” Đức Thế Tôn nói kệ rằng: “Trong lòng luôn hòa dịu Thường ưa làm từ bi Lúc cùng người nói chuyện Khiêm tốn vui mỉm cười Thường cầu pháp thâm diệu Được chư Phật khen ngợi Luôn giữ giới thanh tịnh Ưa tu hạnh đầu đà Dầu tu hạnh đầu đà Cũng tu trí thâm diệu Vì thế Bồ tát này Lìa nạn gặp không nạn Thường ở trước chư Phật Thỉnh hỏi những pháp sâu Do đó trí huệ tăng Chẳng sanh vào chỗ nạn Thường thích ở vắng rảnh Thanh tịnh tu đầu đà Vì thế Bồ tát này Lìa nạn gặp không nạn Những người có trí huệ Thân cận bốn pháp này Lìa được tất cả nạn Thường được gặp chư Phật Được gặp chư Phật rồi Có đủ bất hoại tín Hay phát thượng tinh tấn Để cầu Phật trí huệ Vì thế người cầu trí Phải nên học chánh pháp Nếu hay học chánh pháp Được thành Phật chẳng khó.” PHÁP HỘI PHÚ LÂU NAPHẨM ĐA VĂN - THỨ HAIĐức Thế Tôn bảo Ngài Phú Lâu Na: “Bồ tát có bốn pháp thì hay tu tập đa văn bửu tạng, hay ở nơi các pháp được nghĩa quyết định, hay ở nơi các ngữ ngôn giỏi biết chương cú, dường như đại hải chẳng cạn hết được. Những gì là bốn? Một là Bồ tát cầu học mười hai bộ kinh, cầu học rồi đọc tụng, đọc tụng rồi ghi nhớ, ghi nhớ đúng rồi thật hành theo. Hai là Bồ tát ở trong tất cả pháp không y chỉ, dầu nhập thiền định mà không sở y chỉ, vì không sở y nên ở trong các pháp được trí bất trụ, được trí bất trụ rồi ở trong các pháp được tri kiến vô ngại, tại sao vậy, vì không có pháp bị tham làm chướng ngại vậy. Ba là Bồ tát do pháp nhơn duyên mà niệm Phật và niệm Pháp. Lúc niệm Phật và niệm Pháp, Bồ tát chẳng thấy có pháp được tham ưa. Vì chẳng tham ưa nên ở nơi tất cả pháp lòng không nắm lấy. Vì không chấp trước tất cả pháp nên Bồ tát ở nơi sự vấn đáp đều không chướng ngại. Bốn là Bồ tát thành tựu, vô sở đắc từ ở nơi việc làm đều vô ngại. Vô sở đắc từ là chẳng nhận thọ các sự tướng, tại sao vậy, vì nếu trụ tướng này hay trụ tướng kia thì hoặc sanh tham dục hoặc sanh sân khuể hoặc sanh ngu si, trụ tướng, sự tướng, vật tướng, ấm tướng, nhập tướng, giới tướng, pháp tướng phi pháp đều hoặc sanh tham dục sân khuể ngu si. Phàm có nhận thọ sự tướng đều gọi là tà kiến. Bồ tát đều diệt tất cả tướng mà tu tập từ tâm vậy. Vì chúng sanh bại hoại nên tướng cũng bại hoại, vì tướng bại hoại nên sự cũng bại hoại, vì sự bại hoại nên kiến cũng bại hoại. Bấy giờ Bồ tát hoại tất cả pháp mà tu tập tâm từ. Từ như đây gọi là vô sở đắc từ, cũng gọi là Pháp từ và Phật từ. Tại sao gọi là Phật từ, vì vô tác vô hoại vậy, vì như thiệt thông đạt tất cả pháp vậy.” Ngài Phú Lâu Na bạch: “Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là như thiệt thông đạt tất cả pháp?” Đức Phật dạy: “Này Phú Lâu Na! Chỗ được thông đạt đó chẳng nói là thị pháp, chẳng nói là phi pháp. Tại sao vậy, vì nếu nói có pháp thì tức là phi pháp. Nếu ở nơi pháp hữu pháp vô mà không có phi pháp thì ở trong ấy không có hí luận, nếu không hí luận thì gọi là Niết bàn. Ông quan sát kỹ coi là cực viễn hay cực cận? - Bạch Thế Tôn! Chẳng xa chẳng gần. Tại sao, vì nghĩa như vậy không phương không xứ không nội không ngoại. - Này Phú Lâu Na! Đúng như vậy, đức Như Lai ở nơi pháp tác số. - Bạch Thế Tôn! Ở nơi pháp nào mà đức Như Lai vì nó tác số? - Này Phú Lâu Na! Như các phàm phu chấp trước các pháp, đức Như Lai chẳng được chẳng tu chẳng chứng chẳng thông đạt, pháp như vậy Như Lai vì nó tác số. Này Phú Lâu Na! Các pháp số ấy chẳng để phân biệt pháp vậy. Nay vì ông mà nói pháp tịch diệt đệ nhứt có thể nhiếp được Phật đạo. Này Phú Lâu Na! Đời sau có người ưa theo thế lợi, nếu nghe kinh này họ chẳng thích nghe nhận. Này Phú Lâu Na! Bồ đề này của Phật, các ông chỉ do âm thanh chương cú mà biết chút ít thôi, còn nghĩa thú trong ấy các ông chẳng biết. Nghĩa thú ấy sâu xa chẳng thể lấy lời mà tuyên bày được, chỉ có người trí mới có thể khế hội được thôi.” Đức Thế Tôn nói kệ rằng: “Người chẳng biết được nghĩa Nghe Phật pháp thì khổ Nếu người biết được nghĩa Phật làm thầy cho họ Người được Phật làm thầy Thì ưa cầu Niết bàn Không có lòng tránh tụng Hay suy gẫm chánh pháp Trong ấy không pháp sanh Cũng không có pháp diệt Không sanh cũng không diệt Là thiệt tướng các pháp Nếu pháp đã không sanh Thì không có tác khởi Thị phi cùng nhứt dị Trong pháp ấy đều không Đây gọi là Niết bàn Trong ấy không có diệt Nếu nói cực viễn cận Hai thứ ấy đều không Nếu người biết được không Thì gọi biết Niết bàn Nếu người biết Niết bàn Thì gọi đệ tử Phật. Này Phú Lâu Na! Bồ tát có bốn pháp này thì có thể tu tập đa văn bửu tạng, có thể ở nơi các pháp được quyết định nghĩa, ở nơi ngữ ngôn giỏi biết chương cú, dường như đại hải chẳng cạn hết được.” Đức Thế Tôn nói kệ rằng: “Thường muốn cầu đa văn Được chư Phật khen ngợi Được thiệt nghĩa quyết định Vì thế như đại hải Có thể trong một chữ Và với nghĩa một câu Suốt ngàn vạn ức kiếp Diễn nói mãi không hết Thế nên cầu chánh pháp Cầu được rồi suy gẫm Chớ tham lấy pháp tướng Chẳng tham được Phật khen Tưởng nhớ chư Như Lai Và nhớ nơi chánh pháp Chẳng dùng lòng tham tranh Mà cầu nơi Đạo sư Thường nơi các chúng sanh Tu hành lòng từ mẫn Mà chẳng chấp chúng sanh Tan diệt tất cả pháp Bồ tát danh tiếng lớn Tu tập pháp như vậy Mau được Đà la ni Đa văn từ đây sanh Dường như tánh hư không Không tăng cũng không giảm Pháp tánh cũng như vậy Không tăng và không giảm Phật dùng sức trí huệ Thuyết pháp vô lượng kiếp Thuyết pháp vô lượng số Còn chẳng gọi là thuyết Hết các tánh chúng sanh Đều khiến được thân người Đều cùng tu xuất gia Đa văn như A Nan Đà la ni Bồ tát Vì tất cả người ấy Thuyết pháp ngàn ức kiếp Trí huệ vẫn chẳng hết Phật trí huệ vô đẳng Đồng hư không vô lượng Hư không không sanh khởi Trí huệ cũng như vậy Như rồng chẳng lấy nước Mà hay mưa nhiều nước Nước ấy không chỗ trụ Mưa xuống không cùng tận Bồ tát cũng như vậy Được Đà la ni này Các pháp không chỗ trụ Thuyết pháp không cùng tận Thế nên cầu đa văn Cầu rồi chánh tư duy Dùng pháp duyên niệm Phật Đa văn từ đây sanh Lòng từ khắp chúng sanh Tan diệt tướng chúng sanh Cũng diệt các pháp tướng Đa văn từ đây sanh.”
|
|||||||||


