Đại Tạng Kinh Việt Nam Là trang Web mở, nơi bạn và chúng tôi cùng biên tập Tam Tạng Kinh Phật Giáo Việt Nam: Kinh Luật Luận, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Văn hóa Phật giáo, Thiền nguyên thủy, Thiền công án, Tịnh độ tông, Mật tông, Thiền tông Việt Nam, Nhân vật Phật giáo Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc 2008 … mục đích bảo tồn văn hóa của tổ tiên dân tộc. Diễn đàn Phật pháp, Pháp môn Niệm Phật Pháp Cơ Bản, Tu Mật Tông Tây Tạng, Nghệ Thuật Phật Giáo, Đạo Phật Việt Nam, Phật giáo và dân tộc, Gia đình phật tử Việt Nam, dai tang kinh Viet Nam, tam tang kinh dien, tu mat tong tay tang, Thien Tong Viet Nam, tinh do tong, thien cong an, niem Phat phap, tu dien bach khoa toan thu phat giao Viet Nam, chua Viet Nam, Tue Sy, Le Manh That http://daitangkinhvietnam.org/component/content/frontpage.html Fri, 30 Jul 2010 17:02:31 +0000 Joomla! 1.5 - Open Source Content Management vi-vn MỘT ĐỜI CŨNG TU - MỘT NGÀY CŨNG TU http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6474-mot-doi-cung-tu-mot-ngay-cung-tu.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6474-mot-doi-cung-tu-mot-ngay-cung-tu.html Mặc dù được sinh ra trong một gia đình chịu ảnh hưởng sâu sắc Triết-giáo Khổng-Mạnh, lại từ nhỏ đã ham thích học thuyết Lão-Trang, nhưng có lẽ, hoặc vì kém duyên bạc phước hoặc do tâm trí ngu tối, nên tôi đã không thâm nhập được vào cái phần uyên áo cao viễn của Khổng-học (phần Hình-nhi-thượng), cũng như chỗ tinh tuý ảo diệu trong huyền học Lão-Trang. Bỡi thế, trong suốt một thời gian dài trực diện cuộc đời, tôi đành phải dừng lại ở chỗ chỉ học được cái phần dụng (phần Hình-nhi-hạ) tức đạo lý để biết cách làm người, cũng là bài học thực hành về quan hệ đối đãi nhân sinh. 

Nghĩa là với triết lý thâm viễn, linh diệu bàn về căn nguyên sự sanh-hóa trong trời đất, tôi chỉ học được cái phần thô là "sanh" hiện thực ở ngay trước mắt để tự tạo dựng cho mình có mối quan hệ hòa hợp và hữu ích trong cộng đồng với người, với vạn vật mà không biết rành được cái phần vi tế là "hóa", cũng là cội nguồn nguyên uỷ muôn loài, trong đó có con người, nên đã không thể vượt qua được chính mình để tự thăng hoa bay bổng. Cái phần "hoá" ấy vượt quá phạm vi của việc làm người, cũng là chỗ vượt quá một đời người. Nói trong phạm vi hạn hẹp thì "hoá" ấy tồn tại phía trước và đằng sau sự hiện hữu của thân tâm này mà con người không thể thấy biết một cách rõ ràng, còn nói rộng ra, vượt lên tất thảy mọi hiện tượng và hình tướng, thì đó chính là bản thể, là cái thể tánh cội rễ của muôn loài mà từ đó muôn loài xuất sanh, nhưng tri thức, tình tưởng, giác quan không thể với tới được. Mỗi khi nghĩ tới phía sau của sự hiện hữu thân tâm này, hay nói một cách chính xác hơn, phía trước và sau không gian và thời gian mà mình đang thực tại, thì là gì, đã và sẽ như thế nào, ra sao, khiến tôi thường giật mình, thót tim âu lo cho số phận, vì hoàn toàn mờ mịt trong việc đến đi. 

Cũng vì lẽ ấy mà trải qua nhiều năm tháng, tôi thường khắc khoải và tự làm khổ mình với những câu hỏi đại loại như "mình từ đâu đến?", "đến để làm gì?", "rồi sẽ đi về đâu?". Tôi âm thầm đánh vật với những thắc mắc như thế trong nỗi khao khát mong chờ có được một lời đáp minh bạch để tự thoả mãn, cũng là để thoát khỏi xung đột của nội tâm, hoặc chí ít khiến lòng mình có thể tạm an ổn, thanh thản, hay không còn bị khó chịu về biết bao điều phi lý phát sinh tự chính thân tâm mình cũng như dẫy đầy nghịch lý và rối rắm của cuộc đời đem lại. Những câu hỏi ấy lẻo đẻo theo tôi như bóng theo hình. Có lúc vì bận rộn việc mưu sinh, cái đuôi bất đắc dĩ ấy tự dưng rơi đi hồi nào không hay. Nhưng hễ rảnh rổi giây lát để có thể lắng lòng suy tư, chiêm nghiệm về cái được gọi là cuộc đời, mà trong đó "mình" cũng là một thành viên đang tích cực tham gia, thì thoắt một cái, những dấu chấm hỏi kia hiện ra nhanh chóng đến không ngờ. 

Có thể nói, ngoài những thời khắc dành cho việc học hành lúc còn trẻ cũng như phần lớn thời gian sau đó phải bương chải để lo cho cuộc sống gia đình, trong những lúc chỉ có một mình, thân tâm an ổn, cảnh trí vắng lặng thì những câu hỏi kia lại thường hay xuất hiện. 

Câu hỏi ấy, có lúc như một lời mời gọi ngọt ngào, thầm khích lệ tôi hãy can đảm giũ bỏ lại phía sau tất cả những gì được cảm nhận như là sự trói buộc nặng nề, cũ kỹ, đầy phiền toái và phi lý để nhẹ nhàng vượt lên phía trước khám phá hay tìm lại một cái gì đó như vừa mới đánh mất đâu đây. Cái gì đó có lúc xuất hiện một cách loáng thoáng trong tôi, như một giấc mơ êm đềm sâu thẳm trong cổ tích, nửa như lạ lẫm chưa hề thấy biết, nửa như với mình đã từng chung cùng một chỗ tự thuở xa xăm nào, trong tính cách thần thoại, phi thường, đầy an ổn và ẩn mật, khó nói nên lời. 

Đôi khi cũng câu hỏi ấy nhưng lại bất chợt đến với tôi như roi vọt, thẳng tay quất mạnh không thương tiếc vào khoảng không mênh mang của hình hài tâm thức, bị tra tấn hành hạ, đớn đau thấm thía trong tận cùng ý nghĩ của một nỗi dằn vặt vì sự nuối tiếc mơ hồ nào đó. Sự nuối tiếc được loáng thoáng cảm nhận như một lỗi lầm trọng đại từ phía sau lưng. Tự chỗ đang-là nhất thể uyên nguyên, tinh khiết, sáng trong, hốt nhiên một chút ý tưởng mong manh nào đó nhen nhúm, từ một chốn mơ hồ nào đó đưa lại, hình thành nên lỗi lầm, tiếc nuối; rồi từng chuỗi tiếc nuối vừa mới đan xen nhau đó, hốt nhiên lại phân ly, tan lỗng, nhạt nhòa. Giống như quang cảnh bầu trời đang xanh ngắt, trong veo thình lình không biết từ đâu một áng mây bất nhiên ùn ùn xuất hiện, trong thoắc chốc không ngớt tự biến ra trăm hình ngàn vẻ, rồi bỗng nhiên lại phân ly từng sợi mỏng manh, tan biến vào hư không. Cũng thế, một mảnh lỗi lầm từ trong chỗ uyên nguyên bất giác rách toạt, xé rời, đơn lẻ, phân ly. Mảnh ý tưởng lầm lỗi bị phân ly có trọn đủ tánh nguyên ủy, tức khắc tự trở thành cái được chính nó ý thức một cách đương nhiên như là chủ thể độc lập, tức cái "ta", cái "mình", đơn độc, xa lạ, nặng nề, u ám, mơ hồ, lẫn lộn, bất định, tự xung đột, đầy trói buộc, mất tự chủ, trong một thế giới bồng bềnh, trôi nổi mà cái gì cũng đều là tương đối, đều có ranh giới cả. 

Tri thức và kinh nghiệm từ việc học không giải quyết được các xung đột nội tâm của mình, cộng với không biết bao nhiêu điều phi lý tác động từ bên ngoài, chen lẫn từng lớp sương mờ của tâm thức, cũng là những ký ức mơ màng hư ảo, như có như không trong chỗ xa xăm muôn thuở nào, vào ra khuấy động, khiến nhiều lần tôi phải tự tra vấn về chính thân phận mình, rằng thiệt mình là ai, từ đâu đến, đến để làm gì, lại sẽ đi về đâu?

Trong gần nửa cuộc đời, tôi không biết đã có bao nhiêu lần cùng với nhiều người khác vui vẻ đón chào sự hiện diện của những đồng loại thân thương đến với cuộc trần này, được đánh dấu và ghi nhớ bằng hình ảnh của những bữa tiệc mừng đầy tháng, thôi nôi, sinh nhật hân hoan rộn rã, cũng như không kể xiết là có bao nhiêu lần đã từng u buồn, lặng lẽ theo chân đoàn người tiễn đưa những người thân quen mãi mãi ra đi. 

Sao lại phải đến với tiếng khóc thét hoảng hốt giữa sự đón chào vui vẻ ồn ào của thế gian, rồi sao lại phải một mình âm thầm, lặng lẽ ra đi với sự tiễn đưa u buồn của những người không biết phải gọi là may mắn hay bất hạnh đang tạm thời còn ở lại, chưa đi, cũng như sẽ không thể không đi? Họ từ đâu đến và vừa đi về đâu? Ai bắt họ phải đến để rồi phải ra đi? Không ai có thể cho tôi một câu đáp thỗ đáng nào. Lần lần tôi cũng có chút khôn để tự nghiệm ra, rằng cũng giống như tôi, lúc mới đến không ai trong số họ biết tại sao mình lại đến, đến để làm gì; lúc sắp ra đi chẳng ai muốn đi, cũng như chẳng ai biết mình sẽ phải đi về đâu thì làm sao người ta có thể thố lộ cho tôi biết sự đến đi của họ như thế nào. Bỡi một điều quá dễ hiểu, là có thể trước khi hiện hữu nơi đây, tự mình cũng biết được đôi điều cần biết, nhưng mới sanh thì còn bé quá, chưa biết nói thì làm sao nói ra được cái điều mình đang biết. Đến lớn hơn một chút để có thể nói ra được rằng vì sao mình phải tới chốn này, thì khi ấy những gì mình muốn nói đã trôi theo tã lót tự đời nào rồi, đã quên mất những điều không đáng quên ấy ngay khi cái được gọi là "trí khôn" của mình xuất hiện. Khi cái được gọi là trí khôn, tức cái "biết" nhận thức lên từng sự vật bằng khái niệm, phân biệt và tập quán thế gian xuất hiện, thì cũng là lúc nó che lấp hết những gì mà mình đã từng nhớ biết trước đó . Rồi tới lúc đã thật sự biết mình đi đâu, làm gì, ra sao, thế nào thì khi ấy bằng cái xác cứng đơ, lạnh tanh, hết còn biết rục rịch thì ai trong đây có thể mở miệng được nữa mà đòi thố lộ cho biết. 

Sự an bài của tạo hóa về lẽ bí mật phía trước và đằng sau cuộc sống hiện hữu cũng là một điều hay. Bỡi nếu ai ai cũng đều có thể biết sự đến đi của mình, tức biết rõ quá khứ thế nào và vị lai sẽ ra sao, thì thế gian này ắc loạn mất. Nghĩa là người hiền ỷ lại vào phước đức sẵn có của mình ở thời quá khứ, nên đời này dễ đổ đốn, chỉ thích ăn chơi mà không cần tu học. Ngược lại những kẻ đã từng gieo nghiệp ác biết rõ tương lai của mình sẽ đi về đâu, thì lại càng buông thả phóng đãng hơn, có ra sao thì ra, vì hậu quả tất nhiên cũng đã tự sẵn biết, như điếc không còn biết sợ súng. Đến khi ấy cõi này đâu còn có sự cân bằng giữa thiện và ác nữa, đâu còn có thể gọi là cảnh giới có nhân có quả nữa, vì bóng đêm sẽ nhiều hơn ánh sáng, vì cái xấu ác dễ làm hơn điều thiện lành, do cái xấu ác dễ nhiễm dù không cần phải học, còn điều thiện lành thì chẳng những khó học mà còn khó làm hơn nữa! Từ đây, tôi tự rút ra cho mình được một bài học quí giá, tuy hơi muộn màng nhưng cũng không gọi là quá trễ, đó là xem cõi này đích thị là một trường học lớn để đào luyện cho từng người có cơ hội tự thăng hoa bay bổng, vượt lìa sự trói buộc của luật tắc nhơn quả. 

Tự soi rọi thân tâm mình mà có thể khẳng định rằng, dù căn cơ, trí tuệ, phước đức thế nào đi nữa mà nếu biết quyết chí tu học thì sớm hay muộn cũng đều có cơ bay bổng, giải thoát. Bằng không chịu tu học, hay chỉ tu hình thức, giãi đãi, tự dối lừa thì rất ít có cơ hội để tự giải thoát. Cái trường học này nhiệm mầu ở chỗ, người học cũng là mình, kẻ chấm cho mình đậu hay rớt, bay bổng hay đoạ lạc cũng là mình, mà không một ai khác có thể chen vào để thêm bớt hay nâng hạ cái kết quả thực tế của việc tu học ở mỗi người. 

Sau mỗi lần đón, đưa những kẻ đến người đi như thế, được ghi nhận như một lời nhắc nhở, thúc giục tôi phải tìm tòi, học hỏi để khám phá một bí mật nào đó ở phía trước, khiến tôi lại miên man suy nghĩ về chính thân phận mình, và lại tự hỏi, mình thiệt đã từ đâu đến và rồi sẽ đi về đâu? Tại sao tôi lại hiện hữu và phía sau sự hiện hữu kia, nghĩa là ở thời vị lai không còn hiện hữu nữa (chết), thì tôi sẽ như thế nào, ra sao? 

Chẳng lẽ ai đến với cuộc trần này trong khoảnh khắc ngắn ngủi trăm năm so với không gian vô cùng và thời gian vô tận trước mắt và sau lưng, cũng chỉ để hít thở rồi tắt thở với bấy nhiêu việc phàm tình như học hành, ăn ngủ, phân biệt phải trái, cao thấp, hơn thua, được mất, hoặc tích tập tư tài, tranh quyền đoạt lợi về cho mình và những gì được gọi là của mình ….vv… thôi hay sao. Giả như ai đó có được tất cả những gì "cầu được, ước thấy" kia rồi, thì sao nữa, có khỏi phải chết chăng, có khỏi phải xa lìa hai món danh lợi mà đôi khi có người phải suýt táng thân mất mạng để giành giật cho mình trước kia chăng? Đằng sau cái xác lạnh tanh xuôi tay, ngay cẳng, hết còn biết thở, hết còn biết rục rịch kia thì cái "tôi" to lớn mà mỗi người thường hay nhân danh, cũng như cái sự nói, nghe, thấy, biết thường nhật gắn bó với cái tôi ấy như bóng với hình, rồi sẽ là cái gì, ra sao, đi đâu, hoặc có còn tồn tại hay không, và tồn tại chỗ nào? Chẳng lẽ trên đời này không còn những thứ gì khác hơn là các món lợi danh vị kỷ, được thua, còn mất, có đó rồi không đó hay sao? Chẳng lẽ ai ai cũng đều hiện hữu chỉ để làm những việc cực kỳ vô nghĩa, vô lý, vô ích như vậy, rồi đến một lúc nào đó lại tự nhiên bất chợt buông tay, tự thả hết những gì mà mình đã từng xả thân tranh đoạt, gắng công kiếm tìm, tích góp trước đó, nếu không muốn nói là đành phải buông cả cái quí nhất được gọi là "tôi" mà ai ai cũng tự ấp yêu trìu mến từ lúc mới được sinh ra? Lại thêm những câu hỏi khó trả lời nữa, càng ngày càng vây bọc lấy tôi. 

Cho nên, không hiếm khi tôi thường tự hỏi, mình có muốn hiện diện ở chốn này đâu mà tự nhiên sao lại có mình hiện ra đây nhỉ? 

Thắc mắc được lập đi lập lại nhiều lần trong đời, và lần nào cũng vậy, sau một khoảng thời gian nhứt định, vì bổn phận và công việc cuốn hút, những trăn trở ấy dần dần tan biến vào lảng quên, không có hồi kết thúc với một lời đáp thỗ đáng nào, nhờ ở sự bằng lòng, yên phận, buông xuôi một cách tự nguyện, nếu không muốn nói là đã mất hết ý chí tìm tòi, khám phá ban đầu. 

Còn nói theo hai chữ "nhơn duyên" của nhà Phật, thì bản thân tôi gặp nhiều may mắn trong cuộc trần này. 

Nghĩa là, lần lữa đến tuổi năm mươi thì hình như duyên lành đã đến với tôi một cách bất ngờ. Giữa lúc gần như bất lực trong việc dàn xếp thỗ đáng cho những xung đột nội tâm; giữa lúc tôi như đang chới với một cách vô vọng và sắp sửa buông tay, phó mặc tương lai mờ mịt cho số phận an bài, thì tôi lại như người sắp chết đuối vớ nhằm chiếc phao. 

Trong nỗi khát khao mong chờ một đáp án hợp lý để giải quyết cách minh bạch sự đến đi của tự thân, cũng là hoài bão kiếm tìm cho tâm hồn mình sự an ổn khả dĩ có thể chấp nhận được mà từ bao năm qua hằng ấp ủ, thì một cơ duyên tốt lành đã bất ngờ đến với tôi, và tuy bất ngờ nhưng lại thật đúng lúc, đó là hai vị thầy tôn kính của tôi xuất hiện bên tôi trong cùng một thời điểm hợp lý. 

Tôi đến với hai Thầy như một ước duyên đã từng kết nguyện tự bao giờ. Như cơn mê chợt tỉnh, tôi liền tựa vào người vừa đánh thức tôi, hầu tìm sự bình ổn an lạc dài lâu cho tự thân. Rồi khi tự biết là không còn có cơ hội nào có thể tốt hơn thế nữa, ngay tức khắc, một sự kiện trọng đại dành cho những tháng ngày còn lại ít ỏi của cuộc đời mình đã được tôi nhanh chóng quyết định : tôi nhứt tâm qui hướng về với Phật đạo, tôi qui-y Tam-Bảo. 

Hai Thầy đã tuỳ duyên, kẻ trước người sau, mượn phương tiện tối thắng của Tổ, Phật khai tâm mở trí cho tôi, chỉ ra cho tôi hướng đi phía trước và khẳng định với tôi rằng, chỉ phải tự trông cậy vào chính bản thân mình, phải biết tự chèo chống để giúp mình vượt qua được chính mình (nương tựa 5 pháp yếu Giới, Định, Huệ, Tri-kiến Giải-thoát và Giải-thoát Tri-kiến Giải-thoát) thì mới có cơ thoát khổ mà thôi. 

Cái khổ được đề cập ở đây chính là cái khổ phải luân hồi sanh tử trong cảnh giới nhơn quả, cũng là tự trói buộc mình vào nhị nguyên phân biệt, mà nguyên nhân chính không gì khác hơn là do tự tâm vọng khởi, vọng chấp ngã-pháp. Vọng niệm chấp ngã chấp pháp, tưởng lầm ngã, pháp làm thật có, là tự mê mờ tuông chảy theo dòng vọng thức vô minh, là tự tạo vọng nghiệp sanh tử luân hồi, tự trói buộc vào cảnh giới vọng lập của ý thức khái niệm, là vướng mắc nhị nguyên nhơn quả. 

Cái chỗ phải tự vượt qua được chính mình ở đây, chính là vượt lìa sự trói buộc của nhị nguyên phân biệt, là tự phá trừ vọng chấp ngã-pháp, là tất thảy buông rơi tự do vào hố thẳm không đáy của tự tâm, cho đến cuối cùng không còn một chút niệm tưởng có chỗ nắm bắt hay buông bỏ nào, tức chơn tánh sáng suốt hiện tiền, mặc tình đến đi, cũng là tuỳ duyên thõng tay vào chợ. 

Phá trừ được vọng tâm chấp ngã, chấp pháp, vượt thoát sự trói buộc của nhị nguyên phân biệt, thì vô minh tan biến. Vô minh tan biến thì chơn tánh hiện tiền. Chơn tánh hiển hiện thì thật tánh vạn pháp phô bày, không gì che dấu, liền biết như thật, chỉ vì một sát-na trước tự tâm vọng niệm nên mới sanh cái thấy biết lầm (vọng biết, vọng thấy), mới lầm nhận các pháp vọng do vọng thức biến hiện làm thật có, mới vọng khởi khái niệm để phân biệt, mới thấy có vọng cảnh, vọng nghiệp đến đi, có cảnh giới nhơn quả, có sanh tử luân hồi trói buộc. Hốt nhiên tỉnh, cũng là giác tánh biết bổn lai, thì tánh biết "biết" như thật, tất thảy pháp đều là không, thật tướng vạn pháp không tướng, vô tự tánh (tức không có tánh riêng biệt nào), liền tự an ổn hiu nhiên, đến đi tự tại, vào ra nhơn quả chẳng khác là việc du hí thần thông, không chi ràng buộc.

Với những người sáng tánh biết, thì giả như có phải nhiều lần ra vào trong cảnh giới nhơn quả đi nữa thì cũng chỉ vì đại nguyện giác tha, hành Bồ-tát đạo mà cứu độ chúng sanh, cũng là cách trả ơn ba đời chư Phật mà thôi. Và dù ở trong nhơn quả mà nhơn quả cũng không thể trói buộc, vẫn tự chủ, tự tại, bỡi tự thể thường sáng suốt, không lầm nhơn quả .

Nhờ ánh sáng nhiệm mầu của Phật pháp, thêm một chút phước phần vốn sẵn được thừa hưởng từ cộng nghiệp và biệt nghiệp ở những đời trước và đời này do biết đạo lý làm người, nên sau một thời gian như pháp hành trì theo sự chỉ dạy của Pháp-sư, tôi lần lần cảm nhận và khám phá ra cái điều từ mà lâu hằng muốn biết để giải quyết một cách thỗ đáng sự đến đi của chính mình. Thì ra, chỉ vì một cái biết lầm lạc đầu tiên từ trong tận cùng gốc rễ của sự hiểu biết, tức một sự lầm biết sơ khai từ thuở mới biết làm người, đã khiến chúng sanh phải trôi lăn trong nghiệp thức nhơn quả. Chỗ biết lầm này không gì khác hơn là do vọng thức chấp ngã trói buộc nhơn quả như vừa nói ở trên. 

Nghĩa là phải sau một phần hai thế kỷ, tức hơn nửa đời người mà cả thân lẫn tâm cùng dẫn dắt nhau lang thang vô định với không biết bao nhiêu phiền não, xung đột nội tâm, cũng như dẫy đầy sự phi lý trong kiếp nhân sinh, tôi đã kịp dừng nghỉ đúng lúc để toàn tâm toàn ý lo cho việc "của mình". 

Sau một thời gian dừng nghỉ hết mọi việc, thân tâm trở nên vắng lặng, bình ổn, giống như một ly nước để yên lâu ngày, cáu cặn lắng đọng và trở nên trong trẻo, tôi phảng phất nhận ra một điều là từ lâu, từ rất lâu rồi, từ lâu trong chỗ xa xăm nào đó, ở phía bên kia lớp gương dày đặc, nhạt nhòa, mờ ảo, nửa thật nửa hư của tâm thức, tự chính mình đã có sự lầm lạc. Một sự lầm lạc trong hiểu biết hết sức phi lý. Và tuy vẫn biết là như thế, nhưng tự mình lại không thể xác định được một cách rõ ràng là phi lý ở chỗ nào và tại sao, bỡi vì loáng thoáng một cách mơ hồ, hình như từ chính nơi cái biết mà mình đang tự biết là có sự lầm biết kia, thì cả hai cái biết ấy dường như chỉ một, không thể bứt tách ra khỏi nhau được. Nghĩa là không thể gọi cái vừa mới biết "tự biết lầm lạc" mà lúc gần lúc xa, thoắt ẩn thoắt hiện từ phía trên mi, trước mỏ ác là thật có hay không thật có và cái chỗ biết ấy là gì, quan hệ ra sao với cái biết mà ta thường quen "biết" từ lúc vừa mới có chút trí khôn để biết. Hay nói rõ hơn, đôi khi trong những lúc chỉ có một mình, bình tâm, an ổn, vắng lặng, thường tự cảm thấy mình có sự nhận biết một cách loáng thoáng, mơ hồ mà không thể tự xác quyết được là cái chỗ vừa mới biết rằng "cái biết của mình lâu nay theo thói quen là cái biết lầm lạc, huyễn hoặc" cũng như cái chỗ "cảnh sắc mơ hồ huyễn hoặc được biết" kia có thiệt huyễn hoặc như cái biết vừa mới "biết" cho biết hay không? Nếu cảnh sắc chung quanh, trước mắt, sau lưng, mọi người, mọi vật, mọi sự đều là huyễn hoặc cả, không phải thật có, thì chẳng lẽ chính mình, cái chủ thể đang biết, cũng huyễn hoặc hay sao? Nếu mình cũng là thứ huyễn hoặc như mọi cái huyễn hoặc khác thì "ai" trong đây "biết" mình là huyễn hoặc, trong khi chính mình biết đủ mọi thứ vàng đỏ, trắng xanh, nhỏ to, cao thấp, phải trái, hơn thua không lầm lẫn kia mà?  Cái chỗ "ai biết đó" và "mình biết đây" là hai hay là một? Có nghĩa là cái chỗ biết vượt cách vừa mới biết kia (tuy hoàn toàn không thấy có người biết, nhưng lại biết rõ ràng mà tri thức, quan năng không thể với tới) cùng với cái sự biết của mình bằng đầu, mình, mắt, tai, mũi, lưỡi mà lâu nay từng "quen" biết, là hai hay là một cũng không rõ nữa, bỡi vì tự chúng đan xen lẫn lộn như có hai mà chẳng phải thật hai, mà như một thì cũng chẳng phải thật một, cũng chẳng phải là cái gì khác, mà đều thấy biết từ phía trên hai mắt, ngay trước mỏ ác. Có lúc, từ một cái nhìn trải lên sự vật bằng đôi mắt, nhận biết được sự vật nhỏ to, lớn bé, xanh vàng, trắng đỏ, tốt xấu, thấp cao vv…tất cả "được biết" bằng cái "ta biết" của thân tâm đang hiện hữu, mà cũng có lúc, khi nào thật vắng lặng, không một niệm gì phát sinh, thì cái thấy biết trong trẻo, bất động, không một vật, vô biên, vô hạn lượng bất chợt tuông ập vào mình (mà nhìn lại cũng chẳng thấy mình đâu), nhưng ngay đó trong tánh sáng xuyên suốt, bao trùm, trống không, vô biên, vô hạn lượng, vạn pháp trước mắt như mơ hồ, như huyễn hoặc, như có như không, như hư như thật, như vô số bọt xà phòng lơ lửng trong không, kể cả cái xác thân được nhận là "mình" một sát na trước, cũng như huyễn như hóa, như hoa đóm trong không, cũng được nhìn suốt, xuyên thấu như một cái bóng gương mờ, chẳng phải thật có. 

Cái thấy biết không gốc gác, "không thấy có ta biết", vắng lặng, trong trẻo, bao trùm, vô biên, vô hạn lượng. Vạn pháp đều tự như trong tánh biết lặng lẽ, sáng trong, bất động ấy. Rõ ràng từ một cái "tướng-không" (tạm gọi như thế) bao la, vô biên, vô hạn lượng, không hình tướng, lại là một cái biết toàn thể (biết mọi chiều, xuyên thấu, thấy suốt chứ không phải bị chia cắt làm mảnh múng một cách phiến diện lên bề mặt của sự vật), biết tất cả, biết rõ ràng trong chỗ không một đối tượng được biết, tức không phải dừng lại lên sự vật để biết nhờ móng khởi phân biệt, vì tất thảy những gì trước mắt (gọi là mắt chứ không có mắt, hay đúng hơn mắt ở đây là cái tánh thấy biết toàn thể, toàn biết) đều như huyễn, như hoá, kể cả người có cái tánh biết đang biết đó. Một sát na trước, bằng cái thấy biết thường tình của "ta biết", vạn pháp trước mắt và kể cả "ta" tưởng như thật có, như thật hiện hữu. Một sát na sau, bằng cái biết tuông ập bao trùm, xuyên suốt, "không thấy có ta biết" mà không gì không trọn một trong tánh biết như như đó; vạn pháp trước mắt kể cả "cái tướng ta" đang nhìn ngắm, chợt trở thành mơ hồ, huyễn hoặc, như hoa đóm trong không, hoàn toàn chẳng phải thật có. 

Trong chỗ thấy biết mơ hồ lẫn lộn đó, lúc ấy tôi cũng chẳng biết gì là thật mình, gì là đối lập với mình, cái chỗ "ta-thấy" là thật "ta" hay cái chỗ "không-thấy-có-ta" mà vẫn thấy mới là "ta" như thật. Hai cái thấy trước mỏ ác đan xen nhau, có lúc vì lăng xăng động niệm nên chỗ thấy giới hạn lên bề mặt của sự vật, phân biệt hình thể sắc màu, tính chất, động thái.  Gặp lúc bình ổn, vắng lặng thì cái thấy chơn không toàn thể xuất hiện, thấy mà như không thấy gì, không có gì để thấy, lờ đờ bất động như mắt con trâu đang nhìn vào hư không, một mình lặng yên, biếng lười nhai cỏ, mà chỗ thấy thì mênh mông, xa vời, xuyên suốt lên tất thảy sự vật, không điểm dừng lại.  Tính chất hai cái thấy biết trước mỏ ác tuy khác nhau trời vực, nhưng đan xen lẫn lộn một cách vi diệu, lạ lùng, như cái "chất ngọt trong miếng kẹo", khó bề rứt tách ngọt và kẹo ra làm hai phần riêng rẽ mà không làm cho cái người ngậm kẹo kia méo mó, biến dạng. 

Lúc mới đầu, trạng thái lờ mờ, lẫn lộn giữa hai cái biết ấy làm cho mình phân vân nghi hoặc, không biết cái biết nào mới là cái biết chủ thể chơn thật, cái biết nào là cái biết khách thể, huyễn hoặc, không thật, là lầm biết. 

Về sau này, khi gặp duyên lành được dẫn dắt bằng Phật pháp, hay nói rõ hơn là y theo lời Thầy dạy, ngày đêm chuyên chú hành trì kinh Kim-Cang và miên mật tham hỏi Công-án Thiền của Tổ-sư, tôi hốt nhiên nhận ra, cũng vì cái tâm luôn vọng động, vọng khởi chấp ngã, chấp pháp nên mới khiến cái tánh thấy biết bổn lai, nguyên uỷ mà ai ai cũng đang tự sẵn có, phải bị lu mờ, bị che lấp, nên tự thân mới bị lầm biết. 

Thế nào là cái tánh biết nguyên uỷ bị che lấp? - Tánh biết tự thể chơn không, tịch tĩnh, vô ngã, trong trẻo, tròn đầy, bất động, hay khéo sanh các pháp.  Mà đã làm thân hữu tình thì ai ai cũng đều sẵn có tánh này (nhìn vào đứa trẻ lúc mới sanh ra, ta có thể hình dung được khi tỉ mỉ so sánh nó với chính mình để dễ tìm ra chỗ khác biệt). 

Thế nhưng, do cái thức biết duyên sanh trong từng mỗi chúng sanh vốn vẫn không lìa tánh biết, trọn dung chứa trong tánh biết hốt nhiên vọng động, vọng chấp thân này pháp này làm thật có, tức chỉ biết nhìn về một hướng riêng biệt, nên thức biết ấy, cũng là cái "biết lầm" theo vọng thức do tập nhiễm vô minh, tức thời ngăn lấp tánh biết. Giả như ngay từ khởi đầu (đây chỉ là giả thiết) chúng sanh không khởi vọng niệm, chấp trước, thì tánh biết vẫn thường hiển hiện sáng trong, thật tánh vạn pháp phô bày, không gì che dấu được tánh biết, vì tánh  biết thường "biết" như thật, tự tánh là chủ thể vạn pháp, vạn pháp trùng trùng sanh khởi từ chỗ "diệu" của tánh biết chơn thường, nên vạn pháp không phải thật có, không có tự tánh. Thật tướng của vạn pháp đều không, là thật tướng không tướng, là huyễn hóa, không thật có, như từ một cái nhấn mắt mà có hoa đóm sanh khởi trong không. Hoa đóm luôn luôn là thứ huyễn giả, không phải thật có. 

Vì cái biết lầm ấy vọng biết vọng thấy thân tâm này và các pháp khác ngoài thân làm thật có, khiến tánh biết bị che lấp, không tự sáng suốt, không tự chủ để biết rằng các pháp kia biến hiện có không mất còn chỉ là do từ cái "diệu" của tánh này duyên sanh.

 Tự chỗ biết lầm sơ khai do chỉ biết nhìn về một hướng (vì chấp), chạy theo tập nhiễm vô minh, khiến đi vào cảnh giới nhị nguyên nhơn quả, tức phải trói buộc sanh tử luân hồi mà mình hoàn toàn không hay biết vì không phải là chủ thể được tự chủ. 

Lằn ranh giữa hai cái biết, biết bằng tánh biết chơn thật bổn lai và biết bằng thức biết trói buộc nhị nguyên nhơn quả, tuy rất mong manh, vì tự thân chúng đan xen nhau làm một, chưa từng rời lìa nhau (vì có thân này) nhưng do tâm ta lúc nào cũng khởi vọng chấp (chấp ngã, chấp pháp), tức chỉ biết trải nhìn về một hướng riêng biệt theo tâm ý mình, chỉ dùng có mỗi một cái biết theo tập để biết, khiến phải lầm biết, cũng là tự chính mình rời lìa tánh biết bổn lai ngày một càng xa hơn.  Tập nhiễm càng nhiều, vọng chấp càng lớn thì vô minh càng dày, chơn tâm càng bị che lấp sâu kín, tối tăm hơn, khiến cho muốn tìm lại tánh thấy biết nguyên ủy càng khó khăn hơn. 

Tánh biết bổn lai nguyên ủy, ai ai cũng tự gồm trọn đủ trong một thân này, chỉ có điều, do chỗ hành nghiệp nhơn quả ít nhiều, nặng nhẹ mà vô minh che lấp có sự mỏng dày, sáng tối, khiến cho việc hành trì Phật pháp để tìm lại tự tánh, ắc phải có chỗ lâu chóng khác nhau. Cũng chính vì thế mà phương tiện giáo hóa có đủ các pháp đốn tiệm khác nhau, nên mỗi người cũng cần phải biết trạch pháp cho thích hợp với từng căn cơ, trí tuệ, duyên phước của mỗi người, thì việc tu học mới có kết quả mỹ mãn. 

Đó đây trong Thiền-sử cũng có đề cập tới những người, tuy mới đầu chưa tu, nhưng thật ra từ lâu đời, lâu kiếp họ đã là những Đại Bồ-tát, phước đức gồm đủ, có duyên giáo hóa chúng sanh trong đời này, như Lục Tổ Huệ-Năng chẳng hạn, chỉ vừa mới nghe người khác tụng kinh Kim-cang, đã hốt nhiên sáng tánh Phật, chỉ có điều mới đầu còn chưa tỏ rõ, còn ngờ chỗ thấy biết của mình. Đến khi được Ngũ Tổ Hoằng-Nhẫn vây màn giảng giải bộ kinh trên, đến câu "ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" thì tới lúc ấy, Ngài hoát nhiên đại ngộ. Chỉ khi ấy, thần khẩu của Ngài mới ứng xuất một cách như thật về tánh Phật chúng-sanh, cũng là thể tánh uyên nguyên mà Ngài trong ấy đang-là, đang tự làm một :

- Không ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh.
- Không ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt.
- Không ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ.
- Không ngờ tự tánh vốn không lay động.
- Không ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp.
  (Pháp Bửu Đàn Kinh)

Khi cái biết bổn lai tỏ rõ, không còn lầm biết, thì nhìn lại thật tướng vạn pháp đều không, nên tự biết một cách rõ ràng, cảnh giới sanh tử tuỳ hiện một sát na trước là huyễn cảnh. Nghĩa là trước đó, vì cái tâm vọng chấp khởi sanh, nên mới có vọng cảnh được dựng lập, mới có tất thảy (huyễn) pháp bày ra.  Bằng một khi tâm sạch vọng động, tự thể thanh tịnh tròn đầy, không một vật, thì ngay đó liền tự biết như thật, các pháp kia đều là huyễn hoặc, không thật có, như hoa đóm trong không, không có tự tánh. Chính cái chỗ tự biết như thật trong đây, là mặt mũi chơn thật xưa nay của mình, chơn thiệt một nó, tự tại, thanh tịnh, thường hằng, bất động, mà thường khéo sanh các pháp. Nói khéo sanh các pháp là ngay trong chỗ chơn không, không một vật nhưng nếu xảy một chút vọng niệm sanh khởi, thì pháp pháp (vọng thức, vọng nghiệp) tuông sanh, vọng thành cảnh giới, nhơn quả phân biệt, như biển lớn hốt nhiên gặp gió, tức thì sóng cao sóng thấp lớp lớp tầng tầng lên xuống đuổi nhau, không sao kể xiết.

Người đang chấp nhưng thường không hay biết mình có chấp, cũng là tự trói buộc vô minh, nhắm mắt cắm cổ chạy theo những con sóng của vọng thức, tự tô bồi vọng nghiệp hết lớp này tới lớp khác, thì gọi đó là người mê. Biết ngoảnh đầu nhìn lại, biết tuỳ căn cơ duyên nghiệp mà mượn Pháp phật thích hợp để chơn-chánh hành trì, ắc có lúc tìm thấy lại tánh bổn lai chân thật của chính mình, lúc đó gọi là người tỉnh. 

Chợt tỉnh giác, vạn pháp phô bày, ngay đó, liền biết như thật, một sát na trước, do vọng chấp sanh khởi, nên vô minh che lấp tánh biết, tâm thức huyễn vọng chỉ hướng về một phía (chấp) mê mờ lẫn lộn không phân biệt được địa vị chủ, khách, tức ngộ nhận cái bóng nhỏ nhoi, rời rạc, huyễn hoặc, mơ hồ của khách thể biến hiện làm thành chủ thể "ta biết", mới khiến mình từ lâu kết thành hàng chuỗi biết lầm lạc sau lưng. Một sự lầm lạc tận cùng trong gốc rễ của sự hiểu biết, lầm lạc do từ một cái "chớm biết lầm lạc" đầu tiên phát sinh tự thuở lâu xa nào. Sự lầm lạc ấy chẳng khác nào như những bóng trăng hiện lên trên sóng nước.  Vừa chợt hiện ra là liền chấp mình làm thật có, tự nhận mình là một chủ thể đương nhiên, một cá thể độc lập "hữu ngã" có tương quan tương tác, có đến đi, qua lại, lên xuống, sống chết, to nhỏ, cao thấp, mất còn tương đối với những chủ thể khác như nó, bên cạnh nó, trong môi trường (cảnh giới) như nó. Nghĩa là mặc dù tự thể cái bóng trăng trên sóng nước chẳng phải thật có, mà như hoa đóm trong không, nhưng vì tự nó khởi vọng chấp có ngã pháp nên tướng ngã liền sanh. Ngã tướng đã sanh thì ngay tức khắc các tướng khác là nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng trùng trùng sanh khởi. 

Vừa trọn đủ các tướng tương quan tương tác, thì ngay tức khắc, vọng lập các khái niệm tương đối để phân biệt, cũng như từ đó theo thói quen (tập) tự trói buộc với những khái niệm và sự phân biệt theo khái niệm, mà không hề biết tự chính chúng chỉ là những cái bóng ảo được vọng lập, cũng như không hề biết rằng bản thể chơn thật của nó phải chính là ánh sáng lặng lẽ thường chiếu, như như, bất động, rộng lớn, không ngằn mé từ mặt trăng đang trang trải cùng khắp trên sóng nước kia. Nếu chúng biết tự quay đầu, thì liền biết như thật, bản thể ấy thu nhiếp hết về lại mặt trăng lơ lửng trên bầu trời quang kia, cũng chính là mặt mũi thường hằng xưa nay của chúng vậy. 

Vì sự lầm lạc trong hiểu biết xuất phát ngay tự thuở đầu tiên bắt đầu hình thành cái được gọi là sự hiểu biết (thức) của một mầm mống hữu tình nói chung và con người nói riêng, khiến ta đã làm những việc hết sức vô lý là bắt chính mình phải bôn ba kiếm tìm, nắm bắt, trói buộc ảo ảnh trong cái toàn cảnh ảo ảnh được gọi là trần gian, mà trong đó chính mình cũng là một ảnh ảo. Ao ảnh nắm bắt, cột buộc ảo ảnh, trong cái toàn cảnh ảo ảnh, thật phi lý. Tất cả mọi vật thể sinh động đều như đang mộng du trước cái nhìn của một con mắt thật biết. Còn cái biết lầm lạc tự trong gốc rễ thì khiến chúng ta "hành và động" trong cảnh giới mộng du mà không hề biết là mình đang trong trạng thái mộng du. 


Và mãi tới về sau này, tôi mới nhận ra được cái chỗ biết lầm của chính mình phải là từ trong vô lượng kiếp ảo như thế chứ chẳng phải mới đây. Sự nhứt tâm qui hướng về với Phật pháp cộng với lòng thiết tha cầu đạo giải thoát đã giúp tôi sửa chữa lại được chỗ biết "lầm" từ muôn thuở lâu xa của mình. 

Tôi đã quyết chí mượn con thuyền pháp để trở về lại bến kia, cái vết tích tự do cuối cùng còn loáng thoáng, mơ hồ, tồn đọng, còn sót lại trong tôi tự thuở xa xăm nào, trước khi có sự thấy biết lầm lạc, đen tối, mê mờ thống trị thân tâm này, cũng tức là tôi đang tự mò mẫm tìm về lại cội nguồn nguyên uỷ. 
 
Phật pháp tối thắng, nhiệm mầu đã giúp tôi truy tìm ra tông tích đâu là cái chỗ mơ hồ lẫn lộn trong sự hiểu biết, tức khám phá ra sự lầm biết từ trong tận cùng gốc rễ của chỗ khởi đầu cái biết ban sơ. Lại nữa, nhờ nương tựa pháp Phật mà tôi bình tâm nhận ra được cái việc bấy lâu theo hình bắt bóng là điều hết sức vô lý, khiến biết tự dừng chân quay đầu, cũng là cách tìm về lại nơi tự do cuối cùng trước lúc xuất phát của sự thấy biết ban sơ còn chưa lầm lạc. 

Nhiều lúc tự ngẫm lại, nếu như mươi năm trước, vào cái thời điểm hữu duyên được gặp hai Thầy, lúc ấy tôi không có một quyết định hợp thời và sáng suốt là nhứt tâm qui y Tam-Bảo cũng như quyết chí theo hai Thầy tu học, thì tới giờ này chẳng biết mình sẽ ra sao nữa. Cái thân xác này ắc vẫn thế, hay có thể tốt béo hơn không chừng, tiền bạc cữa nhà có thể khấm khá khang trang hơn, nhưng chắc chắn một điều là việc sanh tử trước mắt, mà cũng là điều khó tránh khỏi, sẽ làm mình lo lắng, khổ đau, sợ hãi. 

Còn bây giờ, nhờ Phật pháp soi đường chỉ lối, tôi không còn lầm biết ở sự đến đi của mình, tự coi sự đến đi nhiều lần như thế nữa ở vị lai vào cảnh giới này hay cảnh giới khác cũng chỉ là sự trải lòng, thương xót, chung tay góp sức để làm thức tỉnh những ai cùng mình có duyên trong cuộc trần này, cũng là thực hành Bồ-tát hạnh như từ nhiều đời đã từng phát nguyện. Không còn lầm biết vì vọng chấp phân biệt, tức chợt sáng tỏ thì liền biết như thật, vạn pháp vốn không, tự thể phiền não tức thị Bồ đề, sanh tử tức Niết-bàn tịch tĩnh, thì còn chướng ngại nào trong việc đến đi, ra vào nhơn quả. 

Sự đến đi ấy không phải thật có đến đi, chỉ vì dưới con mắt lầm biết theo thế thường, mà nó mới được thấy là có đến có đi mà thôi; còn dưới con mắt biết tự thể vô ngã, thường hằng, chân thật, là chủ thể tuyệt đối, như như bất động,  tất thảy pháp đều như huyễn, tuỳ duyên huyễn sanh huyễn diệt mà thôi. 

Tuy vẫn biết cái chỗ biết của mình đối với đạo pháp còn quá ít ỏi, nhỏ nhoi và hạn hẹp, chẳng khác một chiếc lá đối với rừng cây, như ánh sáng của con đom đóm giữa đêm rằm, như một vốc nước đối với đại dương mênh mông.

Nhưng trộm nghĩ, với sự nhiệm mầu của Phật pháp, thì tuỳ chủng tánh, căn cơ, tín lực cũng như tâm lượng vì cầu giải thoát sẵn được tích chứa từ lâu xa, mà những người, nếu hữu duyên, thì pháp nào, phương tiện nào cũng đều có thể độ người, ai ai cũng có thể nương nó để tự chèo chống mà sang bờ kia. 

Nghĩa là, do mê và ngộ không có lằn ranh phân cách, giống như hai cái thấy biết trước mỏ ác, mặc dù luôn đan xen, lẫn lộn nhau trong cùng một chỗ, nhưng nếu là người chưa đủ duyên phước, ắc cũng khó bề phát hiện nhanh chóng. Bằng người sẵn có duyên phận với các pháp Đại-thừa, Tối thượng thừa của Phật, thì việc phát hiện ra nó cũng không phải là điều khó khăn. 

Đang trong cơn mê chợt tỉnh, thì chỗ chợt tỉnh biết mình đã mê, đó là ngộ, là giác. Mê và ngộ, nói xa nhau thì thăm thẳm, cách biệt ngàn trùng, không gì xa hơn. Nói gần thì cái sự gần ấy không gì gần hơn, cũng chính là hai cái thấy biết trước mỏ ác vừa nói trên kia, chưa từng lìa nhau, mà luôn dung chứa, lẫn lộn trong nhau. 

Chợt ngộ thì từ-bi tâm hốt nhiên bộc phát, thương khắp chúng sinh mà không phân biệt chủng loài, cũng như nhanh chóng tìm phương tiện để giác lại những người đang lầm than, tự trói buộc nhơn quả, giống như mình đã từng mê mờ một sát na trước đó. Một cách diễn tả thật giản đơn và dễ hiểu, đó là hiển Bồ-tát tâm, hành Bồ-tát đạo vậy. 

Giống như mọi người, tôi cũng có rất nhiều bạn hữu trong đời. Có những người bạn gần gũi, thân thiết thường ngày đến với tôi, và gặp lúc nào thấy thuận hợp nhơn duyên, tôi thường khuyên các bạn nên nhanh chóng quay đầu, tuỳ căn cơ mà trạch pháp thích hợp để tu hành. Nhưng có một số bạn, dĩ nhiên hầu hết đều là bạn già, tỏ ra hoài nghi ở chỗ tuổi tác của mình, cho rằng không biết thời gian còn lại ít ỏi quá thì có tu kịp nữa chăng. Những bạn ấy thường tỏ vẻ ngao ngán mà phân trần rằng, đã gần xuống lỗ rồi còn nghĩ chi tới chuyện tu hành, tu làm sao kịp nữa. Hoặc cũng có bạn lại nói rằng, có người bỏ cả cuộc đời để đi tu mà đến chết thì trói buộc vẫn hoàn trói buộc, huống là tôi đây sức đã tàn lực sắp tận, tháng ngày còn lại chẳng được bao nhiêu, thì dẫu có tu cũng chẳng tới đâu. Vả lại tu hành khó quá, phí công vô ích, thôi hẵn đợi kiếp sau. 

Tuy nhiên cũng có một số người nhanh chóng nhận ra cái khổ của sanh già bệnh chết, cũng là nỗi khổ trần gian nhơn quả trói buộc. Những bạn già ấy liền nhứt tâm qui hướng về với Phật đạo, ngày đêm tích cực hành trì một pháp thích hợp, không lâu sau đó, có được kết quả bước đầu là thân tâm thanh tịnh an ổn, không còn lo nghĩ tới việc đến đi, cũng như biết được cái lẽ đến đi cũng chỉ là huyễn ảo, do tự thân vọng niệm vọng chấp mà thôi. 

Thiết nghĩ, việc đến với Phật đạo sớm hay muộn cũng đều là nhơn duyên cả, nghĩa là nghiệp thức vô minh kết buộc sâu dày, ít làm việc phước thiện   thì dĩ nhiên sự thức tỉnh cũng phải lâu hơn những người nhẹ nghiệp, nhiều phúc đức. Tuy nhiên, như chúng tôi đã có trình bày ở trên, mê và ngộ vốn chẳng có hai đường, chỉ như người chiêm bao chợt tỉnh. Cho nên, không hiếm trường hợp có người tới lúc gần chết mới sực tỉnh thế nào là lẽ trói buộc của nhơn quả, liền  xin qui y Tam-Bảo. Vừa qui y xong, nhờ căn trí và phước phần vốn sẵn tích chứa, lại có duyên lành được bậc thiện tri thức trực tiếp giảng giải Đại thừa, Tối thượng thừa pháp, liền hốt nhiên tỏ ngộ bổn tâm, thần thái đổi thay trông thấy rõ rệt, sắc diện thanh thản như vừa trút đi một gánh nặng trên thân, mỉm cười an bình lặng lẽ ra đi. 

Phật đạo nhiệm mầu như vậy đó! Thế tại sao những người như tôi, như các bạn, ở vào cái tuổi được cho là thọ rồi, nhưng đầu óc còn sáng suốt, sức lực còn khoẻ mạnh sao không biết trạch pháp mà tu. Theo tôi, với lòng thiết tha cầu đạo giải thoát thì không thể căn cứ vào tuổi tác, vì giữa cái mê và ngộ đâu có lằn ranh, đâu có xa xôi, đâu có dính dấp gì tới tuổi tác, thành phần xã hội, hay học thức? Mê và  ngộ giống như đang sống với chiêm bao chợt giật mình tỉnh giấc mà thôi. Tôi mong các bạn đồng trang lứa với tôi mà lâu nay lừng chừng, do dự, chưa chịu đến với Phật đạo hay ngại ngần, hoặc nghi ngờ về tuổi tác, sức khoẻ, hay trí tuệ không kịp hoặc không đủ để tu chăng? Các bạn đừng lo, có cả một rừng pháp môn tối thắng để các bạn tuỳ ý lựa chọn tu học theo từng phước duyên đặc biệt của mỗi người. Tỉ như trên thế gian có bao nhiêu bệnh, thì đã có sẵn từng bấy nhiêu loại thuốc để chữa khỏi những bệnh ấy. Phật pháp cũng thế, tuỳ căn cơ, trí tuệ, phước đức, duyên nghiệp thấp cao, nặng nhẹ của mỗi người mà có từng pháp tối thắng đối trị tương thích. 

Theo kinh nghiệm của tự thân, tôi cho rằng điều cốt lõi để khiến các bạn có tự vượt thoát được chính mình mà thăng hoa, bay bổng hay không là các bạn có niềm tin mãnh liệt vào pháp giải thoát của đức Phật hay không, có nhứt tâm vì cầu thoát khổ trói buộc sanh tử hay không, có vui thích như pháp hành trì hay không. Bằng có cả một đời để tu mà tu giải đãi, hình thức, tự dối lừa, che đậy thì chưa chắc đã hơn người chỉ còn một ngày để tu mà biết hết lòng như pháp hành trì một cách nghiêm túc, đến mất mạng táng thân cũng không biết sợ. Phải một đời hoặc nhiều đời tu mới có thể sáng tỏ tánh biết, nhưng mà một ngày thật tu, một giờ thật tu cũng vẫn có thể thành tựu được công đức ấy, vì pháp Phật nhiệm mầu, vượt quá hạn lượng suy lường tính đếm theo không gian và thời gian, cũng như trí năng của con người. 

Do có nhiều bạn đạo gần gũi thân thiết muốn tôi ghi chép lại một cách đại lược con đường đến với Phật pháp của một người được sinh ra trong một gia đình không phải là Phật giáo thuần túy, quá nửa đời người mới biết đến với Phật, cũng như kinh nghiệm tu học mà tôi đã trải qua (sẽ viết lại tỉ mỉ - Con đường đến với Phật pháp) để ai đó trong số những bạn đạo của chúng ta tự thấy có chỗ tương ưng, tương thích thì có thể mượn pháp này để tự làm lợi lạc, tự vượt thoát cái biết sai lầm từ thuở được biết làm người. 

Mặc dù học hành ít ỏi, đạo học chẳng có bao nhiêu, nhưng vì cái ơn đối với đạo pháp quá lớn, không phải một đời một kiếp mà có thể trả hết được, nên mới tuỳ thuận nhơn duyên đời này mà viết ra, không ngoài mục đích thiết tha kêu gọi những người đồng trang lứa đừng mặc cảm tuổi tác mà hãy mạnh dạn phát tâm tu trì. Với tôi lúc này, tuy sức khoẻ có kém, phỏng đoán thời gian còn lại ít ỏi nhưng cũng cố gắng viết ra, gọi là chút đền ơn trong muôn một đối với ân sâu ba đời chư Phật vậy. 

Bài viết ra là để chìu lòng, thuận ý theo một số bạn bè gần gũi và thân thiết yêu cầu. Và cũng vì là thứ ngôn ngữ tự thuật nên dù cố tránh đến đâu cũng không làm sao không dùng tới cái tiếng "tôi" muôn đời đáng ghét, mà có thể nói ra được. Rất mong được các bạn đạo từ bi hết lòng hỷ xả. 

 Nam-mô Thường Tinh-Tấn Bồ-tát Ma-ha tát. 
 

(Niềm tri ân sâu thẳm vô bờ, xin gởi về Bổn-sư và Pháp-sư Kính mến)


Nhuận-Bảo

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Nhuận Bảo) frontpage Thu, 29 Jul 2010 17:37:09 +0000
DỪNG LẠI, NHÌN VÀ LÀM CHỦ CÁI GIẬN http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6473-dung-lai-nhin-va-lam-chu-cai-gian.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6473-dung-lai-nhin-va-lam-chu-cai-gian.html

 

Nổi nóng lúc bị khiêu khích, Terrence đã bào chữa như sau :" Tôi không thể làm khác được. Tôi là một người rất nóng tánh, và tôi nghĩ rằng tôi sẽ luôn như thế." Ðây là một trong những câu thông thường mà chúng ta hằng nghe, nơi những người tin rằng họ là những kẻ kém may mắn luôn chịu những phiền toái của cuộc đời trong khi đó những người khác thì hẳn là sung sướng hơn và không có khuyết điểm nầy.

Trong quyển sách bán chạy nhất "Bảy thói quen" , Stephen Covey kết luận cho chúng ta thấy rằng con người không bao giờ là nạn nhân của thuyết quyết định di truyền ( truyền từ đời nầy sang đời khác) hoặc thuyết quyết định tâm lý (cha mẹ làm cho mình như thế) hoặc thuyết quyết định môi trường chung quanh (những người chung quanh làm cho mình như thế). Những lý thuyết nầy tin rằng có một sự liên hệ tự động giữa sự kích thích và sự phản ứng, được định trước và đến từ phía bên ngoài.

Một chút suy nghĩ chính chắn cho thấy rằng có một khoảng cách hệ trọng giữa sự kích thích và sự phản ứng - khoảng trống nầy là điểm mà chúng ta có thể thực tập và được coi như là một vốn liếng của con người : Tự do nhân quyền, khả năng chọn lựa phản ứng của chúng ta. 
Nếu có một liên kết tự động giữa 2 điều nầy trong cuộc sống của chúng ta, là vì chúng ta chọn lựa để được tự bảo tồn. Và nếu chúng ta có thể liên kết được chúng, thì chúng ta cũng đương nhiên có khả năng cắt đứt chúng.

Theo kinh nghiệm trong trại tập trung Ðức, Viktor Frank, trong quyển sách ''Tìm hiểu ý nghĩa của con người'", đã phổ biến khái niệm sự tự do gọi là "freedom" khác với sự tự do gọi "liberty". Sự tự do "liberty" chỉ định sự hiện diện của nhiều thứ mà nơi đó tôi có thể lựa chọn. Tự do thật sự "freedom" thể hiện một sức mạnh bên trong để thực hành những lựa chọn của mình -
phản ứng hay không phản ứng - và không chỉ đơn thuần bằng phản ứng cách nầy hay cách khác.
Một khi chúng ta thấy rõ sự khác biệt của những điều nầy, cảm nhận được sức mạnh của nội tâm, thì ta sẽ có cơ hội để sửa đổi, cho dù đó là những thói quen xấu lâu đời. 

Chúa Jesus cũng có nói, " Muốn người ta đối với mình như thế nào thì nên đối xử với người chung quanh như thế đó". Nếu ta gieo toàn những hạt giống tốt thì quả tốt sẽ không thiếu. Nếu luôn có những quả tốt thì những thế hệ tiếp nối sẽ luôn được sống trong sự tốt lành.

Trong quyển "Từng bước an lạc", Thầy Nhất Hạnh có kể câu chuyện của một cậu bé 11 tuổi, cậu rất giận cha của cậu. Mỗi lần cậu bé chạy chơi té ngã, thì cha cậu lại la mắng cậu. Cậu bé tự hứa rằng sau nầy cậu lớn lên, cậu sẽ không bao giờ phản ứng như cha của mình. Nhưng vài năm sau, ngày nọ, em gái của cậu té xích đu và bị thương tích. Lúc đó, cậu bé tự dưng cảm thấy rất là tức giận. Cậu muốn chạy lại la em của mình; nhưng ngay khi đó, cậu dừng lại được, vì lúc ấy cậu đã biết tập quán chiếu và tập hít thở, cậu đã kịp nhận ra cơn giận dữ và đã ngừng lại kịp thời.

Trong khi mọi người chạy lại lo lắng cho em cậu, thì cậu tránh thật xa và bắt đầu hít thở để hóa giải cơn giận của mình. Thình lình cậu bé nhận ra rằng mình đã phản ứng y hệt cha của mình. Cậu bé nói với Thầy Nhất Hạnh sau đó, " Lúc đó, con biết nếu con không làm gì để đối trị cơn giận trong lòng, thì sau nầy con sẽ trao truyền lại cái giận đó cho con của con." 
Và cậu bé cũng nhận ra rằng cha của cậu cũng thế, cũng là nạn nhân của cơn giận được trao truyền lại. Và khi mà cậu tiếp tục tập quán chiếu, thì cơn giận của cậu cũng được hoán chuyển và mất hẳn theo thời gian thực tập.

Mỗi người chúng ta đều có sức mạnh để trở thành bất cứ hạng người nào mà ta muốn - chỉ khi nào ta nhận diện được sự tự do nội tại mà ta đang sở hữu, và biết sử dụng nó một cách thích nghi. 
Bước đầu tiên : Hãy chú ý đến những gì đang xảy ra chung quanh ta, chẳng hạn, thấy mình đang phản ứng một cách thái quá. Quan trọng là ngay trong lúc nầy, phải biết dừng lại, dừng lại trước khi có những phản ứng không hay. Trong khoảng cách giữa thấy nghe và phản ứng, ta hãy tập trung để nắm lấy cái khoảng cách đó mà tự hỏi rằng, " Có cần thiết là ta phải phản ứng ngược lại không ? Có cách nào khác để mà phản ứng hay không ?"
 

Erasto Fernandez - Mỹ Thanh dịch Việt

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Mỹ Thanh) frontpage Thu, 29 Jul 2010 17:33:10 +0000
Hình ảnh của Phật giáo Thăng Long qua 1.000 năm http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6472-hinh-anh-cua-phat-giao-thang-long-qua-1000-nam.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6472-hinh-anh-cua-phat-giao-thang-long-qua-1000-nam.html
image

Sau ba năm liên tiếp nhóm Họa sĩ Phật tử Mặc Hương triển lãm tranh với chủ đề “Sen đầu hạ” (2007-2008-2009), năm nay “Sen đầu hạ IV” lại một lần nữa tỏa ngát hương thơm để đón mừng Phật giáo thủ đô tròn một thiên niên kỷ.

Con đường của sen, theo quan niệm Phật giáo là con đường hướng tới sự giải thoát. Cũng bởi vậy, triển lãm là những hình ảnh của Phật giáo Thăng Long từ xưa tới nay với ý nghĩa thể hiện nét đẹp của cuộc sống, sự giải thoát và hướng thiện.

30 bức tranh và 3 tác phẩm điêu khắc của 14 họa sĩ Phật tử được sáng tạo bằng chất liệu đương đại, với những sắc màu tươi mới. Điều đặc biệt, trong lần triển lãm thứ tư này, tác phẩm Mandala Quán Thế Âm được nhóm họa sĩ đồng thực hiện trong hàng tháng trời, khổ lớn 1.600 x 2.400.

“Ngoài giá trị là một tác phẩm nghệ thuật Phật giáo, tác phẩm còn phản ánh sự tu tập hành trì của mỗi hành giả Kim cương thừa trên đạo lộ Giác ngộ,” Phó Ban văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban Văn hóa Thành hội Phật giáo Hà Nội Thích Minh Hiền nói về tác phẩm đặc biệt này.

Triển lãm “Sen đầu hạ IV” nằm trong chương trình Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Phật giáo Thăng Long - Hà Nội được Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Thành hội Phật giáo Hà Nội tổ chức từ ngày 27/7 đến 2/8 năm 2010.

Triển lãm sẽ khai mạc lúc 17 giờ ngày 29/7 tại Bảo tàng Mỹ thuật, Hà Nội, và kết thúc vào ngày 4/8. Sau đó, 33 tác phẩm sẽ tiếp tục được triển lãm ở Biệt phủ Thành Chương từ ngày 15 đến 25/8.

 

Mai Anh

Theo: vietnam+
]]>
tcanhco@yahoo.com (Mai Anh) frontpage Thu, 29 Jul 2010 17:20:03 +0000
Thờ kính, phụng dưỡng cha mẹ đúng pháp http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6471-tho-kinh-phung-duong-cha-me-dung-phap.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6471-tho-kinh-phung-duong-cha-me-dung-phap.html Hiếu thuận, thờ kính cha mẹ là điều tốt lành, như Đức Phật tán thán, nhưng phải thờ kính, hiếu thuận, phụng dưỡng cha mẹ với của cải do tự mình làm ra đúng pháp chứ không phải là phi pháp, phi đạo đức. Sát sinh, lấy của không cho, nói dối, nói ác, nói chia rẽ, làm các tà hạnh để có nhiều tiền của đem phụng dưỡng mẹ cha, đó là điều rất không tốt đẹp mà Đức Phật cũng như các vị đệ tử của Ngài khuyên răn đừng có làm. Chúng ta chú ý lời sau đây của Đức Phật nói với thanh niên Bà la môn Mahànàma:

 

"Ở đây, này Mahànàma, vị thiện nam tử, với những tài sản do nỗ lực tinh tấn thu hoạch được, do sức mạnh của cánh tay gom góp lại, phải trả bằng những giọt mồ hôi đổ ra, làm một cách hợp pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ..." (Tăng Chi II, 106).

 

Ngài Xá Lợi Phất, trong kinh Dhananjàni (Trung Bộ II, 540), cũng nói rõ ý tứ của Phật là phải làm điều lành, không làm điều ác để phụng dưỡng cha mẹ.

 

"Này Dhananjàni, nhà ngươi nghĩ thế nào? Một người vì cha mẹ, làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay là một người vì cha mẹ, làm các điều đúng pháp, làm các điều chân chánh, thì ai tốt đẹp hơn?".

"Thưa Tôn giả Sàriputta, người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp. Và thưa Tôn giả Sàriputta, người vì cha mẹ làm các điều đúng pháp, làm các điều chân chánh, người ấy tốt đẹp hơn".

Và ngài Sàriputta kết luận:

"Này, Dhananjàni, có những hành động khác, có nhận, đúng pháp, với những hành động này, có thể phụng dưỡng cha mẹ, không làm các điều ác, làm các điều lành. Những người làm các điều ác để nuôi dưỡng cha mẹ, cũng không thể tránh khỏi quả báo của những hành vi bất thiện của mình. Và như vậy, không thể lấy lý do nuôi dưỡng cha mẹ để tự cứu mình và bào chữa cho những hành vi bất chánh của mình".

Kinh Dhananjàni tiếp đó, giải thích rõ, các con cái, vì mẹ cha mà làm điều ác, điều bất thiện thì cũng sẽ chịu quả báo, kể cả đọa địa ngục, và không thể viện lý do rằng, mình làm điều ác để phụng dưỡng cha mẹ, cho nên không chịu quả báo, không đọa địa ngục.

(Theo Đạo Phật và chữ hiếu - HT.Thích Minh Châu)

 

 dsen06.jpg image by duongbinh678

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Minh Châu) frontpage Thu, 29 Jul 2010 17:10:37 +0000
Ba bài học về nghệ thuật diễn giảng lãnh hội qua Phật pháp http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6470-ba-bai-hoc-ve-nghe-thuat-dien-giang-lanh-hoi-qua-phat-phap.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6470-ba-bai-hoc-ve-nghe-thuat-dien-giang-lanh-hoi-qua-phat-phap.html Đức Phật là một vị đạo sư tâm linh đồng thời cũng là một vị Thầy lỗi lạc trong khi dùng ngôn từ để giáo hóa đệ tử. Qua kinh sách của Phật giáo, người viết bài này – một giảng viên ngôn ngữ nhiều năm ở đại học –  đã lãnh hội được ba bài học về nghệ thuật diễn giảng.


Thứ nhất là bài học về chọn lựa đề tài.

Muốn diễn giảng có thông tin và hấp dẫn được người nghe thì giảng sư phải  chọn lựa cho được một đề tài mới lạ và hữu ích.

Phật pháp mới lạ vì đó là sự phủ nhận tận gốc rễ tất cả những cái gì mà phần đông người đời đã hiểu biết và đang ham muốn. Ai cũng tin có một cái ngã thì đức Phật dạy vô ngã. Nhiều sự vật mà ta cho là thường thì đức Phật khẳng định là vô thường. Mọi người đang mê say với tài, sắc, danh, thực và thùy, nhưng đức Phật  gọi đó là những cái bẫy sập mà người trí phải biết xa lánh, v.v… Tuyên thuyết giáo pháp nhiệm mầu, đức Phật đã nêu một phản đề lớn đối với phần còn lại của văn minh và tư tưởng nhân loại.

Phật pháp hữu ích vì đức Thế Tôn đã đặt ra và giải đáp một vấn đề có quan hệ sinh tử với con người. Đó là khổ và diệt khổ. Phật giáo, như nho sĩ Nguyễn Công Trứ đã quan niệm trong bài hát nói có tiêu đề Vịnh Phật, là chiếc “thuyền từ” vớt những người “chìm đắm” trong bể khổ để đưa lên “cõi tĩnh”. Cuộc đời còn lắm khổ đau, cõi nhân sinh còn nhiều hệ lụy thì giáo pháp của đức Thế Tôn mãi mãi cần thiết như một thứ thần dược để chữa trị tâm bệnh của muôn vạn con người đang vì tham, sân, si, mạn, nghi mà gây đau khổ mình và đồng loại.

Thứ hai là bài học về giới hạn đề tài.

Đề tài phải được giới hạn để bài thuyết pháp được tập trung và nhất quán.

Đề tài đã được xác định rồi thì nhập đề, thân bài và kết luận không được nói ra ngoài giới hạn ấy. Suốt 49 năm hoằng pháp độ sinh, đức Như Lai chỉ thuyết giảng một chủ đề được tóm tắt vào hai chữ giải thoát. Đức Như Lai từng tuyên thuyết: Nếu nước đại dương có một vị là vị mặn thì đạo ta cũng chỉ có một vị là vị giải thoát. Cần nhớ rằng dù bị khiêu khích, khi kẻ ngoại đạo đặt ra những câu hỏi “siêu hình” như sau khi chết ta còn hay không còn, ta vừa còn hay vừa không còn, đức Như Lai cũng không trả lời để khỏi phải nói ra ngoài  giới hạn của vấn đề đã xác định.

Thường có một số người không thể nói gì mới lạ và sâu sắc khi vượt ra ngoài phạm vi  kiến thức chuyên môn của mình. Nhưng đức Phật không ở vào trường hợp ấy. Bằng tuệ giác, bậc Thầy của trời và người đã chứng ngộ được chân lí, đã có hiểu biết bao trùm mọi lãnh vực. Nhưng Người không muốn nói ngoài chủ đề để bảo đảm tính nhất quán của hệ thống tư tưởng, để không làm rối trí, phân tâm và gây trở ngại cho đệ tử trên đường tu học. Có một lần từ trong rừng đi ra với một nắm lá ở trong tay, đức Phật nói với đệ tử rằng những điều Người biết nhiều như lá trong rừng nhưng những điều Người nói thì ít như lá trong tay.

Thứ ba là bài học về nghệ thuật diễn đạt ý tưởng bằng hình tượng, bằng ảnh dụ hàm súc và sinh động.


Biểu đạt bằng hình tượng là đặc trưng của ngôn ngữ thơ. Hình tượng là hình ảnh gợi tả nhiều ý nghĩa. Ví dụ trước mắt chúng ta đang có một cái giếng là hố đào thẳng đứng, sâu vào lòng đất, dùng để lấy nước. Nhưng khi hình ảnh giếng nước ấy đã đi vào thơ thì nó trở thành hình tượng để gợi tả cho người đọc biết bao tâm trạng, biết bao nỗi niềm:

“Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài,
Ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây!”.

Tụng đọc kinh sách của Phật giáo, Phật tử tiếp xúc thường xuyên với những hình tượng mà các nhà Phật học thường gọi là ảnh dụ. Những ảnh dụ này giúp người đọc lãnh hội đầy đủ ý nghĩa sâu sắc của câu kinh mà không cần giải thích dài dòng. Nói đến nhận thức tương đối của con người về chân lí tuyệt đối, đức Phật dùng ảnh dụ người mù sờ voi. Nhắc nhở đệ tử  phải biết lấy Phật pháp làm phương tiện để tu chứng, đức Như Lai mượn hình tượng chiếc bè dùng để đưa người qua sông. Giải thích cho đệ tử biết do mê lầm, do vọng tưởng mà con người phải chịu khổ đau, đức Thế Tôn lấy hình ảnh một sợi dây thừng mà chúng sanh tưởng lầm là con rắn, v.v…

Với ba đặc điểm vừa nêu ở trên về nghệ thuật diễn giảng, giáo pháp của đức Thế Tôn vốn khó hiểu đã không còn khó tiếp thu với mọi người, giáo lí của đức Như Lai vốn khô khan đã trở nên sinh động và dễ dàng thấm sâu vào tâm hồn của đại chúng, lời dạy của Đấng Giác Ngộ có một tầng nghĩa ở dạng tiềm năng của ngôn ngữ thơ để có thể phù hợp với căn cơ của mỗi người. Luân lưu như một dòng sông dễ dàng tiếp nhận vào lòng nó cảnh sắc của đôi bờ, Phật giáo thích hợp với mọi không gian và thời gian để trở thành chân lí vĩnh hằng của nhân loại.

 

Tâm Hỷ 

Nguồn Tập San Pháp Luân 37

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Tâm Hỷ) frontpage Thu, 29 Jul 2010 17:01:42 +0000
Thiền, trẻ em và stress http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6469-thien-tre-em-va-stress.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6469-thien-tre-em-va-stress.html Thiền định là chìa khóa giúp cho con người có sự cân nhắc một cách chín chắn, kỹ lưỡng, tự tin hơn trong hành động, nói năng, hay suy nghĩ, nhờ nó mà con người có thể cải thiện được cuộc sống của mình, không hệ lụy, bế tắc do điều kiện xã hội, hay môi trường khách quan đưa lại. Thiền định là phương pháp hữu hiệu chữa lành tất cả tâm bệnh của thời đại, trong đó có Stress.

Stress là một trong những từ thông dụng của thập kỷ 90. Khi nói đến stress ai cũng hiểu rằng đó là một trong những triệu chứng làm cho con người căng thẳng, cáu bẳn, mệt mỏi, tinh thần không thoải mái. Hoạt dụng của nó tác động mạnh mẽ khi xã hội phát triển, con người hướng ngoại; nó cũng chính là nguyên nhân gây nên tất cả căn bệnh như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, huyết áp cao… Một cuộc thí nghiệm cho biết, người ta cho một người bị bệnh stress vào để kiểm tra, sau cuộc kiểm tra họ thấy rằng, khi stress, do sự căng thẳng của não bộ, tim mạch người đó bị kích thích rất mạnh, điều này dễ dàng đưa con người đến sự đột quỵ hay huyết áp cao. Một thí nghiệm tương tự, người ta khảo nghiệm trên các bà mẹ bị stress, và thấy rằng mỗi người đã uống thuốc suy nhược thần kinh để điều trị stress. Vì vậy, stress được xem là một trong những chứng bệnh trầm kha của thiên niên kỷ như kẻ tâm thần luôn bám theo bạn. Nó không chỉ hiện hữu như khi bạn có công việc nặng nhọc, khi bạn thất nghiệp trong thời gian lâu dài, bạn bị ly hôn, hay đang chuẩn bị mua một căn hộ mới, mà thậm chí trong khi bạn đang đi du ngoạn. Stress đã khiến cho mọi người rơi vào đau khổ, nhưng trẻ em thì không bị chi phối.

Hầu hết chúng ta thích nghĩ về tuổi thơ ấu, đó là thời gian hạnh phúc và ngây thơ nhất. Tuy trẻ em cũng chịu nhiều áp lực như chúng ta, các cuộc thi cử buộc các em phải học bài và làm bài căng thẳng, phải nhồi nhét nhiều kiến thức, tri thức để đỗ đạt theo nhu cầu của cha mẹ đề ra, nhưng những điều đó lại không làm cho trẻ em bị stress. Trong lúc, áp lực lứa tuổi đang theo chiều hướng phát triển, nhiều gia đình đổ vỡ trước hôn nhân dẫn đến tình trạng trẻ bị bỏ rơi, không nơi nương tựa, thậm chí trong thời gian gần đây, khi khoa học công nghệ thông tin phát triển, nhiều biến chuyển xảy ra, xung đột màu da, sắc tộc, những cuộc chiến vì màu da phải đổi lại biết bao tang thương mất mát, nhà tan cửa nát, huynh đệ tương tàn, cha con chồng vợ phải chia lìa bằng những tấn bom vô nghĩa, hay trẻ em tiếp cận những game thủ đầy chết chóc, tàn ác, gieo hạt giống chém giết, tàn sát bạo động, mặc dù được sinh ra trong một thế giới đầy sự ồn ào náo nhiệt như vậy, nhưng trẻ em có thể tìm lại những giây phút an bình trong giấc ngủ của mình. Dù rằng thế giới bên ngoài mà những giây phút trước đây các em đã gặp phải, dù rằng chiến tranh hay bom đạn rơi khắp nơi, nhưng giấc ngủ của em vẫn đầy thơ mộng và an vui, không có tác động nào có thể chi phối giấc ngủ của chúng.

Trong khi đó, những người lớn cố thử những phương cách đặc biệt để giảm stress, chẳng hạn như ngâm mình trong những bể nước lớn, thả hồn theo khói thuốc, tìm sự thoải mái trong các chuyến picnic, du ngoạn hay các phương pháp thể dục nhịp điệu để phục hồi tinh thần sau những công việc mệt nhọc, nhưng có lẽ, áp lực cũng không giảm được phần nào mà còn rơi vào stress trầm trọng hơn. Chẳng qua những điều người lớn thực hiện chỉ để mong sao chóng lãng quên sự cô đơn, cực nhọc sau những giây phút làm việc của mình. Còn stress là một vấn đề khác, bản thân của nó biểu thị trên tất cả mọi phương diện, huyết áp cao, đưa đến những căn bệnh xơ cứng động mạch, sự lo lắng, sự chán nản và chứng mất ngủ. Vậy nguyên nhân đưa đến stress là gì?

Những nguyên nhân của stress


Để vượt qua vấn đề này, chúng ta có thể nói, hình thức buông xả hoàn toàn là nhu cầu cần thiết, trong đó điều quan trọng là phải biết cách giải tỏa những stress thân và tâm. Nghĩa là biết thả lỏng thân và tâm một cách thực sự. Khi nói ra điều này dễ gây cho chúng ta một sự kinh ngạc, tại sao vậy? Bởi vì, trong khi thực hành, tâm vị hành giả thấy rằng không có một thứ gì bên ngoài có thể thiết lập đời sống hạnh phúc an lạc cho chính mình, chỉ khi hành giả quán sát theo dõi thân tâm của mình, biết buông xả, nhận diện ra được bản chất cấu trúc tư tưởng vọng động tồn tại trong con người thì khi ấy mới không bị nó níu kéo, buộc ràng. Thiền định đều đặn là phương pháp hiệu quả nhất giúp đạt được điều đó, con người sẽ cải thiện cuộc sống không còn bị stress. Giới y học đã tiến hành một cuộc khảo nghiệm trên cơ thể một người có thực tập thiền định. Sau cuộc thử nghiệm họ nhận ra rằng, sự biểu thị stress gây nên đau khổ và căng thẳng, chẳng hạn như bệnh nhồi máu cơ tim, áp huyết cao hay các bệnh xơ cứng động mạch, có chiều hướng giảm rõ rệt. Nguyên nhân gây nên những căn bệnh này ở độ tuổi trung niên và tuổi già, và nó đã biểu hiện đều đặn trong một thời gian dài ở thời thơ ấu. Vì vậy, nhận thức về căn bệnh stress, thấy rõ nguyên nhân gây nên căn bệnh này kéo dài trong thời gian không chỉ ở lứa tuổi trung niên và sau này mà ngay cả ở thời thơ ấu, thì chúng ta cần phải tìm hiểu ra phương pháp tận diệt nguồn gốc stress ở lứa tuổi trẻ em. Để thực thi được điều này, chúng ta cần hướng dẫn các em áp dụng thiền định, giúp các em nhận thấy lợi ích to lớn của hành thiền, nghĩa là sau khi hành thiền sẽ giúp cho các em một cơ thể mạnh khỏe, một tinh thần tươi vui, hoạt bát, sáng suốt hơn trong lúc học hành, đối xử và thương yêu nhau hơn trong tập thể.

Những tác giả viết về cách dạy thiền định cho trẻ em, như ông David Fontana và Ingrid Slack, hai nhà tâm lý học chuyên khảo sát về các hoạt động trẻ em, tin rằng nếu các em hành thiền hằng ngày thì đời sống của chúng sẽ tốt hơn. Họ đề nghị các bậc cha mẹ nên dẫn các em đến những nơi có tổ chức tu tập thiền định để nhờ các vị thiền giả dạy thiền cho các em, bởi vì “chúng ta càng giúp cho trẻ em có sự an bình cho cơ thể thì chúng ta càng có nhiều cơ hội tốt hơn để giúp cho các em không trở thành những kẻ sát nhân sau này”. Bởi vậy, việc cho trẻ tiếp cận học hỏi thiền là một nhu cầu cấp thiết không chỉ cha mẹ khuyến khích mà các địa phương chính quyền cũng nên động viên khích lệ, tạo điều kiện môi trường giúp các em được sống an bình hạnh phúc trong hiện tại, chính sự an bình đó mà xã hội tương lai sẽ tốt đẹp hơn. Thiền định có những lợi ích gì khiến cho các em thực tập theo?

Lợi ích của thiền định

Lợi ích của thiền định thì rất nhiều. Tùy theo đối tượng thực hành mà cấp độ lợi ích của nó được sanh khởi nhiều hay ít. Theo kinh Trung Bộ, thiền định là nấc thang hướng hành giả đến giải thoát. Hòa thượng Thích Minh Châu cho biết rằng: “Hành Thiền, chính là một nếp sống lành mạnh trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng thượng”, bởi một khi thực hành thiền, hành giả sẽ không sợ bị tâm thần điên loạn, thêm ý chí nghị lực, đối trị sợ hãi rụt rè, mà trái lại, thiền còn giúp cho hành giả điều hòa thân, tâm, điều hòa hơi thở; nhờ nếp sống lành mạnh, nhờ tâm tư an lạc nên ngủ ngon, không mộng mị, thân thể luôn khỏe mạnh. Ngoài ra, nhờ tu tập thiền hành giả nhớ lâu rất lợi cho việc học hành, thiền còn làm cho hành giả tăng trưởng trí tuệ, đạt được thiền lạc, thân tâm thường được hoan hỷ, sảng khoái, phấn khởi.

Mặt khác, thiền định còn là điều kiện giúp cho trẻ em minh mẫn trong khi suy nghĩ và kiểm soát các cảm xúc, không những kiểm soát sự nóng giận của bản thân mà còn nâng cao sự tự chủ, tự quyết. Fontana và Slack cho biết rằng, thiền định như là một biện pháp mát dịu để vượt qua những vấn đề do tâm lý và cách hành xử đưa lại, chẳng hạn như sự băn khoăn lo âu, tính hiếu động thái quá trong công việc... Họ xem thiền định là thước đo chung có thể đem lại nhiều lợi ích khi hướng dẫn các trẻ em ứng dụng thực hành.

Tuy nhiên, khái niệm về hành thiền cho trẻ em đến nay vẫn chưa được nhận thức đúng và triển khai rộng rãi. Chỉ có một số nơi ở Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện… có áp dụng môn thiền học cho trẻ nhưng còn rất hạn chế. Ở đây, chúng ta thử tìm hiểu qua cách tu tập thiền trong trường học Maharishi. Người học cho biết rằng, điều quan trọng trong khi thực hành chính là biết rõ, ghi nhận tâm của mình, không nên đặt nặng niềm tin tôn giáo, hãy thực tập thiền định một mình, còn TM (phương pháp phát triển tâm linh) không là gì cả. Và hiện nay, phương pháp TM có hơn 4 triệu người áp dụng tu học trên khắp thế giới.

Riêng người lớn, phương pháp này bắt buộc một ngày dành 20 phút để chuẩn bị cho sự tụng đọc câu thần chú mang tính chất tôn giáo. Đây là một phương pháp dễ thực hiện dù bạn bị mất trí thường xuyên hay chìm trong giấc ngủ. Bạn chỉ trở lại việc tụng niệm thần chú khi bạn nhận ra bạn không còn tình trạng như trước nữa. Đối với trẻ em thì khác, bởi vì chúng không thích hợp phải ngồi hằng giờ với việc nhắm mắt. Thay vào đó, chúng ta hướng dẫn chúng cách đi bộ đến trường trong chánh niệm, ý thức hay chơi với các đồ chơi mang tính giáo dục lành mạnh. Nên dành cho các em mỗi ngày 10 phút để “thực hiện trò chơi” và sau đó thêm một phút cho mỗi năm khi chúng lớn lên.

Áp dụng Thiền định vào học đường

Từ trước đến nay chỉ có một số trường trên thế giới áp dụng thiền định vào trong lớp học và xem nó như là một môn học chính, môn học trị liệu tâm lý. Chẳng hạn như trường Maharishi ở Skelmersdale, áp dụng môn thiền này vào năm 1986 dạy cho 14 trẻ em. Hiện nay có hơn 100 em. Trường phân theo  từng độ tuổi, 4 tuổi học lớp sơ cấp, 16 tuổi tham dự lớp GCSE (General Certificate of Secondary Education). Do hành thiền đều đặn nên kết quả học vấn được nâng cao, cụ thể là trường Maharishi đã đứng đầu liên hiệp Lancashire về những kết quả GCSE, bao gồm luôn cả việc đứng đầu các trường tư thục tuy rằng trong kỳ tuyển sinh có đón nhận các em không có sức khỏe tốt.

Derek Cassells, hiệu trưởng cho biết rằng, thành công có được của trường chính là chìa khóa thiền định; chúng ta có chương trình giảng dạy truyền thống, nay lại áp dụng thêm TM, ngôn ngữ phát triển trí tuệ cho lớp trẻ. Ngoài ra, ông ta xem stress là nguyên nhân gây ra tất cả vấn đề nhận thức và hành xử. Để giải quyết  được điều đó, chúng phải được nghỉ ngơi thật sâu, ít nhất hai lần trong ngày, như giấc ngủ sâu chẳng hạn. Bởi giấc ngủ sâu sẽ giúp con người thư giãn tất cả những cực nhọc sau một ngày làm việc và cảm thấy an vui hơn trong khi làm việc.

Stress và tình trạng căng thẳng tâm trí cần được chuyển hóa thật sự và cần điều chỉnh cân đối hệ thống thần kinh. Sự cân đối đó sẽ đem đến rất nhiều lợi ích, chẳng hạn như khả năng tập trung tốt hơn, và điều này đem lại những kết quả tốt đẹp. Đây không phải là mục đích của chúng ta, chúng chỉ là một tác động thứ yếu. Điều quan trọng là trẻ em đang ở trạng thái thoải mái, chúng tạo hứng thú trong học tập, phát huy hết khả năng của mình và làm nổi bật cái có sẵn trong bản thân của chúng”.

Ông Mark Gaskell, giáo sư toán học, khuyên các giáo sư cũng nên thực tập thiền định. Ông nói rằng: ở hệ thống học đường, mỗi ngày chúng ta nên thực tập thiền định. Bởi vì tôi thấy rằng, sau khi tôi nhắm mắt lại và mở mắt ra thì tôi thấy lớp học trở nên im lặng. Sự im lặng này sẽ tạo cho các em sự tập trung, dễ tiếp thu, thông minh, lanh lợi. Đây là một lợi thế to lớn đối với giáo viên. Trong một số trường học khác, nỗ lực chỉ để có một lớp biết cách im lặng và lắng nghe đã là khó, huống chi dạy chúng mọi thứ. Nhờ đó, chúng được làm tươi mát và hạnh phúc. Cũng nên để cho chúng tự sáng tạo, lý thuyết chẳng qua chỉ là sự gắn kết tạo nên nguồn cảm hứng và tư tưởng học hỏi sáng tạo mà thôi.  

Với sự thành công này, Cassells tiếp tục khuyến khích các trường học khác nên áp dụng thiền định vào trong học đường: “Mọi người đang tìm kiếm cho mình một hệ thống giáo dục tốt đẹp, nhưng lại nhồi sọ và áp đặt các em, phương pháp đó rốt cuộc dẫn đến sự tiếp thu không tốt. Giáo dục cần có sự tự nguyện để nghĩ về mọi thứ khác. Chúng ta đang nói đến các ngôi trường sẽ quan tâm việc sử dụng phương pháp của chúng ta”.

Trẻ em, khó khăn trong học tập


Keith Snape, giáo viên chuyên gia tư vấn tâm lý cho các em học sinh gặp những tình cảnh khó khăn trong học tập, ông cho biết, “vẫn còn nhiều khía cạnh mới mẻ để giới thiệu thiền định đến với một số em học sinh, bởi các giáo viên, học sinh và tất cả cha mẹ đòi đưa ra những kết quả xác thực”.

Dĩ nhiên, những ngôi trường như vậy thì ngoại lệ, trong khi sức ép đối với các em ngày càng gia tăng, David Fontana và Igrid Slack lại cho biết, “bất hạnh thay, trong môi trường quan trọng lại không được thực hiện để giúp các em học cách hiểu về chúng, để kiểm soát những lo âu, quá trình nhận thức của chúng và để khám phá ra sự bình lặng tâm hồn, sự hài hòa và giữ thăng bằng trong chính bản thân của chúng”.

Ngoài những khó khăn gặp phải trong học tập ra, các em còn gặp rất nhiều khó khăn nữa trong cuộc sống, như giao tiếp hành xử với mọi người, v.v...

Trẻ em, một số phương pháp hành trì

Để giúp cho các em có một đời sống thánh thiện, có tâm hồn trong sáng và an vui hơn trong học tập, việc tìm ra một liệu pháp là điều cần thiết nên được ứng dụng thực hành. Ở đây, chúng ta có thể tham khảo một số phương pháp sau:

Tập thở

Đây là môn học căn bản đầu tiên khi tập thiền định cho cả người lớn lẫn trẻ em, nhưng đối với người lớn thì thực tập 20 phút hay lâu hơn nữa, còn trẻ em chỉ nên thực hiện nó trong vòng thời gian khoảng hơn 5 phút và chỉ tiến hành một hay hai lần đối với các em. Điều này sẽ tạo cho các em sự bình lặng trong khi thở chậm, chúng ta thở nhanh hơn và hời hợt khi nóng giận lo lắng, thì khi áp dụng thiền định sẽ giúp cơ thể thư giãn, thở chậm có ý thức hơn.

Người lớn có thể thực hiện điều này trên một cái ghế, hai chân tiếp xúc với nền nhà, nhưng trẻ em thì thích ngồi kiết già trên nền nhà. Để tạo cho các em ngồi lâu trong tư thế đó, nên cho các em ngồi trên một cái bồ đoàn (hay nệm) và chỉnh thẳng lưng, nhắm mắt. Rồi hướng dẫn thiền định như sau:

Em nhận thấy hơi thở của em đang đi vào trên mũi. Em cảm thấy hơi mát đi vào mũi khi em thở vào và cảm thấy ấm khi em thở ra. Đừng để sự chú ý của em theo hơi thở vào trong buồng phổi. Em hãy nghĩ mình như là một người lính gác đang làm nhiệm vụ bảo vệ hoàng cung, em hãy kiểm soát cẩn thận mọi thứ vào ra qua cánh cổng, em kiểm soát hơi thở cũng như vậy. Trong lúc đang thở, nếu em thấy trong tâm sanh khởi những ý nghĩ khác thì em hãy xem chúng thật đơn giản như người đang cố thử quấy rầy em và không nên để ý đến chúng.

Cách đếm hơi thở


Bây giờ tôi sẽ hướng dẫn các em thực tập đếm hơi thở. Khi các em thở vào đếm là một, thở ra đếm là hai. Chúng ta đếm đến 10 rồi đếm trở lại một. Chú ý vào hơi thở và đếm chúng một cách rõ ràng. Nếu trong khi đang đếm có suy nghĩ khác nổi lên làm cho chúng ta không nhớ là hơi thở thứ mấy thì hãy đếm lại. Đếm đến khi nào thuần thục, cảm thấy sự an tịnh nhẹ nhàng trong hơi thở, rồi sau đó chuyển sang cách đếm khác.

Thiền đi

Đây là một phương pháp thực tập cho các em cách đi bộ trong chánh niệm. Khi đi biết mình đang đi, đứng biết mình đang đứng, ngồi biết mình đang ngồi, nằm biết mình đang nằm. Làm sao cho các em nhận thức ra được trong từng hành động việc làm của mình. Bảo các em hãy chú ý quán sát vào những điều đó. Nhìn thấy chúng và cảm thấy thích thú với chúng. Thiền đi sẽ khiến cho các em cảm thấy thích thú, thoải mái hơn sau thời ngồi thiền. Phương pháp này hướng dẫn các em sự di chuyển chậm, đi từng bước với sự chỉ dẫn kỹ lưỡng. Hãy chọn cho các em một con đường để bước đi và chỉ dạy cho các em cách nhấc chân lên nhẹ nhàng chậm rãi, và nhận ra mỗi sớ thịt, bắp cơ được vận động trong từng bước đi cũng như sự nặng nề khi nhấc chân lên và đặt chân xuống của mình. Khi đặt chân xuống nên đặt một cách nhẹ nhàng và êm thắm, đầu nhìn thẳng về phía hướng chân sẽ bước tới. Khi bước chân thứ nhất đứng vững trên mặt đất, chúng ta hướng dẫn các em bước bước thứ hai. Trẻ em rất thích điều này, đây là một lợi thế giúp các em dễ dàng tiếp cận với môn học thiền.

Nơi an toàn

Phương pháp thiền định này dạy cho các em khi chúng đang bị stress hay lo lắng. Trước tiên, chọn cho các em một không gian mát mẻ rồi bảo các em nhắm mắt lại, thở vào thở ra một hay hai phút. Sau đó, hãy giảng cho các em biết cách buông xả các bộ phận trên cơ thể. Chỉ dẫn cho các em thấy rõ rằng các em đang ngồi đây được sự gia hộ của chư Phật, che chở hướng dẫn của thầy, thì không có gì phải căng thẳng, lo sợ, hãy bắt đầu quan sát từ đầu ngón chân cái, chân, lưng, bụng, vai, cổ, đầu và da đầu.

Sau đó, hỏi chúng bức tranh trong tâm của chúng nãy giờ nhìn thấy thế nào? Để cho các em trả lời theo cách suy nghĩ của chúng. Hỏi bức tranh đó có đẹp hay xấu, để các em miêu tả. Khi hỏi điều này, một số nơi chúng biết, chúng sẽ trả lời, thậm chí trả lời một số nơi do các em tưởng tượng ra. Chúng ta tôn trọng sự suy nghĩ của các em. Sau khi trình bày xong, hãy hướng dẫn các em đem tâm đi vào những nơi này và quán sát chúng. Hãy nhìn xung quanh chúng để xem tất cả các vật mà em thấy, em thích và có được. Rồi giải thích rằng, đây là một nơi an toàn các em có thể đến bất cứ lúc nào, hãy dẹp bỏ sự băn khoăn của mình, không nên lo lắng.

Cho các em một vài phút để cảm nhận cảm giác vừa tiếp cận rồi mang chúng trở lại phòng. Sau đó, bảo các em tập thở một hai phút. Rồi bảo chúng mở mắt và nhắc nhở rằng đây là nơi đặc biệt vì chúng luôn hiện hữu trong tâm của mỗi người, các em có thể đến đó bất kì lúc nào. Khi các em mệt hay học hành căng thẳng thì nên biết buông xả và ngồi nhắm mắt để trở về với tâm của mình, trở về với nơi an toàn của mình. Nhờ đó, có thể giúp cho các em nhiều  sáng kiến trong học tập.

Thiền định chính là một trong những phương pháp quan trọng nhất có thể giúp trẻ em xây dựng cuộc sống của chúng ở cả phương diện cá nhân và học tập ngày càng tốt đẹp hơn. Thiền định còn giúp các em kiểm soát đời sống nội tâm của mình, sử dụng năng lực tâm lý trị liệu có hiệu quả thay vì làm tiêu hao trong sự lo lắng và suy nghĩ không có mục đích. Tu học thiền định, các em sẽ phát huy khả năng sáng tạo trong tâm của chúng, những điều mà trước đây chưa từng được thực hiện...

 

 Quốc Bảo

Nguồn Tập San Pháp Luân 37

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Quốc Bảo) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:59:07 +0000
Thiền tập trong ngành Tâm lý trị liệu của Hoa Kỳ http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/phat-giao-khoa-hoc/6468-thien-tap-trong-nganh-tam-ly-tri-lieu-cua-hoa-ky.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/phat-giao-khoa-hoc/6468-thien-tap-trong-nganh-tam-ly-tri-lieu-cua-hoa-ky.html Ngày nay vấn đề thiền tập (tu tập thiền định theo Phật giáo) không còn là một vấn đề xa lạ trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Sự hiện diện của thiền tập như một phép mầu đã và đang làm thay đổi cái nhìn của người Tây phương, nhất là trong lãnh vực Tâm lý trị liệu. Riêng đối với dân tộc Việt Nam, thiền tập đã có mặt từ đầu thế kỷ thứ III Tây lịch. Tinh thần và hình thái của thiền tập đã thấm nhuần trong nếp sinh hoạt của người Phật tử Việt Nam. Thiền đã đi vào đời sống con người một cách nhịp nhàng uyển chuyển. Tuy nhiên, vấn đề được đem ra ứng dụng hằng ngày ngõ hầu đem đến kết quả tốt đẹp cho sự sống, đó mới chính là điều mà chúng ta cần tìm hiểu và thảo luận trong bài viết nầy.

Thống kê mới nhất của ngành Tâm lý học Hoa Kỳ cho biết rằng trong vòng 20 năm qua con số những người tự tử vì thất vọng và chán nản mà nguyên nhân chính là không tìm thấy một thế đứng quân bình trong đời sống tinh thần đã tăng lên gấp bội so với những năm về trước. Trong số những người tự vẫn nói trên hầu hết là sinh viên và lứa tuổi vị thành niên. Trong hai thập niên nầy đã có khoảng 5,000 người chết trong số 500,000 người đã có ý mưu sát. Điều nầy đã làm cho một số nhà Tâm lý trị liệu của Hoa Kỳ cũng như những nhà lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo lo lắng, lưu tâm suy nghĩ.

Nguyên nhân và tỉ lệ của những vụ tự vẫn đó được thống kê như sau:

Thất tình giữa trai gái (9%).
Mang thai lúc vị thành niên (7%).
Có cha mẹ quyên sinh (5%).
Có bà con và bạn thân tự tử (7%).
Cha mẹ ly dị hoặc mồ côi cha mẹ (17%).
Có cha mẹ ghẻ (mẹ ghẻ con chồng) (24%).
Cha mẹ tái hôn nhiều lần (13%).
Cha mẹ nghiện ngập rượu chè (5%).
Bệnh tâm thần nghiêm trọng (có cha mẹ săn sóc) (6%).
Bệnh tâm thần nghiêm trọng (không có cha mẹ săn sóc) (7%).

Những tệ trạng nêu trên cho chúng ta thấy xã hội Hoa Kỳ là một xã hội bệnh hoạn về mặt tinh thần mặc dù rất giàu có vật chất. Bị chi phối bởi nếp sống vật dục, người Mỹ bị cuốn theo vòng xoáy của đời sống vật chất ồn ào thác loạn. Họ phải làm việc cả ngày lẫn đêm chạy theo máy móc. Hãy nhìn cách đi đứng của người Mỹ chúng ta đủ thấy họ phải lo lắng như thế nào. Họ đi nhanh lắm, giống như chúng ta chạy vậy. Đối với họ, sự nghỉ ngơi yên tĩnh dường như bị khuấy động. Sự dừng lại của họ chỉ là một dấu hiệu mệt mỏi từ một công việc để rồi họ dần quên vun xới đời sống tâm linh. Đó là nguyên nhân đưa họ đến sự kiệt quệ lớn về tinh thần và sức khỏe.

Từ đầu thập niên 60 đến nay, với sự truyền bá của một số Thiền sư đến từ các nước Á châu như Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Tích Lan, Việt Nam, v.v… thiền tập đã bắt đầu chiếm một vị trí quan trọng trong lãnh vực Tâm lý học của người Tây phương. Áp dụng phương pháp thiền tập như là phương thức trị liệu tâm lý cho bệnh nhân đã giúp người Mỹ nhìn ra hướng giải quyết tích cực những tệ nạn nêu trên.

Bác sĩ Herbert Benson, giám đốc bệnh viện và hội đồng Y khoa kiêm giáo sư của trường đại học Harvard, qua một thời gian thực nghiệm đã cho biết: Thiền tập có khả năng làm giảm những dao động thần kinh mà đã đưa tới sự lo âu buồn chán. Thiền tập còn làm thấp mức độ tiêu thụ năng lượng khí Oxyen trong cơ thể, đem chúng ta trở về sự điều hòa trong nhịp đập của tim. Và thiền tập còn làm giảm bớt sự căng thẳng của hệ thống thần kinh giao cảm mà nguyên nhân của sự căng thẳng nầy có thể đưa tới bệnh cao áp huyết, bệnh ép tim và một số bệnh nan y khác.

Theo sự quan sát của một nhóm nghiên cứu tại bệnh viện Beth Israel ở Boston cho biết họ đã theo dõi một nhóm người đang thiền tập 2 lần trong một ngày, mỗi lần 20 phút. Họ đã thử nghiệm bằng cách theo dõi nhịp đập của tim, hơi thở và mức độ lưu lượng máu trong cơ thể của những thiền sinh với những thời khắc khác nhau tùy theo sự hoạt động của họ như khi đi, đứng, nằm, ngồi, nghỉ ngơi và làm việc… Kết quả cho thấy kích thích tố giữa những tế bào trong cơ thể của những thiền sinh nầy thực sự yên tĩnh thoải mái trong suốt thời gian nầy. Những kích thích tố nầy sẽ tăng trở lại tùy theo mức độ thay đổi những hoạt động của họ.

Thí nghiệm trên đưa tới kết luận: Thiền tập sẽ làm vơi nhẹ những ảnh hưởng của những kích thích tố trong cơ thể, giúp cho chúng ta điều hòa hơi thở và nhịp đập của con tim đưa đến cho chúng ta một sự thoải mái trong tâm hồn. Bác sĩ John Hoffman, giáo sư ngành y học tại Viện đại học Harvard cho biết, khi mức độ kích thích tố trong cơ thể được điều hòa và ngưng đọng bằng phương pháp thiền tập thì mức độ lưu lượng của máu cũng như nhịp đập của tim sẽ được bình thường, khác hẳn với những lúc chúng ta mệt nhọc và những lúc cơ thể chúng ta có những đòi hỏi khác thường. Như vậy, thiền tập có thể giúp chúng ta bảo vệ được sự nguy hiểm cho tánh mạng của những người mang một số bệnh nan y như bệnh áp huyết cao, bệnh ép tim, bệnh AIDS và bệnh tiểu đường.

Bác sĩ M. S. Frebert và bác sĩ T. M. Mead, hai trong số 116 nhà nghiên cứu y dược của Hoa Kỳ đã cùng hợp tác theo dõi một cuộc thí nghiệm như sau: Chia hai nhóm sinh viên có cùng một trình độ, môn học, thời gian và sức khỏe giống nhau. Nhóm thứ nhất học hành và giải trí tùy theo sở thích. Nhóm thứ hai vừa học vừa có những giờ thiền tập được hướng dẫn chu đáo. Sau một thời gian theo dõi, hai bác sĩ nầy đã nhận thấy rằng khả năng ghi nhận về trí nhớ của nhóm thứ hai (nhóm được hướng dẫn thiền tập song song với việc học hành) được đầy đủ và rõ ràng hơn nhóm thứ nhất. Trong các kỳ thi khảo sát bài vở tại nhà trường, nhóm thứ hai nhận được một số điểm khá cao so với nhóm thứ nhất.

Lại có hai nhà nghiên cứu khác trong số 116 nhà nghiên cứu trên, ông Patel và ông Marmot đã chia một số bệnh nhân mắc bệnh tâm thần có một căn bệnh tương đối giống nhau thành bốn nhóm và nhận bốn phương thức trị liệu khác nhau.

- Nhóm thứ nhất nhận sự chữa trị bằng thuốc men.

- Nhóm thứ hai nhận sự chữa trị trực tiếp của bác sĩ theo đúng chế độ ăn uống đã được quy định có đầy đủ dinh dưỡng. Nhóm nầy cần phải tập thể dục và ngưng hút thuốc.

- Nhóm thứ ba uống thuốc theo liều lượng của bác sĩ và nghỉ ngơi một nơi yên tĩnh.

- Nhóm thứ tư thiền tập đều đặn theo thời khoá quy định hằng ngày. Uống thuốc theo một liều lượng ít hơn so với 3 nhóm trên.

Sau một thời gian theo dõi, hai bác sĩ Patel và Marmot ghi nhận được rằng thiền tập đã đem lại một kết quả tốt đẹp cho nhóm thứ tư. Trong khi thiền tập, những bắp thịt trong cơ thể được trở về vị trí bình thường và tiếp nhận được sự lưu thông của máu một cách dễ dàng. Kèm theo đó, nhờ sự theo dõi và điều hòa hơi thở đã giúp cho nhịp đập của tim giữ được trạng thái bình thường. Những kích thích tố giữa các tế bào trong cơ thể dường như không có cơ hội để phát triển, do đó, cơ thể trở về sự thoải mái toàn diện.

Với những ghi nhận, thống kê trong ngành Tâm lý trị liệu, chúng ta thấy rằng thiền tập đã giúp cho ngành y học của Hoa Kỳ có hướng giải quyết tích cực cho một số bệnh nan y. Về lãnh vực tôn giáo, thiền tập lại càng có một giá trị cao hơn như chúng ta thường nghĩ. Người Phật tử quan niệm rằng thân và tâm là một (thân tâm nhất như). Sự hội nhập đó là một thực thể tương quan trên bình diện tâm sinh lý – không thể bảo rằng chúng ta có một thân thể bình an trong khi chúng ta có một tâm hồn bất ổn. Vì vậy, sự phát triển nội tâm rất cần phải được liên hợp với sự phát triển sinh lý. Sự liên hệ nầy được coi như là một sự liên cảm – khi tâm lý có những tiến triển rõ ràng và tốt đẹp thì đó chính là bước đầu của những tiến triển nội tâm – vượt qua những ức chế của những bệnh tâm thần và giúp chúng ta bảo vệ được sức khỏe, chống lại chứng bệnh cao áp huyết, chứng bệnh ép tim và điều hòa được hơi thở. Đó cũng là những nguyên tắc căn bản của đời sống nội tâm bắt nguồn từ những phương pháp thiền tập trong Phật giáo.

Trong kinh Pháp cú, đức Phật dạy rằng: “Trong các pháp, tâm làm chủ, tâm dẫn đầu, tâm tạo tác tất cả…”. Đây là câu kinh vô cùng quan trọng liên hệ đến tâm sinh lý của con người. Để chứng minh điều này, các nhà y học đã dùng những dụng cụ y học để đo đạc những hệ thống thần kinh trong chúng ta vào những lúc thiền tập và những lúc bình thường (không thiền tập) đã đưa tới một kết luận rằng sự vui buồn, sầu đau, giận, ghét, v.v... đều là những nguyên nhân làm tăng trưởng những kích thích tố trong cơ thể con người đưa đến hậu quả có thể làm tăng nhịp đập của tim, có ảnh hưởng lớn đến sự hô hấp và cao áp huyết. Trong Phật giáo, thiền tập làm lắng đọng dòng tâm thức đang bị tán loạn, đưa tâm tư trở về niềm an định tự do thoải mái, sân hận được diệt hẳn và chỉ có sự bình an hiển lộ. Thực tập thiền như vậy là chúng ta đang nuôi dưỡng một thân thể bình an, tươi mát phát nguồn từ một tâm thức lắng dịu trong sáng.

Dưới đây là những trình tự mà Bác sĩ Herbert Benson cũng như nhiều bác sĩ khác đã dựa theo kinh điển của Thiền Phật giáo hướng dẫn những bệnh nhân của họ thực tập trong khi thí nghiệm bằng những dụng cụ y học:
1. Hãy chọn một chữ hay một câu ngắn đầy đủ ý nghĩa phát xuất từ đức tin của mình để thầm niệm trong khi ngồi thiền (nếu là Phật tử thì hãy chọn một câu thần chú hay danh hiệu của một đức Phật hay Bồ-tát).

2. Ngồi một cách yên lặng trong một tư thế tự nhiên, bất cứ tư thế nào mà mình cảm thấy thoải mái (nếu là Phật tử thì hãy ngồi trong tư thế bán già hay kiết già).

3. Khép mắt lại một cách tự nhiên (không cần nhắm kín, nên mở mắt chừng 3/10).

4. Để cho các bắp thịt thoải mái bằng cách buông thả –  không gắng gượng trong khi ngồi – và mặc áo quần rộng rãi.

5. Hít vào và thở ra thật đều và thật sâu trong khi đó lặp lại câu (thần chú) mình đã chọn.

6. Đừng để tư tưởng phóng ra ngoài vì bất cứ một điều gì. Giữ sự bình thản nhẹ nhàng và theo dõi hơi thở, chú ý vài điều đang lặp lại.

7. Tiếp tục như trên ít nhất từ 10 đến 20 phút.

8. Thiền tập thường xuyên mỗi ngày hai lần.

Nên nhớ rằng trong khi thiền tập theo những phương pháp trên đây đừng có ý niệm mong cầu cho một sự bình an hay chứng ngộ. Hãy thực tập như sự cần thiết của thức ăn cho cơ thể. Có như vậy chúng ta mới tự thân chứng nghiệm lời Phật dạy cũng như những lời tuyên bố của các bác sĩ trong ngành Tâm lý trị liệu Hoa Kỳ.

 

Thích Hạnh Tuấn



Tài liệu tham khảo
- Hales and Williams, An Invitation to Health, Benjamin , 3rd edition, 1986.
- Health Magazine, July 01st, 1982. p.16.
- New Scientist 21, February, 1988, pp. 38-39.
- American Medical News, May 5th, 1989, p. 34.
- Hebert Benson, The Relaxation Respond, William Morrow, New York, 1975.
- Psychology Today, January, 1981, p. 87.
- Guy and Claxton, Beyond Therapy, Wisdom, London, 1986.

Nguồn Tập San Pháp Luân 37

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Hạnh Tuấn) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:57:30 +0000
Thiền sư Vạn Hạnh – Vị Quốc sư tài ba lỗi lạc http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-viet-nam/6467-thien-su-van-hanh--vi-quoc-su-tai-ba-loi-lac.html http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-viet-nam/6467-thien-su-van-hanh--vi-quoc-su-tai-ba-loi-lac.html  
alt  
 
Thật tuyệt vời! Chỉ với một bài sấm vỏn vẹn bốn mươi chữ mà có sức mạnh bằng cả đoàn quân, đánh đổ được một vương triều. Trong bốn ngàn năm lịch sử của nước ta chỉ có hai người “buôn vua” thành công như Lã Bất Vi thời Chiến quốc (TQ). Đó là sư Vạn Hạnh và Trần Thủ Độ (2). Họ là hai trong những nhà chánh trị lỗi lạc của nước ta.

Sau khi vua Đinh Tiên Hoàng cùng con trai Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết hại (979) triều đình tôn phò Đinh Toàn lên ngôi mới 6 tuổi. Quan Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm phụ chính phó vương. Vài tháng sau, nhà Tống đưa hơn 3 vạn quân thuỷ bộ chia làm hai đường tiến sang xâm lược nước ta tình thế rất nguy cấp. Lê Hoàn bèn sai đại tướng quân Phạm Cự Lương đem quân chống cự. Trước khi ra mặt trận, Cự Lượng cùng các tướng sĩ kéo thẳng vào điện kim loan nói với quần thần: “Thưởng kẻ có công, giết kẻ không theo mệnh lệnh là phép hành binh. Nay chúa thượng còn thơ ấu, chúng ta dốc sức liều chết chống kẻ địch bên ngoài, dù có lập được chút công thì ai biết cho. Chi bằng trước hãy tôn thập đạo tướng quân làm thiên tử rồi sau sẽ ra quân”. Các tưóng sĩ đều tung hô vạn tuế, Dương thái hậu bèn trao áo long cổn cho Lê Hoàn lên ngôi vua tức Đại Hành hoàng đế.

Ba mươi năm sau (1009) Lê Long Đỉnh chết, con nối dõi là Sạ còn nhỏ, đáng lẽ triều đình tôn phò Sạ lên ngôi vua mới đúng đạo quân thần. Nhưng, quan Chi hậu Đào Cam Mộc lại họp bàn với quần thần: “Nay (đối với nhà Lê) ức triệu người đã khác lòng, thần dân đều lìa ý, mọi người chán ghét sự hà khắc bạo ngược của tiên đế, không muốn theo về vua nối dòng và đều có ý suy tôn Thân vệ(1). Nếu không nhân dịp nầy cùng suy tôn thân vệ làm thiên tử phút chốc xảy ra tai biến thì liệu chúng ta có giữ được đầu không”. Bá quan không ai dám có ý kiến gì bèn đem việc nầy tâu lên bà thái hậu, bà thái hậu bèn mời Lý Công Uẩn lên ngôi vua tức vua Thái Tổ, gầy dựng nên cơ nghiệp nhà Lý.

Hai cuộc thay ngôi đổi chủ giữa họ Đinh họ Lê và họ Lê họ Lý về tình tiết tương đối giống nhau nhưng về nguyên nhân thì hoàn toàn khác nhau. Nếu việc trước xuất phát từ cái hoạ xâm lăng của quân Tống thì việc sau lại bắt nguồn từ một bài “sấm ký”. Nếu việc trước do vị đại tướng quân cầm đầu thì việc sau người chủ mưu là một nhà sư trong tay không tên quân, không tấc sắt! Sự việc như sau.

Lê Long Đỉnh là đứa con hư của vua Lê Đại Hành, là đứa em ngỗ nghịch của thái tử Lê Long Việt. Sau khi giết anh chiếm ngôi, Long Đỉnh trở thành tên hôn quân vô đạo, ác như Kiệt, Trụ ngày xưa, lấy rượu gái và chém giết làm vui. Nhân dân oán ghét, căm thù cùng cực những mong sớm có vị anh hùng nào đó đứng lên đánh đổ. Triều đình cũng lắm người chán ngán, bất mãn một ông vua bệnh hoạn ngông cuồng, muốn phế truất đi nhưng chưa tìm được minh chủ.

Vào một đêm mưa to gió lớn tại làng Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, sét đánh trúng cây gạo cổ thụ. Vài hôm sau, người làng phát hiện trong vết sét đánh có chữ rằng :”thụ căn diểu diểu, mộc biểu thanh thanh, hoà đao mộc lạc, thập bát tử thành, Đông A nhập địa, mộc dị tái sinh, chấn cung hiện nhật, đoài cung ẩn tinh, lục thất niên gian, thiên hạ thái bình” (tạm dịch : gốc cây thăm thẳm, ngọn cây xanh xanh, hạt hoà đao rụng, mười tám hạt thành, Đông A vào đất, cây khác lại sanh, phương đông mặt trời mọc, phương tây sao ẩn mình, trong sáu bảy năm, thiên hạ thái bình).

Hay tin có chuyện lạ, sư Vạn Hạnh bèn đến xem rồi dùng phép chiết tự và đồng âm trong chữ Hán, phân tích, giải nghĩa cặn kẽ những ẩn tự trong từng câu từng chữ của bài sấm ký đại khái như sau: Gốc cây chỉ vua, gốc yếu tức vua yếu, ngọn cây chỉ bề tôi, ngọn xanh tức bề tôi mạnh, Họ Lê sắp mất (ba chữ hoà đao mộc ghép lại là chữ Lê), họ Lý sẽ thành (ba chữ thập bát tử ghép lại là chữ Lý). Phương đông vua xuất hiện, phương tây dân chúng mất, trong sáu bảy năm, thiên hạ thái bình. Bài sấm ký và lời bàn tinh thông, sâu sắc, rõ ràng của sư nhanh chóng lan truyền khắp trong thành ngoài nội, mọi người đều hân hoan đón chờ và có ý hướng vào Lý Công Uẩn chính là vị minh quân mà thần nhân đã mách trước cho họ biết.

Thấy mọi người đều một lòng như vậy, sư Vạn Hạnh bèn đem việc ấy nói khích Lý Công Uẩn: “Gần đây, cứ suy lời sấm thì họ Lý đáng nổi lên. Nay họ Lý trong nước có ai nhân từ khoan thứ rất được lòng người như thân vệ, binh quyền trong tay, làm chủ muôn hộ, nếu bỏ thân vệ còn ai đương nổi”. Lý Công Uẩn thích lắm nhưng vẫn còn dè dặt, sợ sự việc bại lộ sẽ mang hoạ bèn cho người giấu sư Vạn Hạnh ở Tiên Sơn. Bài sấm còn tác động mạnh đến triều thần, nhiều người theo về với Công Uẩn để hưởng lợi sau nầy, trong đó quan trọng nhất là quan Chi hậu Đào Cam Mộc. Chính ông là người ủng hộ mạnh mẽ việc đưa Công Uẩn lên ngôi vua sau khi Lê Long Đỉnh chết.

Thật ra trời không viết gì, nói gì cả. Đó chẳng qua là sản phẩm của…sư Vạn Hạnh hay nói đúng hơn sư là tác giả bài sấm trên.

Sư Vạn Hạnh ( ? – 1025) họ Nguyễn, không rõ tên tục là gì, người châu Cổ Pháp, cùng quê với vua Lý Thái Tổ, tu tại chùa Lục Tổ ở Tiên Sơn. Sư chẳng những tinh thông Phật học còn giỏi cả Nho học, Đạo học. Có chí lớn và kiến thức hơn người, nhiều kinh nghiệm sống ở đời và chốn quan trường. Biết tính toán, tiên đoán được việc trước việc sau, việc nào thành, việc nào bại. Hồi thời vua Lê Đại Hành sư là “cố vấn” về chính trị, quân sự của vua, có công lớn trong công cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược nước ta năm 981 và đánh bại quân Chiêm Thành quấy phá vùng biên giới phía nam, rất được vua tin dùng. Khi nhận nuôi dạy Lý Công Uẩn, sư khen : “Cậu bé nầy không phải người tầm thường, sau này lớn lên chắc sẽ giải quyết được nhiều việc khó, làm bậc vua sáng suốt trong thiên hạ”. Nói theo dân gian thì Lý Công Uẩn có “chơn mạng đế vương” nên sư âm thầm ôm tài thao lược phò tá nghiệp vương. Để làm được việc nầy, sư đã tận tâm dạy dỗ Công Uẩn như vị sư phó dạy dỗ thái tử khi thái tử còn ở cung tiềm để. Sư đã không phí công, hấp thụ được tinh hoa của những điều đã học từ sư phụ, Công Uẩn trở thành người khảng khái, có chí khí hơn người. Lại lớn lên nơi cửa Phật, ông còn là người đức độ, khoan từ nhân thứ, bao dung độ lượng, được triều thần và nhân dân kính phục, nễ trọng xứng đáng làm bậc đế vương. Long Đỉnh là tên hung tàn bạo ngược còn khen Công Uẩn thì huống gì ai?

Sư Vạn Hạnh rất hài lòng với người đệ tử nhưng sư vẫn phải ôm ấp cái mộng to lớn trong lòng đến trên 20 năm mà vẫn chưa thực hiện được. Bởi vì, thời vua Đại Hành, Công Uẩn còn bé và là thời thịnh trị. Sang thời Long Việt, dù các hoàng tử đánh nhau tranh giành ngôi vua gây cuộc hỗn loạn kéo dài 8 tháng trời nhưng sư vẫn chưa cho đó là cơ hội ra tay vì thế lực của họ còn khá mạnh. Đến thời Long Đỉnh, sư đoán sớm muộn gì nhà Lê cũng mất, ngặt vì chẳng có biến cố nào trọng đại ngoại trừ những cuộc nổi loan nhỏ của vài thân vương và của người Man đều bị Long Đỉnh đánh tan. Giao thiệp với nhà Tống cũng rất tốt! Đến khi hay tin chuyện sét đánh vào cây gạo, sư Vạn Hạnh mới thở phào nhẹ nhõm và biết thời cơ đã đến bèn chớp lấy và hành động ngay.

Nắm bắt được tâm lý của quần chúng và bá quan trong triều chán ghét Long Đĩnh, khát khao chờ đợi vị minh quân như con thơ chờ sữa mẹ, nắng hạn chờ mưa rào. Làng Diên Uẩn lại là quê hương của Lý Công Uẩn nên sư lén đến viết bài sấm vào vết sét đánh nhằm kích động lòng người. Để bài sấm có thêm sức mạnh và sức thuyết phục cao sư còn chỉ cho Công Uẩn và mọi người biết vị vua tương lai là ai (phương đông vua xuất hiện. Làng Diên Uẩn nằm chếch về phía đông kinh đô Hoa Lư) Đây cũng là nguyên nhân Đào Cam Mộc chỉ phò tá Công Uẩn chứ không phải ai khác. Ông ta nói với Công Uẩn, sau khi Long Đỉnh chết : “Người trong nước đều biết họ Lý đáng nổi lên, lời sấm đã hiện ra, đó là cái hoạ không thể che giấu nổi, chuyển hoạ thành phúc chỉ một sớm một chiều. Đây là lúc trời trao mệnh và người hưởng ứng theo thân vệ còn ngờ gì nữa”.

Cái mưu của sư Vạn Hạnh rất hoàn hảo cũng rất mạo hiểm như cái kế “không thành” của Khổng Minh thời Tam quốc (TQ). Mạo hiểm ở chỗ sau khi biết chuyện xảy ra ở làng Diên Uẩn, Long Đỉnh rất lo sợ, ngầm sai thủ hạ tìm người họ Lý giết đi nhưng lại “bỏ sót” Công Uẩn ở sát bên mình!? Nếu Long Đỉnh mạnh mẽ, cương quyết chắc chắn Công Uẩn sẽ bị hoạ sát thân!

Tuy nhiên, khi bày ra việc viết bài sấm trong vết sét đánh trên cây gạo, sư Vạn Hạnh biết rất rõ tâm lý của Long Đỉnh như Khổng Minh biết rất rõ bản tính của Tư Mã Ý mới dám bày ra kế “Không thành”. Là ông vua hung tàn bạo ngược nhưng xét kỹ Long Đĩnh chỉ tàn bạo với anh em trong nhà, với dân chúng, tử tội và tù binh người Man. Những việc róc mía trên đầu nhà sư, đánh tù binh người Man thật đau cho chúng kêu tên vua cha ra chửi…hoặc những cách giết người không giống ai như quấn rơm quanh tên tử tội rồi đốt, bắt trèo lên cây cao rồi chặt gốc cho ngả, nhốt vào cũi dìm xuống sông…đều là những việc làm mang tính thù vặt, liếng khỉ của một tên tiểu nhân bệnh hoạn, láu cá, không có chí khí. Trong khi đó Công Uẩn là quan to, binh quyền nắm trong  tay, được triều thần và dân chúng hậu thuẩn tạo thành bức tường rào, tấm lá chắn vững chắc bao quanh nên Long Đỉnh không dám hạ thủ chứ không phải ông ta “bỏ sót”.

Thật tuyệt vời! Chỉ với một bài sấm vỏn vẹn bốn mươi chữ mà có sức mạnh bằng cả đoàn quân, đánh đổ được một vương triều. Trong bốn ngàn năm lịch sử của nước ta chỉ có hai người “buôn vua” thành công như Lã Bất Vi thời Chiến quốc (TQ). Đó là sư Vạn Hạnh và Trần Thủ Độ (2). Họ là hai trong những nhà chánh trị lỗi lạc của nước ta. Có thể nói không có sư Vạn Hạnh và Trần Thủ Độ sẽ không có vua Lý Thái Tổ và vua Trần Thái Tông. Không có vua Lý Thái Tổ và vua Trần Thái Tông sẽ không có một thời đại hoàng kim của quân dân Đại Việt, nhiều lần đánh bại các đoàn quân xâm lược Tống, Nguyên và Chiêm Thành.

Sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ phong sư Vạn Hạnh làm Quốc sư, làm “cố vấn” cho vua như hồi thờ vua Lê Đại Hành. Sư chẳng những là người tài ba lỗi lạc trong giới thiền mà còn cả trong chánh trị, quân sự, văn hoá…Nhờ ảnh hưởng và sự dạy dỗ của  Sư, vua Lý Thái Tổ đã thừa thời mở vận, có đức độ và tầm nhìn xa rộng, lấy lòng nhân hậu trị nước an dân, truyền ngôi lâu dài tạo nên thời thịnh trị. Sư  thường hay làm thơ, tương truyền lời thơ của sư phát ra đều là lời sấm. Sư thường đọc cho các đệ tử nghe bài thơ:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhâm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

 (Thân người như ánh chớp có như không. Muôn cây xuân tươi tốt thu héo khô. Mặc vận thịnh suy đừng lo sợ. Vận thịnh suy cũng như hạt sương trên đầu cỏ mà thôi).

Vào mùa thu tháng 8 năm Ất Sửu (1025) sư Vạn Hạnh hoá thân về cõi niết bàn. Vua Lý Thái Tổ đích thân về chùa Lục tổ viếng tang, lập đàn siêu độ cho sư và cấp dân hộ làm người coi chùa, mỗi năm hai người. Vua Lý Nhân Tông khen sư bằng bài thơ:

Vạn Hạnh dung tam tế

Chân phù cổ sấm ky

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ

 (Vạn Hạnh thông ba kiếp, phục hợp cổ sấm thi, quê hương châu Cổ Pháp, cắm gậy trấn kinh kỳ). *

 

(Bài kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội)

TRƯƠNG HOÀNG MINH

 

----------------

]-->Chức quan của Công Uẩn : Tả thân vệ

Điện tiền chỉ huy sứ

       (2)  Việc Trần Cảnh vào cung hầu hạ Lý Chiêu Hoàng,

được se duyên chồng vợ cùng Chiêu Hoàng, được

Chiêu Hoàng nhường ngôi là cái mưu của TTĐ

*   Sách tham khảo : Đại việt sử ký tiền biên

của Ngô Thì Sĩ (NXB.KHXH – 1997)

]]>
tcanhco@yahoo.com (TRƯƠNG HOÀNG MINH) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:51:40 +0000
Suối Nguồn Bình Đẳng Tánh http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6466-suoi-nguon-binh-dang-tanh.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6466-suoi-nguon-binh-dang-tanh.html Pháp vũ đồng lưu, lưu bất đoạn
Phật đăng phổ chiếu, chiếu vô cùng
Mưa pháp tràn lan, lan chẳng dứt
Ðèn từ rạng chiếu, chiếu không cùng.

(Tổ Khánh Hòa)

 

Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, Phật Giáo đồ khắp năm châu đã đón nhận ánh sáng khai ngộ của Ðức Phật bằng sự chân thành cung kính và tri ơn vô cùng vô tận. Khi còn là Thái tử Tất Ðạt Ða, nhận thấy cảnh sanh lão bịnh tử, đem đến sự thống khổ cho nhân loại, Ngài quyết tâm ra đi tìm đạo giác ngộ giải thoát cho chúng sinh. Trải qua nhiều chặng đường cầu đạo gian lao, với sáu năm kiên trì khổ hạnh, Ðức Phật đoạn trừ được hết tham ái, lậu hoặc và vô minh, chứng đắc quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác, trở thành Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau khi đắc đạo, Ðức Thế Tôn nhắn gởi nhân loại thông điệp: "Tất cả chúng sanh đều bình đẳng trong Phật tánh, không phân biệt giai cấp quí tộc hay hạ tiện. Ta là Phật đã thành, tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật". Nghĩa là không có giai cấp phân biệt trong Phật tánh, khi mê lầm là chúng sanh, khi giác ngộ sẽ thành Phật. Ai cũng có Phật tánh giống nhau và có thể tu hành để thoát vòng luân hồi sanh tử. Ðó chính là "Suối Nguồn Bình Đẳng Tánh" chân thật tuyệt đối.

Sự Bình Ðẳng Trong Nhân Gian:

Xưa kia, xã hội sống dưới sự thống trị của giai cấp giàu có và đầy quyền lực. Do đó, tạo ra nhiều bất công và bất bình đẳng về vật chất, quyền lợi và địa vị. Nhân gian thống khổ lầm than, đấu tranh, hận thù, chết chóc luôn xảy ra. Vì phải chịu đựng sự áp bức bất công, đau khổ, nghèo đói, và ly tán, người dân thường hay cầu khẩn, van xin, để được nhiều điều ước muốn bình an như ý. Họ tìm tới những thuật sĩ và đạo sĩ, chuyên dụ dẫn mê hoặc tín đồ nhẹ dạ, nhắm mắt tin tưởng những vị thần thánh huyền thoại tưởng tượng, đầy vạn năng, có thể ban phước giáng họa theo lời cầu khẩn van xin. Dựa vào những ảo tưởng mơ hồ đó, thường không được như ý, con người chìm đắm trong đau khổ và thù hận, chiến tranh bùng nổ khắp nơi. Ngày nay, luật pháp do con người đặt ra, tôn trọng nhân quyền trong xã hội tuy có tiến bộ, bình đẳng được cải thiện trong một số lãnh vực cần thiết về đời sống, đạo đức được đánh giá cao, nhưng đó chỉ là bình đẳng tương đối trong thế gian mà thôi.

Trong đời sống gia đình, giữa vợ chồng, con cái, sự bình đẳng được đặt vào vị trí cho từng thành viên. Ðạo đức giữa vợ chồng là phải có sự tôn trọng, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Cha mẹ phải có trách nhiệm về sự trưởng thành của các con. Phận làm con cũng phải vẹn tròn hiếu đạo đối với cha mẹ. Như vậy ngay trong gia đình, sự bình đẳng tương đối đem lại an lành và hạnh phúc. Ðạo đức xã hội được cải thiện, đời sống bớt đi tranh chấp, phân biệt đối xử, phải trái, hơn thua, được mất, giấc ngủ mọi người tương đối được bình yên. Kinh Pháp Cú có dạy:

Người hơn thì thêm oán

Kẻ thua ngủ chẳng yên

Hơn thua đều xả bỏ

Giấc ngủ được bình yên.

Suối Nguồn Bình Ðẳng Tánh Trong Nhân Quả:

Chân lý nhân quả chi phối việc thiện ác từ quá khứ, hiện tại và vị lai, trong nhiều đời nhiều kiếp. Những hành vi thiện ác đều bình đẳng trong nhân quả, không có sự biệt trừ. Ai tạo nhân lành thì hưởng kết quả an vui, ai gieo nhân ác thì lãnh hậu quả đau khổ. Con người nếu biết dừng các nghiệp nhân xấu ác, bất thiện từ trước, ngày nay biết tạo nhiều nghiệp nhân thiện lành phước báu; đến khi nghiệp quả, nghiệp báo xảy đến, còn gọi là quả báo, con người cũng phải đền trả, nhưng nhờ có phước báo nên chỉ đền trả một cách nhẹ nhàng hơn. Ðó chính là “Suối Nguồn Bình Ðẳng TánhTrong Nhân Quả”. Kinh Pháp Cú có dạy:

Hận thù diệt hận thù

Trên đời không thể có

Từ bi chuyển hận thù

Hận thù sẽ tự diệt.

Như muốn được an lạc hạnh phúc, con người phải biết xả bỏ oán kết với người, lấy ân báo oán, oán nghiệp sẽ tự tiêu tan. Người muốn tạo phước đức, để không phải đền trả quả báo một cách nặng nề do nghiệp nhân cũ, trước hết phải tự thanh lọc thân khẩu ý cho toàn thiện, tự chế tham sân si của bản thân, tu nhân tích đức, giúp đỡ người hoạn nạn. Ðó là phép tu chuyển nghiệp tốt nhất.

"Suối Nguồn Bình Đẳng Trong Tánh Trong Nhân Quả", là tự thân mỗi người khi sanh ra trong thế gian này đều khác nhau về hoàn cảnh, phước báo, khả năng, thể chất, tri thức. Hiểu rõ được các sai khác này là sự suy nghĩ chân chánh, trong bát chánh đạo gọi là chánh tư duy. Từ đó, chúng ta sẽ sống vì người, nghĩa là không so đo, không hơn thua, không ganh ghét đố kỵ và không thù hằn vô cớ với người.

Chúng ta cảm thấy vui với hạnh phúc của người, biết chia sẻ nỗi khổ của người bất hạnh, biết cách đối xử với nhau bằng sự chân thật của lòng bình đẳng vị tha. Nếu con người luôn sống đời phạm hạnh đạo đức, tâm tánh bình đẳng khiêm cung, lòng bao dung và bình đẳng với người kém phước hơn mình, chính là nhân lành đem về kết quả an vui. Sống trên đời không ai muốn bị sỉ nhục, tài sản bị chiếm đoạt, hay bị mất thân mạng. Những hành động tốt giúp đỡ người cô thế, an ủi người bị thất bại, lòng tôn trọng người sẽ được người tôn kính trở lại.

* Tôn trọng nhân phẩm người như nhân phẩm của mình

* Tôn trọng tài sản người như tài sản của mình.

* Tôn trọng sinh mạng người như sinh mạng của mình.

Suối Nguồn Bình Ðẳng Tánh Trong Ðạo Phật:

Ðức Phật như một tấm gương sáng ngời, đạo hạnh của Ngài chuyển hóa được xã hội đầy những chia rẽ, bất công, trở về đời sống đạo đức. Giáo lý của Đức Phật là "Suối Nguồn Bình Đẳng Tánh" công bằng tuyệt đối, đã đem mọi người trong xã hội ngồi gần lại với nhau. Đạo Phật dạy, giữa người với người một cái nhìn khinh mạn, một cử chỉ chê cười cũng không nên có.

Ngày nay, mọi người gặp nhau trong chùa, thường chắp tay chào nhau một cách cung kính, đó là thể hiện sự trân trọng Phật Tánh bình đẳng sẵn có của mỗi người, không phân biệt tại gia hay xuất gia, hoặc tướng giàu, tướng nghèo, địa vị cao hay thấp. Khi chào nhau như vậy, tâm con người trở nên khiêm hạ vô tư, tinh thần bình đẳng tánh trong đạo Phật là không thấy mình lễ và không phân biệt người nhận lễ. Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh. Ðó là hình ảnh thật đẹp và cao quí vô cùng của những người biết tôn trọng "Sự Bình Đẳng Tánh Trong Đạo Phật".

Căn bản của đạo Phật là sự sáng suốt ngay tự thân tâm thanh tịnh, rèn luyện người tu đức tánh bình đẳng bằng Phật tâm, Phật tánh. Con người muốn tu phải diệt lòng tham lam, sân hận, si mê và ích kỷ ngã mạn, trở về với "Suối Nguồn Bình Đẳng Tánh" chân thật cao thượng theo lời Phật dạy. Sự tôn trọng nhân phẩm tất cả mọi người, từ hành động thân khẩu ý đều do tâm từ thanh tịnh mà ra. Đạo Phật khuyến khích con người tu tâm dưỡng tánh, khai mở trí tuệ, tăng trưởng thiện căn, tạo nhiều phước đức, an lạc và hạnh phúc khắp mọi nơi. Kinh Pháp cú, Đức Phật dạy:

Tâm dẫn đầu mọi pháp

Làm chủ và tạo tác

Lời nói hay hành động

Với tâm từ thanh tịnh

Hạnh phúc sẽ theo ta

Như bóng không rời hình.

Diệu Dụng Của Suối Nguồn Bình Đẳng Tánh:

Khi bản tánh cao thượng của con người không còn thấy ai hơn ai kém, không còn tánh kiêu căng ngã mạn, con người sống trong Phật tánh sáng suốt của "Suối Nguồn Bình Đẳng Tánh", nghiã là luôn luôn sống với tâm giống như chư Phật. Sự an lạc chân thật của người có tâm hạnh bình đẳng ảnh hưởng đến những người thân sống chung quanh, cũng là gương giác ngộ sáng suốt lợi tha hiệu quả vô cùng. Tuy con người mê ngộ không đồng, nhưng Phật tánh đều bình đẳng. Người biết cách tu, không phân biệt tại gia hay xuất gia, có được tánh khiêm cung và bình đẳng, sẽ gặt hái được rất nhiều điều lợi ích cho cuộc sống. Muốn có được công đức và phước đức, dùng làm chiếc thuyền vượt qua biển khổ phiền não vô cùng vô tận từ nhiều đời kiếp, chúng ta cố gắng làm được 10 điều sau:

Tâm cầu đạo, nhiệt thành tinh tấn Biết hổ thẹn, ghê sợ tội lỗi Không độc hiễm, thù oán hại người Không ganh tỵ, đức tánh trong sạch Không bỏn sẻn, tâm từ quảng đại Không khinh người, nếp sống đạo đức Tu đạo hạnh, trau giồi Phật pháp, Làm từ thiện, giúp đời cứu người Biết hy sinh, vì người quên mình.  Hành việc đạo, sáng suốt khôn ngoan.

Ðức Phật thành đạo ngay cõi ta bà và thuyết pháp độ sanh suốt 45 năm cho đến lúc nhập diệt, để lại bao nhiêu lời dạy vàng ngọc quí báu hơn cả trân châu trong cõi đời. Tâm đại từ đại bi như cha lành thương con, tất cả đệ tử đều phải nương vào giáo lý của đức Thế Tôn trao truyền mà được giác ngộ sáng suốt theo chánh đạo, không đi sai đường vào tà đạo. Ðức Phật dạy ba môn học "Giới Ðịnh Tuệ" làm căn bản, nghĩa là hành giả tu theo Phật phải tự thắp đuốc lên mà đi, để biết đường mà tu, biết đạo mà hành.

- Giới là những điều luật giữ cho con người không tạo nghiệp ác.

- Ðịnh là sự hành trì tu tập đoan chánh đi đến nhất tâm không còn loạn động.

- Tuệ là sự giác ngộ sáng suốt đưa đến giải thoát sanh tử, đoạn tận vô minh.

Tóm lại, đạo Phật là đạo giác ngộ và giải thoát, đức Phật là bậc từ bi và trí tuệ cao tột. Trí tuệ giác ngộ là biết đời sống vô thường, sanh diệt không ngừng, con người chuyển biến từ sanh, lão, đến bịnh, tử; và hiểu được sự bình đẳng vô phân biệt của Phật tánh.

Tâm từ bi đưa con người đến sự giải thoát phiền não của nghiệp chướng nhiều đời kiếp. Người tu biết trưởng dưỡng tâm từ bi, biết giữ giới, tu thiền định, được trí tuệ, tự tu tự độ sẽ được giải thoát khỏi khổ đau và sanh tử luân hồi. Ðó là con đường thành đạo quả chánh đẳng chánh giác mà Ðức Thế Tôn đã đi và chỉ dạy với tâm đại từ đại bi cao thượng.

Trong Kinh Pháp Hoa, Thường Bất Khinh Bồ Tát đã giác ngộ được Phật tánh bình đẳng cao thượng, gặp ai Ngài cũng nói: "Tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật". Suối nguồn bình đẳng tánh là sự giác ngộ và giải thoát của Phật tâm, Phật tánh nơi tự thân mỗi con người. Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa. Chánh pháp của đức Phật mãi mãi là con đường tiến đến tâm hạnh thiện lành trọn vẹn cho người tu, và đem lại đời sống đạo đức cao thượng, để không còn cái ta khổ đau và phiền não nữa. Chân lý tối thượng vượt trên tất cả chính là "Suối Nguồn Bình Đẳng Tánh" vô ngã tuyệt đối. []

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

TKN. Thích Nữ Chân Liễu (Canada)

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Nữ Chân Liễu ) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:49:27 +0000
Bình An Như Áng Mây http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6465-binh-an-nhu-ang-may.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6465-binh-an-nhu-ang-may.html 32. Cay Le truoc Tang Xa Xom ThuongSáng hôm đó em đến và hỏi tôi “bình an giống như điều gì?” Em hỏi tôi thật bất ngờ. Tuy vậy ngay lúc đó tôi vẫn có câu trả lời cho em. Tôi còn nhớ câu trả lời của tôi cho em khi đó là “bình an như áng mây”. Áng mây có được bình an bởi áng mây có sự tự do. Trên bầu trời trong xanh, bao la ấy mây có thể đi khắp tất cả mọi nơi mà mây muốn đến. Tất cả những ngọn núi trên thế gian này điều có thể trở thành nơi dừng chân của mây. Có thể hôm nay mây ở Hy Mã Lạp Sơn, nhưng ngày mai mây sẽ ở núi Phú Sĩ và đôi khi ngày mốt mây lại ở một ngọn núi nào khác.

 Không có ai có thể ràng buột được mây, không có bất kì một ngọn núi nào dù đẹp và hùng vĩ đến đâu lại có thể ràng buộc được mây. Đơn giản bởi vì mây có sự tự do. Vì có sự tự do nên mây có bình an.

 Năng lượng của bình an cũng chính là năng lượng của sự sáng tạo và bồi đắp. Em thử nghĩ một người muốn làm thật nhiều điều cho mọi người nhưng trong tâm chứa đầy năng lượng của bất an thì làm sao người đó có thể cống hiến những thành quả tốt đẹp nhất được. Không những vậy đôi khi những gì người ấy tạo ra lại mang kết quả ngược lại.

 Khi trong em có năng lượng bình an thì em sẽ có được năng lượng của sự che chở. Em sẽ giúp được những người em thương trong những lúc nắng nóng của cuộc đời. Một người đang bị cơn giận đốt cháy cũng như người đang đi trên sa mạc vừa khô cằn vừa không có bóng mát của bất kì tán cây nào cả. Và em chính là áng mây cho người đó bóng mát. Em chính là cơn mưa đem lại cho người đó những giọt nước thanh lương và làm dịu đi cơn nóng bức.

 Trong tâm em có được bình an thì em có được tình thương. Từ tình thương sẽ cho ta tuệ giác, sẽ cho ta có được trí tuệ sáng suốt để giúp đời, giúp người mà không bị vướng vào hệ lụy.

 Ta đi vào cuộc đời, ta giúp người nhưng ta vẫn có tự do. Ta có tự do của một áng mây. Ta thương tất cả những ngọn núi. Ta thương tất cả những miền đất trù phú có nhiều cây xanh bóng mát, chim chóc nhưng ta cũng thương luôn nhưng nơi khô cằn sỏi đá, nhưng nơi hoang vắng, lạnh lẽo.

 Khi có bình an của áng mây thì ta sẽ có ước nguyện. Ước nguyện làm bóng mát chở che cho muôn loài. Ước nguyện làm hạt mưa để dịu mát những nơi khô cằn nắng hạn. Ước nguyện làm đại dương bao la để chào đón tất cả những sinh vật và làm nơi nương náu cho muôn loài.

 Và nếu có ai hỏi tôi một lần nữa bình an giống điều gì, thì tôi vẫn trả lời cho người ấy như tôi đã từng trả lời cho em rằng “bình an như áng mây”

 

Thầy Pháp Nhật

(langmai.org)

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Pháp Nhật) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:45:40 +0000
ĐẠI LỄ PHẬT GIÁO KỶ NIỆM 1.000 NĂM THĂNG LONG – HÀ NỘI http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6464-dai-le-phat-giao-ky-niem-1000-nam-thang-long--ha-noi.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6464-dai-le-phat-giao-ky-niem-1000-nam-thang-long--ha-noi.html
alt

Vào lúc 8 giờ ngày 28 tháng 7 năm 2010, tại khu di tích lịch sử Hoàng thành Thăng Long, Thủ đô Hà Nội, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam – Bộ Ngoại giao trọng thể tổ chức Lễ khai mạc tuần lễ Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và tuần lễ văn hóa dân tộc và Kiều bào Việt Nam hướng về Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Đến chứng minh và tham dự có Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ - Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam; HT. Thích Thanh Tứ - Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS; HT. Thích Thiện Nhơn – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS; TT. Thích Bảo Nghiêm – Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng Ban Trị sự Phật giáo Tp. Hà Nội; chư Tôn giáo phẩm HĐCM, HĐTS, Ban Trị sự các tỉnh, thành hội Phật giáo và hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước tham dự.

Buổi lễ với sự hiện diện của bà Trương Mỹ Hoa – nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCNVN; ông Nguyễn Thanh Sơn – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài; quý ông, bà đại diện các Bộ, ngành Trung ương và Tp. Hà Nội; hơn 100 kiều bào Việt Nam đại diện cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống và học tập tại các nước trên thế giới.

Được biết, sau khi lên ngôi hoàng đế, với sự góp ý của các bậc Quốc sư, Thiền sư và các đại thần, vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay) về thành Đại La (Hà Nội ngày nay). Với tầm nhìn chiến lược của bậc nhân quân, thành Đại La có vị thế rồng chầu hổ phục, địa thế thuận lợi nhiều mặt để xây dựng đất nước Đại Việt ổn định chính trị, phát triển kinh tế, xã hội phồn vinh, quân sự vững mạnh để ngăn chặn các cuộc xâm lăng và mở mang bờ cõi về phương Nam.

1.000 năm đã đi qua, Thăng Long – Hà Nội luôn là cái nôi của đất nước, là thủ đô của nhiều vương triền phong kiến Việt Nam và nước Cộng hòa Xã hội Chu nghĩa Việt Nam hiện nay. Để tưởng nhớ vị anh minh, tài đức vẹn toàn Lý Công Uẩn, các bậc tiền nhân, các vị Quốc sư, Thiền sư đã có nhiều công đức cho việc xây dựng một vương triều Lý hùng mạnh mọi mặt; tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị Lãnh tụ tài ba của dân tộc, các anh hùng liệt sĩ đã giữ vững đất nước, độc lập, tự do của tổ quốc qua hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại cũng như cầu cho quốc thới dân dân an, nhân dân an cư lạc nghiệp, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc. Tổ chức một lễ kỷ niệm ngay nơi hoàng thành thuở trước để các thế hệ con cháu Vua Hùng tự hào về 4.000 năm văn hiến Việt Nam, tự hào về 1.000 Thăng Long – Hà Nội, nơi hội tụ hồn thiêng sông núi, tự hào về những bản anh hùng ca bất diệt trong dựng nước và giữ nước của toàn dân tộc Việt Nam ở trong nước và nước ngoài qua các giai đoạn lịch sử, thời chiến cũng như thời bình.

alt

 

Hòa thượng Thích Thiện Nhơn – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS GHPGVN phát biểu khai mạc Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Diễn văn khai mạc có đoạn viết:

“Hôm nay trong bầu không khí trang nghiêm và hội tụ hùng khí linh thiêng của dân tộc, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng toàn thể các tầng lớp nhân dân có tín ngưỡng Phật giáo thuộc các dân tộc Việt Nam, hội tụ tại Hoàng Thành Thăng Long lịch sử để sửa soạn lễ nghi, cử hành Đại Lễ tri ân công đức các bậc tiền nhân đã có công lao to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, cầu nguyện quốc thái dân an hùng cường vững mạnh, thế giới hoà bình, người người an lạc.

Từ thời vua Hùng dựng nước, đất Phong Châu rộng lớn oai hùng, luôn luôn hướng về đồng bằng châu thổ Sông Hồng mầu mở phì nhiêu, định hướng tiến cho dân tộc và mở mang bờ cõi về phương Nam và Biển Đông rộng lớn.

Đến thời đại Giao Châu, Tống Bình một thuở, thành Đại La xuất hiện hình thành, định vị Trung tâm Nước Việt. Dù có lúc Vạn Xuân tươi đẹp muôn năm, Long Biên – Rồng bay uốn khúc, Đại Cồ Việt oai hùng, Hoa Lư – Vườn hoa dân tộc, một khí thế từng bừng, hội tụ hồn thiêng dân tộc, nuôi dưỡng ý chí quật cường, phát triển đất nước bền vững, sánh vai cùng các nước lân bang. Từ đó, khi lên ngôi Hoàng đế, vua Lý Thái Tổ đã ban chiếu dời đô từ Hoa Lư – Ninh Bình về thành Đại La (1010), ở nơi ấy rồng vàng xuất hiện, vươn tới trời cao, Vua đổi tên Đại La thành Thăng Long – Hà Nội ngày nay.

Trong 216 năm triều Lý, 175 năm đời Trần, kinh đô Thăng Long rực rỡ huy hoàng tráng lệ, phong quang, no ấm, dân giàu, nước mạnh về mọi mặt: Văn hóa, kinh tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng được củng cố và có hướng phát triển về phía Nam và biển Đông. Với bối cảnh đất nước như trên, Phật giáo thời Lý, thời Trần được coi trọng như là tôn giáo của dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước Đại Việt quang vinh, huy hoàng dưới ánh sáng từ bi, trí tuệ, bình đẳng của giáo lý Phật Đà.

Biết bao công trình Văn hóa Phật giáo còn để lại cho dân tộc Việt Nam ngày nay. Chùa Diên Hựu - Một Cột, chùa Hưng Long, chùa Lý Triều Quốc Sư, chùa Hồng Phúc, Báo Thiên Bảo Tháp, chùa Quán Sứ, chùa Lánh (Chiêu Thiền), chùa Khai Quốc – Trấn Quốc bên Hồ Tây đẹp đẽ thơ mộng của Thủ đô Hà Nội cũng như thời đại Hồ Chí Minh lịch sử tên vàng, ngàn sao lấp lánh, Ba Đình lịch sử với Lăng Hồ Chủ tịch uy nghiêm.

Ôi:

"Thăng Long cảnh đẹp nên thơ

Tây Hồ trăng sáng ngẩn ngơ nhớ người"

Qua bao thăng trầm của lịch sử, biết bao sự biến thiên của thời cuộc, của vận nước, nhưng đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, Phật giáo Việt Nam luôn luôn là một, trong thế đứng vững vàng, an nguy có nhau, chung sức chung lòng, dựng nước và giữ nước, giữ gìn hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Với tinh thần lịch sử oai hùng trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, thời chiến tranh cũng như thời bình, Phật giáo Việt Nam luôn luôn đồng hành với dân tộc, bám trụ, bám làng, bám vào lòng dân tộc để duy trì đạo mạch và phát huy Đạo Đời tươi đẹp. Do hoàn cảnh chiến tranh ly tán, vì thế Đạo pháp cũng có phần suy yếu, cho nên mới có phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Dù vậy, Thăng Long - Hà Nội vẫn là cái nôi, là trung tâm Phật giáo cả nước, là trung tâm của Giáo hội Tăng già Toàn quốc Việt Nam.

Sau một thời gian chia đôi đất nước, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đại thắng vào mùa xuân năm 1975, nước nhà thống nhất, giang sơn nối liền một cõi, Bắc Nam sum họp một nhà. Lại một lần nữa Thăng Long – Hà Nội vẫn là trung tâm hội tụ của Phật giáo cả nước, của lịch sử 2000 năm Phật giáo Việt Nam. Đại hội thống nhất Phật giáo cả nước tại chùa Quán Sứ - Thủ đô Hà Nội – hình thành ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981.

Qua gần 30 năm hoạt động, Phật giáo Việt Nam ngày nay đã phát triển huy hoàng trong lòng dân tộc Việt Nam, không những phát triển trong nước mà còn lan tỏa ra thế giới, khắp năm châu, bốn biển. Phật giáo Việt Nam ngày nay trong thời kỳ hội nhập, phát triển của thế kỷ 21 và những thế kỷ tiếp theo, góp phần xây dựng đất nước dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, củng cố hòa bình thế giới và chúng sinh an lạc.

Hướng tới chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với các cơ quan ở Trung ương và các địa phương, cùng toàn thể các tầng lớp nhân dân có tín ngưỡng đồng tổ chức Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, nhằm mục đích nêu cao truyền thống uống nước nhớ nguồn đối với các thế hệ Tổ Tiên đã có công xây dựng kiến tạo đất nước, thủ đô văn hiến Thăng Long - Hà Nội suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và cầu nguyện nhân dân no ấm giàu mạnh an lạc, Quốc gia thịnh trị phú cường, thế giới hòa bình.

Đại lễ diễn ra hôm nay tại địa điểm lịch sử này cũng là thời khắc tại Cộng hoà Liên bang Bra Xin, Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hoá Liên Hợp quốc (UNESCO) đang xem xét quyết định công nhận Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hoá của nhân loại thế giới. Với ý nghĩa đó, chúng tôi đề nghị tất cả các quý vị đại biểu hiện diện tại đây, cũng như đồng bào cả nước nhất tâm hướng về Đại lễ để cầu nguyện mọi sự được thành tựu viên mãn.

Trong suốt một tuần diễn ra Đại lễ, giới Tăng Ni, Phật tử cả nước nhất tâm tổ chức cung nghênh Long vị đức Vua Lý Thái Tổ, Long vị các vương triều; Cung nghênh Giác linh lịch đại Tổ sư có công với đất nước; chân linh các anh hùng liệt sỹ, chiến sỹ, đồng bào đã hy sinh trong công cộng đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ đất nước qua các thời kỳ, đặc biệt chúng ta tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đã sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng như những vị lãnh đạo đất nước đã hy sinh, từ trần trong thời đại Hồ Chí Minh.

Với truyền thống hiếu hoà và giải thoát, lấy ân báo oán của giáo lý Đức Phật, với truyền thống bang giao hữu hảo, khép lại quá khứ đau thương, hướng tới tương lai tốt đẹp, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, giới Tăng Ni, Phật tử cả nước nhất tâm cầu nguyện siêu thoát đến tất cả các chân linh, chiến sỹ trận vong, đồng bào cơ cận, tử nạn, những quân nhân các nước đã từng tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam trước đây được siêu đăng nơi Phật quốc và cung tiễn chân linh quý vị được đoàn tụ về với gia đình nơi Quý Quốc.

Bên cạnh các hoạt động nghi lễ tâm linh, cầu an, cầu siêu, chúng tôi còn tổ chức nhiều hoạt động Phật sự có ý nghĩa thiết thực khác như: tổ chức triển lãm cổ vật Phật giáo có giá trị về nghệ thuật, văn hoá, lịch sử vô giá tồn tại mãi với thời gian; những hoạt động từ thiện xã hội để giúp đỡ các gia đình nghèo, khó khăn, các cháu học sinh, sinh viên vượt khó đã có kết quả thành tích tốt trong học tập và rèn luyện; tổ chức hội thảo với sự tham gia của hàng trăm các học giả trí thức, Giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam với chủ đề “Phật giáo với 1000 năm Thăng Long – Hà Nội”; nhiều hoạt động thuyết giảng tại các trung tâm nhà văn hoá, khu du lịch, cũng như tổ chức hoạt động văn hoá nghệ thuật Phật giáo thông qua các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống, đêm hội hoa đăng mang dấu ấn 1000 năm Thăng Long – Hà Nội - Hội tụ và Phát triển bền vững.

Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, chúng ta cũng tự hào về con cháu tiên rồng, dân tộc Đại Việt oai hùng, Việt Nam anh dũng kiên cường trong suốt hơn 4000 năm Văn hiến, 2000 năm Phật giáo Việt Nam và 1000 năm Thăng Long Hà Nội hùng cường, là một trong những Thủ đô có tuổi thọ lâu dài trên thế giới, vì thế, Hà Nội - Thủ đô của nước Việt Nam chúng ta đang được Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hoá Liên Hợp quốc (UNESCO) công nhận là Thủ đô vì Hoà bình. Chúng ta càng tự hào bao nhiêu, lại càng có trách nhiệm bấy nhiêu để phát huy tinh thần dân tộc, văn hóa lâu đời của Tổ Tiên, của người Việt Nam, đất nước Việt Nam thân yêu và Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy lịch sử của dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hóa phong phú của nhân loại, nhưng vẫn giàu bản sắc văn hóa dân tộc Việt, luôn là biểu tượng của hòa bình, hạnh phúc thân yêu của chúng ta”.

alt

TT. Thích Bảo Nghiêm – Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng Ban Trị sự Phật giáo Tp. Hà Nội, Trưởng Ban Tổ chức Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội cung tuyên văn tưởng niệm công trạng đức vua Lý Thái Tổ, các vị quốc sư, thiền sư:

“Đức vua Lý Thái Tổ, huý là Lý Công Uẩn, sinh năm Giáp Tuất (974), người làng Cổ Pháp, Bắc Giang, nay là Đình Bảng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh. Thân mẫu là Phạm Thị. Khi lên 3 tuổi, thân mẫu đem Ngài Lý Công Uẩn cho Thiền sư Lý Khánh Vân – Chùa Dâu (Pháp Vân) làm con nuôi. Năm lên 7 tuổi, Thiền sư Lý Khánh Vân đem gửi Ngài Lý Công Uẩn học đạo với Thiền sư Vạn Hạnh – chùa Lục Tổ (chùa Tiêu Sơn), huyện Tiên Du, Bắc Ninh.

Với bẩm tính thông minh, hiếu học, được hun đúc chốn cửa Thiền, Ngài Lý Công Uẩn được Thiền sư Vạn Hạnh cho học văn võ song toàn, chí khí cao thượng, trong cảnh đất nước vừa mới có độc lập tự chủ sau 1000 năm Bắc thuộc đang cần nền hòa bình phát triển đất nước, nhân dân được hạnh phúc phú cường mà tiền nhân các nhà lãnh đạo đương nhiệm, cũng như các vị Quốc sư, Thiền sư thầy của Lý Công Uẩn đang cố gắng thực hiện. Chính những tác động ấy đã hun đúc ý chí yêu nước thương dân, sẽ góp phần xây dựng và phát triển đất nước của chàng trai nước Đại Việt họ Lý sau này.

Một điểm thuận lợi là các Thiền sư Vạn Hạnh, Khuông Việt, Pháp Thuận đều là những trụ cột của triều đình, là Tăng thống, Quốc sư, cố vấn cho triều đình nhà Đinh và Tiền Lê (968 - 1009). Do đó, khi Lý Công Uẩn trưởng thành, Ngài được Vạn Hạnh Thiền sư tiến cử vào kinh đô Hoa Lư làm tham chính triều Tiền Lê – Lê Đại Hành, chức vụ Tả thân vệ – Điện tiền chỉ huy sứ cho đến thời Lê Long Đỉnh (1005 - 1009).

Sau khi vua Lê Long Đỉnh băng hà (1009), Ngài được Chỉ Hầu Đào Cam Mộc, bá quan văn võ và sự ủng hộ của Đại sư Khuông Việt, Vạn Hạnh v.v… tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Lý Thái Tổ, đổi niên hiệu năm Thuận Thiên thứ nhất (1009), kinh đô đặt tại Hoa Lư.

Với tầm nhìn chiến lược và lâu dài, có liên quan đến điều kiện phát triển địa lý, văn hóa, xã hội, kinh tế, quốc phòng … cho nên, vua Lý Thái Tổ khi lên ngôi được 10 tháng, đến tháng 8 năm Canh Tuất (1010), Ngài quyết định dời đô về thành Đại La. Nội dung Chiếu Dời đô có đoạn:

“…. Thành Đại La ở vào nơi trung tâm của trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, tiện hướng nhìn sông tựa núi, địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Đại Việt ta, chỉ nơi đây là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.

Khi thuyền ngự cập bến sông Hồng, thấy rồng vàng thăng thiên, do đó Ngài đổi tên Đại La thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Định đô tại Thăng Long, Ngài lập tức đổi tên cố đô Hoa Lư thành phủ Tràng An, Châu Cổ Pháp quê nhà thành phủ Thiên Đức (Bắc Ninh), cho xây cung điện, lâu đài …. Xứng đáng là Kinh đô của Nước Việt, đất nước ngàn năm văn hiến, trái tim của Tổ quốc Việt Nam muôn đời.

Bên cạnh đó, Ngài đã nhiều lần ban chiếu xây dựng chùa chiền trong nội, ngoại thành Thăng Long và quê hương Cổ Pháp như: Hưng Thiện, Vạn Tuế, Thắng Nghiêm, Đại Giác, Chân Giáo, Thiên Quang, Thiên Đức, Thiên Vương, Cẩm Y, Hưng Long, Thắng Thọ. Năm 1014, vua cho mở Đại Giới đàn tại chùa Vạn Tuế, thành Nội để độ chúng Tăng xuất gia, thọ giới tu học hàng ngàn người.

Năm 1014 – 1019, vua Lý Thái Tổ chỉ đạo cho Tăng thống Thẩm Văn Uyển độ hơn 4000 Tăng xuất gia và cấp độ điệp làm Tăng, thỉnh cử Ngài Phí Trí làm Tăng thống lãnh đạo Phật giáo cả nước. Kế tiếp có Ngài Hữu Nhai Tăng thống Thẩm Văn Uyển, rồi đến Tăng thống Huệ Sinh, Tăng thống Khánh Hỷ lãnh đạo Phật giáo thống nhất triều Lý (1010 - 1225).

Năm 1018, Ngài cho phái bộ Nguyễn Đạo Thành, Phạm Hạc sang nhà Tống thỉnh Đại Tạng Kinh. Cho xây nhà Tàng Kinh Trấn Phúc để tôn trí Đại Tạng.

Năm 1024, cho xây chùa Chân Giáo trong thành để Nhà Vua dễ đến đọc tụng kinh, bái sám, hành lễ; thỉnh chư Tăng giảng kinh thuyết pháp, cho văn võ bá quan và dân chúng thuận lợi nghe pháp, đượm nhuần ân pháp vũ.

Năm 1027, cho sao chép Đại Tạng Kinh làm nhiều bản để phổ biến cho dân chúng nghiên cứu, tu học và tôn trí tại Tàng kinh các Bát Giác, Đại Hưng và những ngôi chùa trọng yếu trong thành Thăng Long.

Ngài đã coi giáo lý đạo Phật làm nền tảng đạo đức căn bản, tổ chức trích yếu những lời dạy của Đức Phật qua Đại Tạng kinh và những lời khai thị, kệ ngôn, huấn thị của các Thiền sư, bấy giờ chùa vừa là nơi đào tạo con người, vừa là nhà trường tốt nhất để giáo dục đào tạo nên những con người có tài đức, như cư sĩ Tô Hiến Thành, Ngô Hòa Nghĩa, Lý Thường Kiệt, Lương Nhiệm Văn, Nguyễn Đạo Thành. Đặc biệt, đời Lý Nhân Tông thành lập Trường Quốc Tử Giám (1076) – Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, làm Lễ tắm Phật (Phật đản), Đại lễ Vu lan được tổ chức vào năm 1072; Hội đèn Quảng Chiếu tổ chức vào các năm 1110, 1116, 1120, 1128 dưới đời Lý Nhân Tông v.v… Với nền giáo dục nhân bản, từ bi, trí tuệ và rộng mở, có thể nói trình độ tri thức dân chúng được nâng cao, làm nền tảng cho mọi học thuật và kiến trúc Phật giáo thời Lý, dẫn đến đời Trần (1225 - 1400).

Chiến lược quân sự được củng cố và phát triển, quân đội hùng mạnh và tinh nhuệ, đủ thực lực để đánh Tống bình Chiêm. Cho nên, vào đời vua Lý Thái Tông đã đánh thắng quân nhà Tống (1077), bản tuyên ngôn độc lập thứ hai ra đời, do Lý Thường Kiệt công bố giữa ba quân; Lý Thánh Tông đã chinh phục Chiêm Thành, vua Chế Củ hiến 3 Châu (Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính) để chuộc tội và nhập vào bản đồ Đại Việt, mở rộng bờ cõi đến Tây Bắc Quảng Trị. Đến thời Trần công chúa Huyền Trần được gã cho vua Chiêm – Chế Mân để thắt chặt bang giao hai nước, đáp lại Vua Chiêm dâng 2 Châu (Châu Ô, Châu Rí) để làm sính lễ, Đại Việt mở rộng bờ cõi đến tận Quảng Nam…

Về sinh hoạt đời sống xã hội, dân chúng an cư lạc nghiệp, đất nước phồn vinh, văn minh, tiến bộ, thậm chí sứ thần nhà Tống đã khen: “Là một xã hội ấm no hạnh phúc, dân chúng an cư lạc nghiệp, không bị thiên tai lũ lụt, đất đai mầu mở và luôn luôn phát triển, mở rộng thêm”.

Bằng tinh thần từ bi, bình đẳng, khoan dung, độ lượng của Phật giáo, tam giáo hài hòa đồng hành phát triển, nên từ vua quan đến dân chúng đều đượm nhuần tư tưởng Phật giáo, là điều kiện phát triển và sinh hoạt xã hội theo định hướng chung của đạo Phật. Phật giáo thời Lý, là xã hội thuần nhất, đạo đức, hướng thiện, ổn định và hòa bình thực sự có một không hai trong lịch sử Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.

Có được công cuộc cải cách, đổi mới và phát triển đất nước Đại Việt bấy giờ đạt đến đỉnh cao như thế phải nghĩ đến công đức của các vị Quốc sư là cố vấn của triều đình, đặc biệt là Thiền sư Vạn Hạnh, người làng Cổ Pháp, Bắc Ninh, sinh năm 932 vào thời Tiền Lý, xuất gia tu hành theo học với Thiền Ông Lão Tổ, chùa Lục Tổ (Tiêu Sơn), với pháp môn hành trì là Tổng Trì Tam Ma Địa, xuất phát từ dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, làu thông Tam tạng và tư tưởng Phật, Nho, Lão giáo, biết được những điều sắp xảy ra. Năm 981, Thiền sư Vạn Hạnh giúp vua Lê Đại Hành ngăn chặn và đánh tan cuộc xâm lăng của quân nhà Tống; Năm 982, giúp vua Lê Đại Hành đánh thắng Chiêm Thành; Năm 1009, Thiền sư Vạn Hạnh cùng các Thiền sư Khuông Việt, Đa Bảo, Lý Khánh Vân, ông Đào Cam Mộc định kế tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, và trù tính kế hoạch cho vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Do đó, các thành tựu dưới thời vua Lý Thái Tổ đều có công sức đóng góp to lớn của Thiền sư Vạn Hạnh.

Với tư tưởng xuất phát từ Kinh Kim Cang, tất cả các pháp là không được thể hiện qua bài thơ thị tịch của Thiền sư Vạn Hạnh:

“Thân như điện chớp có rồi không

Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng

Tùy vận thịnh suy không sợ hãi

Thịnh suy đầu cỏ dính sương mai”

Bằng tư tưởng Phật tại đây và ở trong ta và cùng khắp cả mọi người, muôn đời, được thể hiện qua câu nói trong giờ thị tịch: “Các con muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ để trụ, không nương vào chỗ không trụ mà trụ. Các Pháp là không” của Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Cảm Thành Thiền sư trước đó. Cho nên, với tinh thần vì Đạo nhưng không quên đời, Quốc sư Vạn Hạnh là nhân vật chủ yếu, tiêu biểu trong sự hưng thịnh của Triều Lý, được vua Lý Nhân Tông có bài truy tán như sau:

"Vạn Hạnh rõ ba đời

Lời nói hợp sấm ký

Quê quán Làng Cổ Pháp

Chống gậy vững triều đình"

Đồng thời, cũng còn rất nhiều Thiền sư như Khuông Việt, Đa Bảo, Tăng thống Huệ Sinh, Minh Không, Mãn Giác, Hiện Quang, Ứng Thuận, Sùng Phạm, Thông Biện, Tăng thống Khánh Hỷ, Viên Thông, Thiền sư Thảo Đường v.v… để từ đó làm cơ sở tiềm lực, chí khí quật cường cho Nhà Trần tiếp tục thực hiện việc trị nước an dân. Từ vua Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông v.v…. đất nước mở rộng đến Qui Ninh (Qui Nhơn, Bình Định). Có những nhà Vua, vị tướng tu hành chứng ngộ khi đương vị như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ; xuất gia tu hành chứng đạo như Trần Nhân Tông – Điều Ngự Giác Hoàng, thống nhất các Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường thành Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử … Những hàng xuất gia lỗi lạc, lãnh đạo Phật giáo cả nước như: Pháp Loa, Huyền Quang Tôn giả, Bảo Sát, Quốc sư Bảo Phác, Lẫm Sơn, Tông Cảnh v.v… làm cho Phật giáo thời Trần thêm rực rỡ vinh quang, có một không hai trong lịch sử Phật giáo Việt Nam với một nền Phật giáo thống nhất có từ thời Đinh, Tiền Lê, nhà Lý và đời Trần.

Cho đến thời Lê, Phật giáo vẫn phát huy được tinh thần tôn giáo của dân tộc và hướng dẫn tư tưởng nhân dân trong các lĩnh vực sinh hoạt xã hội như Tăng thống Chân Nguyên, Thiền sư Huệ Hồng, Thiền sư Như sơn, Thiền sư Hương Hải, Đạo Chân, Đạo Tâm, Chuyết Công Hòa thượng, Thủy Nguyệt Thông Giác, Tông Diễn, Như Hiện, Như Trừng, Tính Dược v.v…

Đến thời cận đại Phật giáo Việt Nam, tỏa sáng từ Bắc chí Nam, giang san trải dài từ ải Nam Quan – Lạng Sơn đến Hà Tiên (1698 - 1700), nối liền mạch sống của dân tộc như các Thiền sư Toàn Nhật, Tính Tĩnh, Tính Tuyền, Hải Quýnh – Từ Phong, Kim Liên Tịnh Tuyền, Tường Quang Chiếu Khoan, Phúc Điền, Phổ Tịnh, Thông Vinh, Nguyên Thiều, Liễu Quán đạo mạch tiếp tục lưu truyền cùng dòng chảy lịch sử, phát triển của dân tộc Việt Nam yêu dấu.

Trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, biết bao vị Tổ sư, Thiền sư, Hòa thượng chống gậy trúc đi khắp ba miền đất nước để hình thành ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, như Tổ Thanh Hanh, Tổ sư Tuệ Tạng, Tổ Mật Ứng, Tổ Giác Tiên, Phước Huệ, Khánh Hòa, Khánh Anh, Huệ Quang, Chí Thiền, Hòa thượng Tịnh Khiết, Hòa thượng Trí Hải v.v…

Sau khi nước nhà độc lập, thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, Phật giáo Việt Nam tiếp tục thống nhất thành công ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam – đỉnh cao của thời đại, có cố đại lão: Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Tâm Tịch, Hòa thượng Thích Trí Độ, Hòa thượng Thích Trí Thủ, Hòa thượng Thích Thế Long, Hòa thượng Thích Tâm Thông, Hòa thượng Kim Cương Tử, Hòa thượng Thích Giới Nghiêm, Hòa thượng Thích Giác Nhu, Hòa thượng Thạch Xom, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Huệ Thành, Hòa thượng Thích Bửu Ý, Hòa thượng Thích Đạt Hảo v.v… đã ghi công đức sáng ngời vào trang sử vàng son Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Trải qua các triều đại Lý, Trần, hậu Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn, đến thời đại Hồ Chí Minh lịch sử tên vàng, ngàn sao lấp lánh, Thăng Long – Hà Nội, vẫn tiếp tục là nơi hội tụ và lan tỏa sức sống muôn đời của Tổ tiên, của các vị tiền bối hữu công đối với đất nước và dân tộc cũng như Phật giáo Việt Nam, trung tâm văn hóa của cả nước luôn luôn phát triển không ngừng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, lịch sử hồn thiêng sông núi oai hùng. Rồng vàng phất phới bay cao - Sông Hồng nước chảy đổ vào biển Đông, tạo được tình Hữu nghị đoàn kết năm châu, bốn biển - Rồng bay muôn vạn nẻo đường – Con rồng Châu Á xứng danh ngàn đời, trong thời kỳ hội nhập và phát triển thế giới toàn cầu. Quả thực: “Nhớ thuở mang gươm đi mở cõi. Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” (1945 - 2010).

Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thủ đô nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Ba Đình lịch sử, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc, tinh thần nhập thế tích cực và xây dựng phát triển đất nước, bảo vệ hòa bình của Phật giáo Việt Nam hơn 1000 năm qua – Ngàn năm đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam, Phật giáo Việt Nam, của các nhân vật điển hình, trân trọng với bao công trạng to lớn vô vàn của vua Lý Thái Tổ - Vạn Hạnh Quốc sư, và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, rực rờ tên vàng. Quả thật: “Công ai đổ xuống đất này, cho hoa dân tộc ngày ngày thêm tươi”.

Vì thế, tất cả chúng ta, con dân nước Việt, hậu duệ nhiều đời của Tổ tiên, của các bậc tiền bối hữu công, phải phát huy tinh thần yêu nước, yêu chuộng hòa bình, độc lập dân tộc, bảo vệ những thành quả, những di sản văn hóa quý báu, truyền thống tốt đẹp của ông cha ta, cùng nhau nỗ lực thực hiện những hoài bão muôn đời của Tổ tông, để đất nước Việt Nam, Phật giáo Việt Nam sánh vai cùng bè bạn năm châu bốn biển trong cộng đồng thế giới ở thời kỳ phát triển hội nhập toàn cầu của thế kỷ 21 và những thế kỷ tiếp theo".

Tiếp theo chương trình của Đại lễ, chư Tôn giáo phẩm Lãnh đạo GHPGVN, chư vị quan khách đại diện Đảng và Nhà nước, các Bộ ngành Trung ương, Tp. Hà Nội và hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử, kiều bào Việt Nam dâng hương tưởng niệm và Ban Nghi lễ cung tuyên trạng văn cầu quốc thới dân an, tưởng niệm Vua Lý Công Uẩn, anh hùng liệt sĩ, đồng bào tử nạn trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

Nhân Đại lễ, Trung ương GHPGVN trao tặng 1 tỷ đồng cho quỹ đền ơn đáp nghĩa, quý người nghèo Tp. Hà Nội; trao tặng 500 suất học bổng cho học sinh nghèo hiếu học tại Tp. Hà Nội.

alt

Xe hoa rước lễ

alt

 alt

Cung nghinh chư tôn giáo phẩm quang lâm lễ đài

 alt

alt

Chư tôn giáo phẩm chứng minh và quý quan khách

alt

 

alt

alt

alt

Quang cảnh buổi lễ

alt

alt

alt

Ông Nguyễn Thanh Sơn phát biểu

alt

Cử hành nghi thức niệm hương

alt

alt

Đại đức Thích Tiến Đạt tuyên đọc Trạng văn cầu quốc thới dân an

alt

TT. Thích Quảng Tùng trao học bổng và nhà tình thương

alt

HT. Thích Trí Quảng nhận quà lưu niệm từ phái đoàn Nhật Bản

alt

Trai đàn cầu an và cầu siêu

alt

alt

alt

Tin và ảnh: Cộng tác viên tại Hà Nội

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

 ]]>
tcanhco@yahoo.com (giaohoiphatgiaovietnam) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:42:28 +0000
Con đã có đường đi http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6463-con-da-co-duong-di.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6463-con-da-co-duong-di.html Thầy thương kính của con!


Con là Thoát Nghiêm, năm nay con vừa tròn 20 tuổi. Sư cô HL nói: 20 là cái tuổi bắt đầu biết nhìn cuộc đời bằng con mắt đẹp nhất. Con thấy cũng đúng đó thưa Thầy! và đây là cái nhìn về cuộc đời của con. Thầy duyệt cho con Thầy nhé!

Thầy ơi! Thầy có biết gì không? Con đang nghe Thầy trả lời: “biết gì hả con?”
Thầy có biết là con của Thầy hiện đang ngồi tĩnh tọa trước một khu vườn Cam vừa mới lên chồi rất non, những chiếc lá Cam non xanh mơn mởn đang còn thẹn thùng, mắc cỡ chưa dám tung hết mình ra với cái nắng, cái mưa và cái gió của xứ sở này. Bởi giống Cam này được mang về từ VN và bác Hai bắt đầu thử trồng vào đất Cam… này lần đầu. Nhìn qua bên tay trái của con là một vườn dừa xanh mát và cao tít tắp, chúng đứng hiên ngang như những chàng dũng sĩ đang dàn trận chiến. Vai mang rất nhiều “quả lựu đạn” xanh-to-tròn và nặng trĩu. Bên tay phải của con là cả một rừng chuối mật rậm rì um tùm. Và trước mặt con là cả một dòng kênh Sen thơm ngan ngát. Con ngước nhìn lên thì ông mặt trời đã đi trốn đâu mất rồi. Con nghĩ chắc có lẽ là ông đang đi về bên phía Thầy!

Nhắm mắt lại, con lặng nghe muôn ngàn thứ tiếng động xung quanh con, tiếng của những loài côn trùng bắt đầu khởi công tạo dựng cho một tương lai của chúng; tiếng của động cơ xe từng hàng, từng hàng cũng bắt đầu đi về nơi bến đỗ và tiếng gió chiều thoang thoảng nhè nhẹ mang theo hương vị của cỏ lau và hoa rừng. Bấy nhiêu đó cũng đã làm cho lòng con cảm được “Tịnh độ là gì rồi, Thầy ạ!” .Ôi! một buổi chiều, một buổi chiều thú vị, một buổi chiều bình an!

Giờ đây, con biết Thầy cũng đang ngồi đâu đó trong nội viện Phương Khê. Và Thầy cũng đang tận hưởng những giây phút an tịnh mà Thầy đã tự chế tác ra. Và như thế là Thầy và con đang cùng có mặt một lúc cho nhau rồi, phải không thưa Thầy?!

Thầy biết không, lần đầu tiên con đặt chân đến nơi đây, một xứ sở mà từ trước con chưa bao giờ nghĩ đến. Cho nên con có cảm giác vừa lo, vừa sợ, nhưng con cũng không muốn bỏ sót bất cứ một sự quan sát nào mà con có thể. Chính nhờ con đã từng được học phương cách lắng nghe của Ngài Quán Thế Âm mà Thầy đã trao truyền cho chúng con, nên con đã sớm nhận ra được sự mầu nhiệm của sự sống đang sẵn sàng chờ đón con. Con cảm được có một nhân duyên sâu xa lâu đời nào đó, con đã từng qua đây trong một kiếp, nên bây giờ gặp lại, sự gần gũi và thân thiện giữa con người với con người, giữa con người với muôn loài cây cỏ, đất đá và loài vật chung quanh, nó thân thiết như trong tự thân.

bn nhau tnh ch emSau một tuần, con đã quen với cuộc sống “thanh bần và đạm bạc” ở bên đây. Chị em chúng con  đã cùng nhau học, cùng nhau thực tập và cùng nhau chơi với nhau rất vui. Vui nhất là những chiều làm biếng, hay sau những giờ cơm chiều, chị em con đều có những giây phút hồn nhiên bên những hồ sen để hái hạt sen non nhâm nhi thích thú, hay ngồi quanh dưới những gốc mận trắng với những gói muối tiêu ngon hết biết! Hoặc có khi chúng con chạy rong chơi trong  những lùm chuối rậm, không nhìn thấy mặt nhau, chỉ nghe tiếng rì rào cười nói, hát ca rất tươi trẻ của các chị em mình. Những giây phút như vậy làm sao mà con không lưu lại trong tim con được hả Thầy! Tình chị em đẹp quá Thầy nhỉ! Chắc Thầy cũng đã từng hơn một lần thời bằng tuổi của chúng con, cũng thưởng thức được những cái đẹp và sự mầu nhiệm này rồi, phải không thưa Thầy!

Còn nữa thưa Thầy! Mỗi sáng thứ hai làm biếng, chúng con thường ngồi lại với nhau bên những xoong bột lọc, bánh nậm, bánh giò, chuối chiên… với những rổ lá khổng lồ để thi nhau làm nên những chiếc bánh khéo tay nhất. Và chị em con hễ ai gói được cái bánh nào đẹp nhất cũng đều nghĩ đến Thầy, và ước gì Thầy đang có mặt ở đây để hấp liền cho Thầy những chiếc bánh nóng hổi như thế!

Một ngày mới nữa lại bắt đầu, một sự mầu nhiệm khác lại biểu hiện. Sau buổi tụng giới hoàn mãn. Con lại tiếp tục viết thư cho Thầy. Sự yên tĩnh của buổi chiều thật rất khác so với buổi sáng mới thức dậy Thầy ạ! Mỗi giây mỗi phút đều có sự nhiệm mầu khác nhau, không giây phút  nào giống giây phút nào cả. Nhờ có được cái nhìn như thế, nên con mới có được những giây phút bình an như ngày hôm nay. Mỗi thời gian qua đi là mỗi cơ hội đáng quý, mỗi tai nạn xảy đến là một chủ đề quán chiếu. Con đã quán chiếu mỗi ngày về những gì đã xảy đến cho tự thân con. Con đã tận dụng những khoảng thời gian Im Lặng Hùng Tráng sau thời khóa Sám Hối buổi sáng mỗi ngày để trở về và nhận diện những khổ đau trong con, những tâm hành thù hận về những người đã đem lại thương tích cho con, và những yếu kém cũng như nghiệp lực của bản thân con. Cho nên con từ từ tháo gỡ được những khúc mắc, vướng kẹt trong lòng, và đi ra được những khổ đau của quá khứ. Càng quán chiếu con càng cảm thấy thích thú. Con có thể ngồi hàng giờ mà không thấy chán, không thấy đủ hay mỏi mệt gì cả. Mỗi khi được ngồi yên như thế, con đều mời Thầy cũng ngồi với con, vì vậy cho nên con không cảm thấy thiếu vắng Thầy bên cạnh, hoặc khi ra vườn rong chơi, con cũng đều rủ Thầy đi chơi cùng, vui ghê! Thầy thấy có vui không?

Mỗi buổi sáng, con cùng Đại chúng đi thiền hành. Con luôn nguyện là phải để hết tâm ý vào mỗi bước chân và hơi thở vào ra của mình. Đồng thời, con phát khởi được lòng biết ơn sâu xa của con đến Thầy và Tăng thân bốn chúng đã nuôi dưỡng thân giới, và thân tuệ cho con. Con tự nhủ: Mình phải đi như thế nào để chế tác được niềm vui và sự hỷ lạc trong khi đi, phải đặt trọn từng bước chân vào trong mảnh đất của Như Lai mà không phải chỉ đi trên đất của Bác Hai nữa! Con thực tập như thế, con nuôi dưỡng được niềm tin và sự vững chãi trong con và làm nhiên liệu để đốt cháy những hạt giống gai góc, lau sậy đang âm thầm mọc lên trong đất tâm của con.

Ở đây, mỗi chiều thường có mưa Thầy ạ! Khi trời bắt đầu chuyển mưa thì mây đâu ùn ùn kéo đến, làm đen kịt cả một vùng trời lớn, gió đâu vù vù bay về làm xổ tung những cánh cửa lớn nhỏ. Và thật thương thay cho những tàu lá chuối chị, phải đứng ra hứng gió đỡ mưa cho những tàu lá chuối em được an toàn lành lặn. Sau những cơn mưa gió như thế, những tàu lá chuối chị bị rách te tua, nhìn thật tội nghiệp lắm Thầy ơi! Nhưng con thấy sao những lá chuối chị đó không thấy buồn khổ gì cả, mà lại vui hơn nữa là khác, dù bị xé rách ra từng thẻ nhỏ như thế, nhưng mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua, lá chuối chị vẫn ve ve vẫy vẫy, reo hò thấy vui lắm, như là vừa mới hoàn tất được một công việc trọng đại nào đó rồi vậy.

Con nghĩ con cũng đã từng “bị te tua như tàu lá chuối”, nhưng con chưa làm được như cây chuối, như các lá chuối chị. Ngắm nhìn vườn chuối, cho con học được rất nhiều bài học từ đó. Con bây giờ tuy vẫn còn là lá chuối em của bao nhiêu lá chuối chị, và cũng đã là lá chuối chị của một số lá chuối em khác rồi. Con nguyện con phải học cách hành động sống như những cây chuối và lá chuối. Phải biết reo cười trước gió, phải có tự tin trước mưa, phải sẵn sàng che chở hết mình như những tàu lá dù đã bị rách nát te tua…!

Thầy ơi! Hôm trước quý sư cô có nhắc lại lời Thầy đã dạy: Có hai nơi quan trọng mà mỗi người cần phải quan tâm. Thứ nhất là Thiền Đường. Thứ hai là vườn Rau. Thiền Đường là nơi mà mỗi ngày mình cần đến đó để chăm sóc và nuôi dưỡng những hạt giống tốt. Vườn Rau là nơi mà mình cần nhổ cỏ dại và gieo xuống những hạt giống lành. Con cần phải học cách chăm sóc hai nơi ấy thường xuyên hơn


Con ý thức rằng con đang có một gia đình tâm linh rất giàu có, một gia tài đồ sộ vô cùng, mà chính Thầy và Tăng thân đã trao cho con trong từng giây từng phút. Con cúi đầu xin tiếp nhận tất cả gia tài ấy. Nếu đã trót thương Bụt Tổ, Thầy và Tăng thân rồi thì không có lý do nào để cản bước đường con đi tới với những người con đã nguyện thương yêu. Dù cuộc đời này có nhiều chông gai, dù đường đi này có nhiều gian khó nhưng con cũng sẽ:


“Đường ta ta cứ đi
 Núi cao cao có khi
 Chập chùng ta bước tới
 Tới với với bờ vui”.


Viết thư cũng là một niềm vui, phải không thưa Thầy? Và cũng là một cơ hội cho con quán chiếu để nhìn lại sự thực tập của bản thân, những tâm hành thiện, hay bất thiện, những ước mơ nguyện vọng của bản thân. Vì vậy, con vẫn thường viết thư cho Thầy lắm, tuy con ít khi hoặc hiếm khi gởi đi cho Thầy, nhưng con biết khi con đang viết là đồng thời Thầy cũng đang đọc thư con rồi vậy.

Kính thư
Con Thoát Nghiêm. (Cây sen vàng)

(langmai.org)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích nữ Thoát Nghiêm) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:36:44 +0000
Đôi điều suy nghĩ từ Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo lần 5 - 2010 http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6462-doi-dieu-suy-nghi-tu-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-5-2010.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6462-doi-dieu-suy-nghi-tu-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-5-2010.html (GNO): Hơn 1.700 bạn trẻ đã đến với Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo lần 5 do Báo Giác Ngộ phối hợp với Tiểu ban Thanh thiếu nhi Phật tử Trung ương tổ chức tại bờ biển huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa-Vũng Tàu.

 

 

Một hội trại rất quy mô về tổ chức, sáng tạo trong các hoạt động và điều quan trọng hơn là những điều còn đọng lại trong mỗi một trại sinh khi họ trở về ?

 

1.JPG
Những người trẻ tập hợp lại
với mọi thành phần, mọi miền... cùng nhau vui chơi

Trại sinh là ai?

 

Phải nói rằng 1.700 trại sinh là một sự tập hợp nhiều thành phần, nhiều nơi khác nhau trong đó chiếm số lượng đông nhất là sinh viên, học sinh, du học sinh, còn lại là những công nhân trẻ xa nhà, viên chức, thanh niên lao động phổ thông và có cả những bạn chưa có việc làm.

 

Ban Quản trại là ai?

 

Gần 30 thành viên của Ban Quản trại với tuổi tác, trình độ, nghề nghiệp, nơi cư trú khác nhau nhưng họ cùng một điểm chung: “nhiệt tình với tuổi trẻ”, chính sự nhiệt tình ấy mà khi ráp vào nhau họ đã tạo thành một đầu tàu đủ năng lực để đưa một con tàu 74 toa (74 tiểu trại) trong 36 giờ đi đến đích của hội trại.

 

Có thể nói rằng, trong lịch sử, chưa một tổ chức nào dám mạnh dạn quy tụ một số lượng đông đảo thanh thiếu niên từ nhiều nguồn khác nhau để thực hiện một mục tiêu chung, nếu có, thì chỉ quy tụ trên một hoặc nhiều tập thể có sẵn như trường học, Đoàn Thanh niên, Gia đình Phật tử, câu lạc bộ, hội, nhóm…, vì các tập thể ấy luôn có lãnh đạo hoặc chỉ huy và chịu trách nhiệm về tính kỷ luật của tập thể mình phụ trách. Vậy mà Báo Giác Ngộ đã 5 lần làm nên việc thần kỳ để đưa một đạo quân tổng hợp nếu không muốn nói là nhiều thành phần không người chỉ huy đi vào nội qui trại một cách thuần thành.

 

2.JPG

 

Tuy không ở bất cứ đoàn thể nào nhưng khi đã đến
với nhau, các bạn trở nên nề nếp

Ngoài Ban Tổ chức, Ban Quản trại, chúng tôi được tiếp cận những thành viên thuộc Ban Hỗ trợ, hay Ban Hậu cần là những sinh viên tinh nguyện được tập huấn chỉ có vài ngày, vậy mà sự làm việc của họ thật say mê và nhiệt thành để mong sao Hội trại thành công tốt đẹp.

 

Khi hội trại chưa khai mạc, được hỏi: “Bạn tham gia hội trại lần này với mục đích gì?" thì câu trả lời phần lớn là: “Tham gia cho vui”. Và thật sự Ban quản trại đã làm cho tất cả trại sinh không thể không vui khi tham gia hội trại. Bất cứ nơi đâu, lúc nào trong thời gian của hội trại, chúng ta cũng nhìn thấy những khuôn mặt trẻ trung, hồn nhiên, những ánh mắt tươi vui, nụ cười rạng rỡ của trại sinh. Nhưng khi kết thúc hội trại, chúng tôi hỏi: “Bạn được gì khi tham gia trại ?” thì câu trả lời: “Được nhiều thứ và đầy ắp những kỷ niệm”. Những thứ mà các bạn được là: thêm bạn, tiếp cận với Phật giáo, học cách tổ chức trò chơi, quản lý trại sinh, được đi ra khỏi khuôn viên chật hẹp của gia đình, của khu phố và điều quan trọng là được suy nghiệm về một cách sống cho mọi người.

 

3.JPG

 

  Về đây xây tổ ấm

 

4.JPG

 

Vui quá là vui

 

5.JPG

 

Chung một niềm vui

 

Với chủ đề “Hội tụ khát vọng”, Hội trại đã tổ chức đêm gala “5 năm một chặng đường” hoành tráng và ấn tượng giữa bãi biển lộng gió, một không gian thiên nhiên với sức chứa vô hạn mà trong phạm vi thành phố không thể có. Ngoài các tiết mục văn nghệ, hoạt cảnh, các bạn trẻ được tiếp xúc với doanh nhân Lê Phước Vũ - Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Hoa Sen và DVĐA Việt Trinh về những ứng dụng đạo Phật trong cuộc sống của họ. Buổi thực tập thiền hành vào buổi sáng giúp bạn trẻ lấy lại cân bằng cho một ngày trại thứ hai với những trò chơi vận động, trò chơi dân gian, trò chơi lớn….

 

6.JPG

 

 Chiến thắng rồi

 

Sự hiện diện của chư tôn giáo phẩm lãnh đạo Trung ương Giáo hội trong buổi khai mạc làm chúng tôi cảm nhận được sự quan tâm, chăm sóc đến thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và càng tin tưởng rằng những bước đi sắp tới của Ban Hướng dẫn Phật tử và Tiểu ban Thanh thiếu nhi Phật tử sẽ mở ra một sự lựa chọn đúng đắn cho tuổi trẻ.

 

7.JPG

 

8.JPG

 

9.JPG

 

Một tình huống xảy ra chưa được tính trước trong kế hoạch của hội trại đó là cơn áp thấp nhiệt đới mang theo gió và mưa biển. Hình ảnh chư tôn đức phơi chiếc đầu tròn dưới mưa đã làm cho cà ngàn con tim bừng cháy, không một hoạt động nào bị gián đoạn bởi ảnh hưởng của thời tiết.

 

Lên xe mang về bao nhiêu kỷ niệm đẹp của một kỳ trại bổ ích. Chúng tôi thật sự cảm phục Ban Tổ chức đã giúp bạn trẻ có một sân chơi trong ngày hè không những chỉ để thư giãn mà còn hướng các em đến với con đường “chân, thiện, mỹ”.

 

Bài, ảnh Tạ Chí Quảng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Tạ Chí Quảng ) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:26:56 +0000
Hà Nội: Chính thức khai mạc Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6461-ha-noi-chinh-thuc-khai-mac-dai-le-phat-giao-ky-niem-1000-nam-thang-long-ha-noi.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6461-ha-noi-chinh-thuc-khai-mac-dai-le-phat-giao-ky-niem-1000-nam-thang-long-ha-noi.html
image

Sáng nay 28-7, tại Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội, hơn 10 ngàn Tăng Ni, Phật tử và quan khách đã đến tham dự Đại lễ 1.000 Thăng Long-Hà Nội do GHPGVN phối hợp cùng Bộ Ngoại giao và UBND TP. Hà Nội tổ chức.

 

Quang lâm chứng minh có HT. Thích Phổ Tuệ - Pháp chủ GHPGVN, HT. Thích Thanh Tứ - Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS, HT. Thích Thanh Sam, Phó Pháp chủ HĐCM cùng chư tôn đức trong HĐCM, Ban Thường trực HĐTS, Ban Trị sự Phật giáo các tỉnh thành trong cả nước. Đại diện chính quyền có bà Trương Mỹ Hoa - nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Sơn - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài cùng đại diện các bộ, ban ngành T.Ư và TP. Hà Nội.

 

lenghinnam_05.jpg

 

Quang cảnh buổi lễ khai mạc

 

Mở đầu, ông Nguyễn Thanh Sơn, đại diện các cơ quan chức năng phát biều tâm tư, nguyện vọng của người nước ngoài đối với đất nước nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. HT. Thích Thiện Nhơn, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS đọc diễn văn khai mạc nêu rõ: ... Trải  bao thăng trầm của lịch sử, Phật giáo Việt Nam luôn  chung sức chung lòng, dựng nước và giữ nước, giữ gìn hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

 

lenghinnam_07.jpg

 

lenghinnam_09.jpg

 

lenghinnam_13.jpg

 

lenghinnam_16.jpg


Hòa thượng nhấn mạnh, kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, chúng ta càng tự hào về con cháu Tiên Rồng, dân tộc Đại Việt oai hùng, Việt Nam anh dũng kiên cường trong suốt 4.000 năm lịch sử, 2.000 năm Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc, thủ đô ngàn năm văn hiến, hòa bình. Chúng ta càng có trách nhiệm phát huy tinh thần dân tộc, văn hóa lâu đời của tổ tiên, của người Việt Nam, đất nước Việt Nam và Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy lịch sử của dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hóa giàu bản sắc dân tộc Việt, luôn là biểu tượng của hòa bình, hạnh phúc.

 

lenghinnam_10.jpg

 

lenghinnam_02.jpg

 

TT. Thích Quảng Tùng - Phó Chủ tịch HĐTS kiêm
 Trưởng ban TTXH thay mặt GH trao tặng 500 triệu  đồng

lenghinnam_03.jpg

 

TT Thích Bảo Nghiêm đọc văn tưởng niệm công trạng của Đức vua Lý Thái Tổ, các vị quốc sư, thiền sư nhân Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long.

 

Dịp này, Phật giáo Nhật Bản tặng quà lưu niệm cho GHPGVN và Ban Tổ chức Đại lễ trao tặng 25 căn nhà đại đoàn kết trị giá 500 triệu đồng.

 

Tin, ảnh Minh Khôi, Tâm Vương

Theo: Giác Ngộ online

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Minh Khôi, Tâm Vương) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:21:56 +0000
Chất Liệu Làm Nên Lý Triều http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6460-chat-lieu-lam-nen-ly-trieu.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6460-chat-lieu-lam-nen-ly-trieu.html
image

 

Đại trai đàn chẩn tế, bạt độ âm linh cầu nguyện Quốc thái dân an, phong điều vũ thuận của Tăng ni Phật giáo Việt Nam và đồng bào Phật tử được diễn ra trong một tuần lễ tại thủ đô Hà Nội ngàn năm Thăng Long. Có thể nói đây là một sự kiện lịch sử, do có sự đóng góp của nhiều người từ mọi miền đất nước, đặc biệt là có sự tham gia nghi lễ của ba miền Bắc – Trung – Nam.

Có ý kiến cho rằng, nên dựng tượng đài Thiền Sư Vạn Hạnh trên đất Hà Thành, và có những con đường mang tên vị Quốc sư lỗi lạc ấy, để nhắc nhở mọi người luôn ghi nhớ đến công đức của tiền nhân. Thiết nghĩ, ý tưởng đẹp này sẽ được thực hiện trong nay, mai khi mà mọi người đã ý thức thấy được những việc cần làm, nên làm. Vấn đề chỉ là thời gian để thực hiện sao cho xứng đáng với công đức to lớn của Ngài. Điều mà cần phải cân nhắc là nếu chúng ta gấp rút dựng tượng trong thời điểm này chỉ để phục vụ cho dịp lễ, để rồi lại đi vào quên lãng thì thật là đáng tiếc biết chừng nào.

Muốn thực hiện ý tưởng hay đẹp đó, chúng ta nên từng bước chuẩn bị, nghiên cứu, giáo dục tác động sao cho mọi người hiểu rõ lịch sử dân tộc Việt Nam từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước. Tìm hiểu Thiền Sư Vạn Hạnh? Chú tiểu Lý Công Uẩn là ai? Nhân tố nào đã nuôi dưỡng, hun đúc nên vị vua anh minh này, người đã lập ra một Lý Triều nức tiếng nhân từ trong lịch sử dân tộc. Một khi đã hiểu rõ nguyên nhân của vấn đề chúng ta phải quán niệm nơi tự thân, để thấy được dòng máu cuả Tổ tiên đang có mặt trong từng tế bào của mỗi người, tất cả đều có đủ nhân tố từ bi và trí tuệ như các Ngài, và chúng ta phải biết chăm sóc, tưới tẩm hạt giống tốt đẹp đó trong vườn tâm của mình, để hoa trái từ bi trí tuệ năm xưa đã nuôi dưỡng Thánh vương Lý Công Uẩn cũng đang có mặt trong cuộc sống của mỗi người dân Việt hiện tại, và mọi tố chất của Việt tộc, từ cách sống, cách nghĩ, cách nói, cách làm cũng do động lực từ bi, trí tuệ này thúc đẩy.Được thế, thì dù tượng đài của Thiền Sư Vạn Hạnh tuy chưa được thực hiện, nhưng hình ảnh Ngài, tâm hồn Ngài đang có mặt trong trái tim, trong khối óc của mỗi chúng ta, và chính chất liệu đó đã tác thành, cống hiến cho dân tộc Việt Nam một Thánh quân Lý Công Uẩn.

Vậy thì, lễ mừng Hà Nội ngàn năm Thăng Long quả là một sự kiện lịch sử hy hữu trên thế giới, vì chúng ta tổ chức lễ hội này không phải chỉ để hoài niệm một lịch sử hào hùng đã qua, mà còn khôi phục được giá trị hiện sinh của Lý Triều nhân từ, đã và đang nuôi dưỡng dân tộc Việt Nam trong từng phút từng giây hiện tại.

Mong sao sự hiện diện của mọi người trong Pháp hội trai đàn, chào mừng Hà Nội ngàn năm Thăng Long với một tinh thần Phật hóa.

Vận nước như dây quấn

Trời Nam ôm thái bình

Đạo đức ngự cung điện

Muôn xứ hết đao binh.

 

TT. Thích Lệ Trang

Hình ảnh Đại Trai Đàn Chẩn Tế 1000 Năm Thăng Long - Ban Nghi Lễ - Thành Hội Phật giáo TPHCM

]]>
tcanhco@yahoo.com ( Thích Lệ Trang) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:15:39 +0000
Nepal: UNESCO & Nhật Bản hợp tác bảo tồn thánh địa Lumbini http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6459-nepal-unesco-nhat-ban-hop-tac-bao-ton-thanh-dia-lumbini.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6459-nepal-unesco-nhat-ban-hop-tac-bao-ton-thanh-dia-lumbini.html
alt

(Kathmandu, Nepal): Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) và Nhật Bản đã hợp tác tham gia bảo tồn và quản lý nơi Đức Phật đản sinh ở miền Nam Nepal. UNESCO công nhận Thánh địa hành hương nổi tiếng thế giới Lumbini là Di sản Thế giới từ năm 1997. 

 

 Thái tử Cồ Đàm Sĩ Đạt Đa, sau đó trở thành Đức Thế Tôn, đản sinh năm 623 TCN trong khu vườn nổi tiếng Lumbini. Hoàng đế Ấn Độ Asoka đã hành hương đến Thánh địa này và đã dựng một trụ đá tưởng niệm ở đó.  

“Dự án này là bước tiến đáng kể, cho phép Chính phủ Nepal tăng cường nỗ lực bảo tồn, đẩy mạnh phát triển bền vững Thánh địa Lumbini, vốn là tâm điểm hành hương, du lịch quốc tế quan trọng ở Nepal và là nguồn thu nhập lớn của quốc gia,” Axel Plathe, đại diện UNESCO tại Nepal nói. 

 

Dự án do Nhật Bản tài trợ sẽ tập trung vào việc bảo tồn trụ đá Asoka và bức phù điêu đản sinh. Bên cạnh đó, dự án cũng sẽ xem xét tình trạng hiện nay của Khu vườn Thiêng liêng để vạch kế hoạch quản lý cho toàn bộ khu vườn. Dự án sẽ được sự phối hợp của văn phòng UNESCO ở thủ đô Kathmandu, và được thực hiện bởi Bộ Khảo cổ Nepal và Tổ chức Phát triển Lumbini.

 

Bishnu Karki, Bộ trưởng Bộ Khảo cổ Nepal đã gửi “lời tri ân của nhân dân nước này đến tất cả những người làm việc với bộ của ông để bảo vệ Thánh địa Lumbini” mà ông gọi là “một trong những nơi điển hình nhất trên thế giới và có giá trị vô giá đối với nhân dân Nepal và cộng đồng thế giới.”

 

Minh Trí (theo UN News)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Minh Trí) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:14:00 +0000
Hội thảo khoa học "Phật giáo thời Lý với 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội" http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6458-hoi-thao-khoa-hoc-phat-giao-thoi-ly-voi-1000-nam-thang-long-ha-noi.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6458-hoi-thao-khoa-hoc-phat-giao-thoi-ly-voi-1000-nam-thang-long-ha-noi.html (GNO-Hà Nội ):  Vào lúc 8g30 sáng 29-7-2010, Hội thảo khoa học "Phật giáo thời Lý với 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội" đã được khai mạc tại Thiên đường Bảo Sơn - Hà Nội.

Đến dự có HT. Thích Thanh Sam - Phó Pháp chủ HĐCM; HT. Thích Đức Nghiệp - Phó Thư ký HĐCM; HT. Thích Thiện Nhơn - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS; HT. Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch HĐTS kiêm Trưởng ban Kinh tế - Tài chính T.Ư; TT. Thích Thanh Nhiễu - Phó Chủ tịch HĐTS; TT. Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch HĐTS kiêm Trưởng ban Trị sự Thành hội PG Hà Nội; TT. Thích Gia Quang - Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng I TƯGH; TT. Thích Thanh Duệ - Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội; TT. Thích Thanh Nhã - Phó ban Trị sự Thành hội PG Hà Nội… Hội thảo còn có sự tham dự của GS. Vũ Khiêu; GS. Nguyễn Hồng Dương - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo; ông Nguyễn Trường Sơn - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Bảo Sơn; ông Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng Vụ Phật giáo Ban Tôn giáo Chính phủ… cùng khoảng 300 đại biểu là các giáo sư, tiến sĩ, học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài Giáo hội.

 

hoithao_1.jpg

 

hoithao_2.jpg 

Toàn cảnh buổi hội thảo  

Việc nghiên cứu và đánh giá triều Lý và Phật giáo thời Lý đã được tiến hành trong nhiều thập kỷ trước đây và đã có những phân tích tương đối thỏa đáng về mặt lịch sử cũng như về mặt văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, cùng với thời gian, càng ngày chúng ta càng phát hiện thêm các khía cạnh và đóng góp mới của Phật giáo cho văn hóa, xã hội và lý tưởng của sự phát triển dân tộc đương thời và di sản để lại có một tầm vóc lớn lao trong các thời đại tiếp sau mà chúng ta chưa có dịp khám phá trực tiếp hoặc đôi khi còn mắc phải các định kiến đáng tiếc. Hội thảo khoa học "Phật giáo thời Lý với 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội" là một dịp để các nhà nghiên cứu trong và ngoài PG, các nhà quản lý xã hội cùng nhau đánh giá một cách khoa học và khách quan về những đóng góp của Phật giáo đối với sự phát triển của dân tộc. Đây cũng là dịp để bàn bạc phương thức phát huy những giá trị tốt đẹp của Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

hoithao_3.jpg

 

hoithao_4.jpg

 

hoithao_5.jpg

 

Hội thảo đã đón nhận gần 100 bài tham luận từ các nhà nghiên cứu trong nước, đặc biệt có 3 tác giả nước ngoài là GS. Philippe Langlet ở Pháp; Đại tăng chính Đại lão Hòa thượng Yoshimizu Daichi (Kiết Thùy Đại Trí) và TS. Onishi Kazuhiko ở Nhật Bản đã gửi bài tham dự. Số lượng bài tham dự cho thấy sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Phật giáo thời Lý vẫn còn nguyên tính nóng hổi kể từ khi các học giả Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn mở đầu công cuộc nghiên cứu thời Lý và Phật giáo thời Lý từ những năm 1930 của thế kỷ trước.

 

Hội thảo lần này tập trung vào 4 chủ để: Phật giáo Đại Việt thời Lý - kế thừa, hội tụ và phát triển; Tinh hoa Phật giáo thời Lý qua các mặt văn hóa, chính trị và các nhân vật Phật giáo; Mối quan hệ Tam giáo trong thời Lý và bài học đối với thời đại Hồ Chí Minh ngày nay; Phát huy giá trị di sản văn hóa thời Lý ở Hà Nội và cả nước. Với tổng số hơn 1.000 trang tham luận mà Ban Tổ chức nhận được từ các học giả, với thời gian có hạn nên các học giả không thể trình bày được hết các tham luận tại hội thảo. Vì vậy, sau hội thảo, Ban Tổ chức sẽ tiến hành biên tập và ấn tống toàn bộ nội dung các tham luận và sẽ cho ra mắt vào chính dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long, tháng 10-2010.                                                 

 

Tin, ảnh Chu Minh Khôi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Chu Minh Khôi ) frontpage Thu, 29 Jul 2010 16:07:20 +0000
Bông Hồng Hiếu Hạnh http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6457-bong-hong-hieu-hanh.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6457-bong-hong-hieu-hanh.html
 
Trước Phật đài Tam Bảo chứng minh. Trong bửu điện trang nghiêm thanh tịnh. Đại Lễ Vu Lan Thắng Hội thập phần viên mãn. Mùa Báo Hiếu thiêng liêng lan tỏa khắp mười phương. Chắc chắn ba ngàn thế giới lay chuyển sáu lần rung động. Chắc chắn mười tám tầng địa ngục sẽ được mở toang. Bởi công ơn Cha Mẹ là một sự hiện hữu nhiệm mầu, tình thương Cha Mẹ là tất cả đất trời cao rộng, ngân hà xao xuyến, vũ trụ nao nao, trăng sao vằng vặc. Là con hiền cháu thảo, ai ai cũng lặng yên, ai ai cũng trầm lắng, để nghe trong sâu thẳm tâm hồn tiếng nói dâng lên cho Cha, dâng lên cho Mẹ trong giờ phút trang trọng này đây.

 

Một bông hồng nào xin dâng lên quý Thầy ! Một bông hồng nào xin dâng lên quý Sư Cô ! Bông hồng nào cho Bác, cho Chú, cho Thím ! Bông hồng nào cho anh, cho chị, cho em ! Và xin hỏi, còn bông hồng nào cho tôi ?

 

Chúng ta hãy đón nhận thật chân thành, thật trọn vẹn. Hạnh phúc thay cho những ai còn mẹ ! Diễm phúc thay cho những ai còn cha ! Và, chữ và, xin chia sẻ với những ai đang cài hoa trắng !

 

Nhìn đóa hoa màu hồng trên áo quý vị, xin không cần nói một lời nào, mà quý vị hãy lặng yên, mỉm cười, sung sướng và sống trọn vẹn đi !

 

Nhìn đóa hoa màu trắng, biết chia sẻ gì đây, sẽ không có một ngôn từ nào thấm cùng trong nỗi lòng sâu lạnh, dù có lớn bao nhiêu, cũng sẽ mang cho đến trọn đời thân phận mồ côi.

 

Hai chữ Mẹ Cha, chúng ta không cần nói nhiều, mà chỉ ao ước còn tiếng Mẹ để chúng ta thưa, còn tiếng Cha để chúng ta trân quý. Không cao kỳ, không trau chuốt, không phết sơn. Bởi còn cha mẹ là còn tất cả, mất cha mẹ là mất tất cả. Đức Phật từng dạy “Phụ mẫu tại tiền như Phật tại thế”, nghĩa là Cha Mẹ còn sống giống như Đức Phật đang còn trên thế gian này. Ca dao Việt Nam cũng nói : “Còn cha còn mẹ là hơn, Không cha không mẹ như đờn đứt dây”.

 

Từ xưa tới nay và mãi mãi đến mai sau, hai chữ Cha Mẹ, có lẽ được nói nhiều nhất và được viết nhiều nhất. Hai chữ Cha Mẹ là cội gốc của tình thương vô tận và suối nguồn của đạo đức bao la, đã góp phần rất lớn trong gia tài văn hóa văn học nhân loại. Hai chữ Cha Mẹ, đã làm cho sách báo, văn chương, thi phú được chồng lên cao hơn. Vào nhà sách, thư viện, ghé mắt vào những tựa đề về Mẹ, về Cha, tình mẫu tử, tình phụ tử, các nhà văn nhà thơ đã đào sâu trong tận đáy con tim và mọi góc cạnh khối óc, sẽ thấy hai chữ Cha Mẹ được diễn tả tuyệt siêu, nhưng vẫn chưa hết và đôi khi ngượng ngập ngôn từ. Không những thế, trong cung bậc Tao đàn, trên sân khấu nhạc hội, và rừng hội họa nghệ thuật cũng diễn xuất không cùng. Thời đại tin học hôm nay, những gì về Cha về Mẹ cỡi trên sóng điện vi tính thiên thần, kỳ ảo thêm, diễm lộng thêm.

 

Ngôn từ Cha Mẹ còn bình dân hơn, gần gũi hơn, đơn sơ hơn. Tiếng võng đưa kẽo kẹt sau hè, hay nằm trong nôi em khóc, mẹ sẽ hát sẽ ru em ngủ, chị sẽ hát sẽ ru em ngủ ! Chắc chắn nhiều khi, có những hình ảnh thật tội nghiệp, người Cha hay người anh khốn khổ ẵm em em cũng khóc, ru em em cũng khóc, và người cha hay người anh nhìn em bằng ánh mắt gần như van lơn mà vẫn bất lực, không biết phải làm gì cho em. Trong chúng ta, tôi dám quả quyết ai cũng đã hơn một lần đã làm như thế !

 

Em bé “Ba năm bồng ẵm cảm ơn Cha”, đã biết nói hai tiếng Ba, Ba đầu đời.. “Chín tháng cưu mang nhờ đức mẹ”, trong vòng tay bú mớm, em đã biết nói hai tiếng Má, Má thương yêu. Đến lúc lớn lên, trưởng thành, đi vào trường đời, đi vào xã hội, dù có làm ông nọ bà kia, hay phập phù giữa bại thành cuộc thế, dù được sống gần hay đang ở đâu xa, vẫn hỏi thăm và thưa ba thưa mẹ. Trong quán trọ vô thường một khi băng qua khúc rẽ ly tan, dòng tử sinh đôi bờ một khi gõ nhịp đành đoạn tạ từ, ta sẽ thảng thốt kêu lên Mẹ ơi, Ba ơi, và thế là nước mắt ta ràng rụa, lòng ta nát tan, trăng sao kia sẽ không đủ sáng giữa vòm trời, vật chất phù du kia sẽ tả tơi theo bèo bọt. Không phải chỉ đang lúc đó, mà kể từ ngày đó trở đi, cho đến bây giờ, mãi mãi mai sau, mỗi khi thương cha nhớ mẹ, ta như con đom đóm lập lòe tìm gọi bóng đêm, hay như kẻ lạc loài mò mẫm giữa hư vô và cúi mặt trước lâu đài phụ mẫu, nghe tiếng lòng thổn thức.

 

Trong chánh điện này đây, trước lễ đài này đây, giữa hội trường này đây, dù ai cài hoa hồng vẫn lo sợ, lo sợ gì mà  “Đêm đêm thắp ngọn đèn trời, Cầu cho cha mẹ sống đời với con”. Còn những ai cài hoa trắng thì, chừng như tấm lòng quý vị trống vắng không cùng, và chừng như hai con mắt của quý vị nhìn thật xa xôi. Kia kìa, thấy chưa, không phải chừng như, mà thật sự hai con mắt quý vị đang tròn xoe, bờ mi đã ướt lên rồi. Một cụ già, đôi vành khô vẫn còn đủ sức long lanh, vài cụ lớn tuổi đôi bờ khô khốc, nhưng nước gì đang chảy ra, gạt lệ tay lau. Người trung niên cũng lặng lẽ, trầm ngâm. Thế còn anh, còn chị, còn em, sao lại cúi xuống, đỏ hoe ! Cả Thầy nữa, rồi Sư Cô nữa ! Xin lỗi nghe, chúng tôi không có dám đâu, và đâu có làm gì ?

 

Thưa quý vị. Hình ảnh trên đây không phải chỉ có hôm nay, mà đã nhiều lần, thật nhiều lần, vào mỗi độ Trung Nguyên, mỗi Mùa Hiếu Hạnh. Ngay cả chỉ một Mùa Báo Hiếu thôi, trong quý vị sẽ có người đi dự nhiều nơi, tôi đã chứng kiến đôi mắt quý vị lại tái lập như thế. Nếu hỏi tại sao, thì quả thật vô tình, một câu hỏi rất vô duyên. Nước mắt cho cha cho mẹ mà không biết chảy ra, không biết ngấn lệ, không biết vo tròn, thì xin lỗi, ta còn thua em bé và ta chưa lớn nổi làm người ?

 

Trong chúng ta, ai không nằm lòng “Công Cha như núi Thái Sơn, Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, ai không từng nghe “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào” hay “Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp một như đường mía lau”.

 

“Bao nhiêu sách vở viết về Đức Mẹ

Bao nhiêu chữ nghĩa viết về Công Cha

Dù có nhiều như vũ trụ bao la

Cũng không thể diễn tả hết được Tình Cha Nghĩa Mẹ”

 

“Tình thương Mẹ, biển Đông thấm vào đâu

Công đức Cha, núi Thái làm sao sánh

Dù đem cả hằng hà sa pháp giới

Cũng không sao đánh đổi hai chữ Song Đường

Xin đi khắp cõi vô thường

Soi ngàn đuốc tuệ thắp đường Từ Thân

Xin đi khắp cõi phù vân

Noi gương hiếu hạnh ân cần Mẹ Cha”

 

Hãy hình dung thời Đức Phật còn tại thế, hình như đôi mắt của Ngài mà ta tôn xưng Phật nhãn, vẫn lưng tròng khi Phụ Hoàng băng hà, vẫn rưng rưng khi đứng hầu kim quan, và trên đường di quan vẫn từng bước chân nặng trĩu. Lại một lần kia, khi cùng Tăng Đoàn đi khất thực, hỏi còn hình ảnh nào rung cảm hơn, xúc động hơn, chính Đức Phật đã :

“Đáo bán lộ rành rành mắt thấy

Núi xương khô bỏ đấy lâu đời

Thế Tôn bèn vội đến nơi

Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng”

 

Ôi, cao thượng thay Đấng Thiên Nhơn chi Đạo Sư !

Ôi, quý hóa thay Đấng tứ sanh chi Từ Phụ !

Phải chi Ngài điều ngự nơi đây cho chúng con đãnh lễ tôn thờ. Một kiếp này thôi, ân nghĩa cha mẹ, chúng con chưa trọn vẹn, nói chi đến quá khứ đa sanh phụ mẫu ! Một kiếp này thôi, bổn phận con hiền cháu thảo, chúng con mang bao nỗi đành đoạn đắng cay, thì làm sao đền đáp công ơn cha mẹ nhiều đời.

 

Phải chi Bồ Tát Mục Kiền Liên đang ở đâu đây, chúng con xin nương theo thần lực của Ngài để đi tìm khắp muôn hướng ngàn phương, đi sâu vào địa ngục dù có vô số cửa ngõ A Tỳ, chỉ cần nhìn thấy, Mẹ chúng con đang ở đâu, Ba chúng con đang ở đâu, rồi muốn làm gì chúng con xin nguyện tận lực hành trì.

 

Đâu cần nói chi xa phải không thưa quý vị ? Trong cuộc đời, bao nhiêu người được sống nơi chốn quê nhà, nhưng biết bao nhiêu người phải sống tha phương bởi duyên nghiệp hay hoàn cảnh khác nhau. Chỉ mong sao được về thăm nơi chôn nhau cắt rốn, được nhìn lại bàn thờ từ đường, ấp ủ dưới mái nhà tranh, bếp lửa hồng êm vợn khói, thoang thoảng hương cau, thơm thơm gạo mới. Và kia, dòng sông Quê Ngoại, bến cũ Quê Nội, đường đất bên làng, lối ngõ đầu thôn, rẽ ngang xóm nhỏ , ruộng lúa ngô đồng, “Làng quê nghèo cuối phương trời biền biệt, Bóng thời gian không đủ sức nguôi ngoai, Vẫn đong đầy và sống mãi trong tôi, Lỡ nhắm mắt ôm khối sầu muôn thuở”.

 

Và kia, ai sống thị thành, phố phường đô hội, “Những lối đi chạy ngang qua đất đỏ,  Những lối về chạy dọc dưới trời xanh, Những mạch máu của trái tim thành phố, Những đốt xương của thân thể châu thành, Những con đường chúng mang hồn dân tộc, Qua không gian không thay đổi danh từ, Lối cỏ mới đề huề reo ánh sáng, Khách đi về cảm thấy khác tâm tư”. Rồi được đến thăm nấm mồ của Mẹ của Ba, bên Ông Bà Nội Ngoại Tổ Tiên, lục thân quyến thuộc quá vãng, để quỳ, để khóc, để thương, để nhớ, để được thắp một nén hương, mà kiếp sống xa nhà, dù đã 10 năm, 20 năm, 30 năm, hay hơn nữa, nhưng vẫn xin khẳng quyết mọi vùng đất dung thân không phải là cố quận, lại càng không phải quê hương của mình. Và, “Khung trời quê vẫn ngậm sầu, nghìn trùng xa cách. Cõi trời quê vẫn chôn chặt, tận đáy hồn đau”.

 

Xin Cha tha cho chúng con. Xin Mẹ tha cho chúng con. Xa hơn nữa, chúng con xin tạ tội với người Cha cội nguồn của Văn Lang, xin khấu đầu với người Mẹ đầu tiên của Bách Việt, đã cho chúng con được mang dòng giống Lạc Hồng, tóc đen da vàng máu đỏ, nhưng lại mang một mảnh hồn đau và một trái tim nhức nhối.

 

Bạch quý Thầy, quý Sư Cô,

Thưa quý vị lớn tuổi cùng toàn thể anh chị em,

 

Một bông hồng đã đầy đủ chưa ? Một bông trắng đã thấm thía chưa ? Theo tôi, phải là một rừng bông hồng để dâng lên Mẹ, hay một rừng bông trắng để khóc cho Cha. Một rừng bông hồng để khơi động tình thương, và một rừng bông trắng để xóa tan vụn vỡ. Một rừng bông hồng để gìn giữ nâng niu, và một rừng bông trắng để tạ từ miên viễn.

 

Nguyện cầu mười phương Chư Phật chứng minh

Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ

Nguyện cầu Đức Đại Hiếu Mục Kiền Liên soi sáng cho chúng con

Nguyện cầu hồn thiêng sông núi Việt Nam gia hộ cho toàn dân nước Việt.

 

Và mầu nhiệm thay, thiêng liêng thay, chúng ta cùng nhắm mắt, chắp tay :

Ba ngàn thế giới đang rung động !

Tam đồ bát nạn đang mở toang !

Một bông hồng biến thành vô số bông hồng để trọn vẹn mùa hiếu hạnh.

Một bông trắng thấm sâu vô số bông trắng để kết nẻo phương đài.

Đó mới thật sự là Bông hồng cài áo !

Đó mới thật sự là bông trắng cưu mang !

Đó mới thật sự là Mùa Vu Lan Thắng Hội !

Đó mới thật sự là Giải Cứu Đảo Huyền, độ thoát hàm linh !

Trân trọng và trân trọng nhớ ân !

Chân thành và chân thành nhớ mãi !

 

Ngưỡng dâng Chư Tôn Đức Tăng Ni

Kính chào toàn thể liệt quý vị.

 

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

Mùa Hiếu Hạnh 2009

TNT Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

alt

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (TNT Mặc Giang) frontpage Tue, 27 Jul 2010 17:51:43 +0000
Mở Trang Hiếu Hạnh (Tuyển tập Bốn - 10 bài ) http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6456-mo-trang-hieu-hanh-tuyen-tap-bon-10-bai.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6456-mo-trang-hieu-hanh-tuyen-tap-bon-10-bai.html 01.  Ước vọng Vu Lan

02.  Vin Cành Hoa Trắng

03.  Hiếu Hạnh Phật Giáo

04.  Hoa Trắng Thù Ân

05.  Nở Đóa Từ Thân

06.  Thắm tô Tình Mẹ

07.  Công đức Phụ thân

08.  Công đức Song Đường

09.  Hoa Hồng dâng Mẹ

10.  Hiếu Hạnh đền Ơn

 

Ước Vọng Vu Lan

 

Mỗi Mùa Thắng Hội Vu Lan

Ai ai cũng cảm bàng hoàng tâm tư

Một năm man mác còn dư

Đến Mùa Thắng Hội thêm như thế này

Phải rồi Tháng Bảy mưa bay

Gió se se lạnh nỗi này tình kia

Mưa sa nhỏ giọt chia lìa

Công ơn Cha Mẹ hiện về giăng giăng

Hòa theo Tháng Bảy Mùa Trăng

Là Mùa Hiếu Hạnh nặng oằn thâm sâu

Ra bờ Ái Tử đầu cầu

Lăn tăn gợn sóng vũng nâu ru hời

Võng đưa kẽo kẹt à ơi

Cả hình bóng Mẹ một đời hiện ra

Vọng nghe trên ải sơn hà

Chim kêu quốc quốc gia gia canh trường

Cấu thành hình bóng quê hương

Có tình Phụ Tử vương vương cơ đồ

Kệ kinh trầm bỗng Nam Mô

Lung linh nghĩa địa cửa mồ tối om

Kìa Cha kìa Mẹ chúng con

Kìa anh kìa chị lon ton hiện về

Chờ Mùa Hiếu Hạnh nằm nghe

Rụng rơi trái chín não nề tấm son

Chùn sâu thẩm thấu tâm hồn

Động lên trí não lòng cồn ruột đau

Thương Mẹ thì Mẹ còn đâu

Thương Cha mấy lớp cỏ khâu xanh rì

Anh em mỗi kẻ phân ly

Ngày xa tháng vắng nói chi họ hàng

Tình quê một nỗi mênh mang

Tình non nghĩa nước lại càng lao lung

Nhện giăng quán trọ đóng khung

Ngẫm riêng mới thấy não nùng nghĩa ân

Công ơn sinh dưỡng Song Thân

Công ơn non nước ngàn cân ngập lòng

Hiếu kia đền đáp sao xong

Hạnh kia bù lấp sao mong cho cùng

Nương Mùa Hiếu Hạnh bao dung

Con hiền cháu thảo trĩu chùng lòng son

Chân thành thắp nén tâm huơng

Dâng Mùa Hiếu Hạnh nhớ thương tôn thờ

Chắp tay niệm tiếng Nam Mô

Dâng Mùa Hiếu Hạnh đến giờ linh thiêng

Chứng tri con thảo cháu hiền

Dù cho muôn một đáp đền nghĩa ân

Trung nguyên tháng bảy hằng năm

Là Mùa Thắng Hội Vu Lan nhiệm mầu

Dù ai ở tận nơi đâu

Đến Mùa Báo Hiếu mau mau tựu về

Đàn tràng mở Hội đề huề

Cho tròn Hiếu Hạnh nguyện thề Vu Lan.

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

 

Vin Cành Hoa Trắng

 

Nhìn ai đó, đang cài bông hoa trắng

Tôi biết rồi, anh trắng cả thiên thu

Còn chị và em, trắng cả mịt mù

Cha Mẹ mất rồi, còn gì mà nói

 

Cài Hoa Trắng, là bầu trời khép lại

Là không gian đóng khung cửa yêu thương

Là thời gian gởi vĩnh viễn vô thường

Cha Mẹ mất rồi, là mất tất cả

 

Cài Hoa Trắng, màu xanh mờ lá mạ

Màu úa vàng, lúa chín khóc ruộng nương

Màu thu tím, cuốn lá rụng vương vương

Màu của những ai không còn Cha Mẹ

 

Cài Hoa Trắng, nhiều khi ta giật mình khe khẽ

Nằm mơ gì mà lệ đẫm đêm qua

Giọt lệ buồn hay giọt lệ châu pha

Gối đã trũng biết bao lần thương Cha nhớ Mẹ

 

Cài Hoa Trắng, ta ra đầu cửa bể

Hỏi Biển Đông sao sóng vỗ mù sương

Tiếng sóng kia không phải tiếng trùng dương

Mà là tiếng của vô cùng nhớ Mẹ

 

Cài Hoa Trắng, ta lên đầu quan ải

Hỏi Trường Sơn, núi Thái cao đến đâu

Ngó ngược lên chót vót cuối đỉnh đầu

Công đức Cha vẫn nhìn chưa thấy hết

 

Chứ không những chỉ đồng cao ruộng thấp

Chứ không những chỉ manh áo chén cơm

Vùng đất khô khan trâu kéo cõi còm

Lúa mạ hao gầy cày lên sỏi đá

 

Chứ không những chỉ nhà tranh gốc rạ

Mái quê nghèo khốn khó đãi nhiêu khê

Cho người dân tôi sống nỗi ê chề

Thiếu trước hụt sau hai mùa mưa nắng

 

Lại còn phải kinh qua bao thời chinh chiến

Khói lửa tơi bời dày xéo quê hương

Cho người dân tôi nát ruột đoạn trường

Đổ nước mắt dập vùi trong sự sống

 

Mỗi bước chân đi ta mang hình ảnh Mẹ

Mỗi bước chân đi, ta mang vóc dáng Cha

Trong thâm tâm luân lưu huyết thống đậm đà

Trong tình tự chứa chan tình Dân tộc

 

Chứ không có nghĩa dành riêng con trẻ

Không Cha không Mẹ, mới gọi mồ côi

Dù mình già cả, chết tới nơi rồi

Nhưng nghĩ đến Tông Đường, bỗng thấy đời lạc lõng

 

Áo cài Hoa Trắng

Trắng một cành hoa

Thức trắng đêm qua

Nằm ru gối mộng

 

Ôi Mùa Hiếu Hạnh

Khép cửa đơn côi

Trời đất rụng rơi

Ngân hà ngưng đọng

 

Thời gian nín thở

Không gian lặng thinh

Con đứng một mình

Ôm rêu Hiếu Hạnh

 

Cha không lên tiếng

Mẹ cũng xa mờ

Con đứng trơ vơ

Vin cành Hoa Trắng.

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

 

Hiếu Hạnh Phật Giáo

 

Hiếu đạo thường tình trong thế gian

Mong sao cha mẹ được bình an

Dưới hòa trên thuận và êm ấm

Đủ mặc đủ ăn sống nhẹ nhàng

 

Hiếu đạo thường tình của thế nhân

Mong sao cha mẹ sống dư phần

Giàu sang phú quý nhiều duyên phước

Để lại đời sau cho cháu con

 

Nhân tâm hiếu đạo của con người

Hạnh phúc, sang giàu, đẹp tốt tươi

Sung túc, dư thừa, và thọ hưởng

Phì gia, vinh thế, phải hơn đời

 

Mẹ Cha đắc thọ sống miên trường

Con cháu đầy đàn cùng vấn vương

Tráo đấu, lường đong, đãi phú quý

Hiền lương, thiện ác, ít cân lường

 

Suốt đời tận tụy kiếp nhân sinh

Địa vị, quyền uy với lợi danh

Tranh đoạt, gian tham và cố thủ

Thời gian đâu nữa nói hư vinh

 

Mấy chốc thoi đưa đã yếu già

Đó là chưa kể bịnh tình đa

Nghĩa trang đã lắm mồ hoang lạnh

Còn lấn chen nhau, cãi, khóc, la

 

Phật rằng, như thế mới thường tình

Lục đạo, tam đồ lụy chúng sinh

Nước mắt nhiều hơn bốn biển lớn

Lộn nhào trong bóng dáng vô minh

 

Phật rằng, ta tạm mấy lời khen

Cháu thảo con hiền khá đáp đền

Đã hết cuộc đời bên quán trọ

Nhà xưa không biết cho nên quên

 

Chư Thiên tuổi thọ thật không lường

Thụ hưởng dư thừa rớt vãi vương

Phước cạn, đức khô, còn đọa xuống

Huống chi nhân thế lắm tai ương

 

Đạo Hiếu cao siêu, Phật tỏ bày

Lắng nghe cho kỹ, kể từ nay

Hành trì cẩn mật và truyền lại

Kim cổ dung thông không đổi thay

 

Đạo Hiếu Thế Tôn thì khác nhiều

Sống thời tu tập, chết tiêu diêu

Không sa tro bụi căn nhà lửa

Hát khúc vô sanh đỉnh nguyên siêu

 

Đạo Hiếu Như Lai, Phật dạy rằng

Quá thời Cha Mẹ được siêu thăng

Sống thời làm phước bồi tâm đức

Tam thế nhàn cư mới vĩnh hằng

 

Đạo Hiếu của ta vô thượng thừa

Ba đường sáu nẻo cứ ra vô

Chúng sanh tất cả đều con một

Đưa đến Niết Bàn, khá biết chưa

 

Đó là Hiếu Hạnh tuyệt trần gian

Thánh đức từ bi của Đạo Vàng

Vạn loại sinh linh đều tế độ

Liên hoa chín phẩm tọa an ban.

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

 

Hoa Trắng Thù Ân

 

Bông Hoa Trắng đang cài trên chiếc áo

Mắt rưng rưng và lệ thắm mềm môi

Lặng nhìn thôi và không nói một lời

Sao kỳ lạ hỡi người trong nhân thế

 

Hoa Màu Trắng, là màu gì như thế

Em biết rồi, nói chi nữa thêm đau

Chị biết rồi, nói chi nữa thêm sầu

Anh biết rồi, nói chi nữa, ân hận

 

Hoa Màu Trắng, là màu của cam phận

Đeo một lần, là gắn cả thiên thu

Mang một lần, là gắn cả mịt mù

Thầm cầu nguyện thiết tha Mùa Hiếu Hạnh

 

Hoa Màu Trắng, là màu của câm nín

Không còn Cha một tiếng để mà kêu

Không còn Mẹ để nũng nịu kèo nhèo

Đổi cả trần gian cũng không bao giờ tìm được

 

Hoa Màu Trắng, là màu của bất hạnh

Không còn Cha, để núp bóng Song Đường

Không còn Mẹ, để tắm gội yêu thương

Đổi cả bạc vàng cũng không bao giờ mua được

 

Hoa Màu Trắng, là màu của vĩnh biệt

Màu tạ từ, màu vĩnh viễn, màu thiên thu

Anh, chị, và em, sẽ không có nụ cười

Khi nhìn người ta cài Hoa Hồng Trên Áo

 

Hoa Màu Trắng, chia sẻ cơn áo não

Chắp tay cầu Mùa Thắng Hội Vu Lan

Cửa A Tỳ, hãy rộng mở thênh thang

Để con hiền cháu thảo đền ơn trong muôn một

 

Hoa Màu Trắng, diễn tả cho cùng tột

Chữ nghĩa của thế gian, cho cạn hết ngôn từ

Công Đức Sinh Thành, vẫn chỗ thiếu chỗ dư

Cho nước mắt cứ chảy, cho hoa cài trên áo

 

Hoa Màu Trắng, cho tôi xin khép lại

Mùa Báo Hiếu về, Thắng Hội Vu Lan

Nguyện cầu sinh linh vạn loại siêu thăng

Trong đó có Cha Mẹ, và cửu huyền Thất Tổ

 

Hoặc lục thân quyến thuộc, những ai quá cố

Đến chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, thập loại cô hồn

Hay bởi thiên tai, nạn tai, sơn hà hải địa oan vong

Cũng được nương nhờ Mùa Vu Lan Hiếu Hạnh

 

Hoa Màu Trắng, cho tôi xin được gắn

Gắn một lần, chứ không dám nữa đâu

Bởi từ nay, và mãi mãi về sau

Anh chị và em, hãy tự gắn, chứ không cần ai gắn nữa

 

Kể từ đó, ta về hoang đảo nhỏ

Khép khung trời đóng cửa tiếng Mẹ Cha

Mỗi một năm, Mùa Báo Hiếu đi qua

Ta lại gắn thêm một lần Hoa Trắng

 

Kể từ đó, ta về căn quán trọ

Của cuộc đời nhiễm thể kiếp phù sinh

Nguyện pháp giới không còn Tam đồ, Lục đạo điêu linh

Để nước mắt của con người, của tình dữ vô tình

Biến thành nước Cam Lồ thanh lương giải thoát

 

Đó, là ý nghĩa siêu tuyệt Vu Lan Thắng Hội cao nhất

Đó, là ý nghĩa nêu gương Hiếu Hạnh Mục Kiền Liên

Bao nhiêu tầng địa ngục còn giải cứu

chứ đừng nói hoàng tuyền

Và, ta sẽ sung sướng mỉm cười

Màu Hoa Trắng là màu Thù Ân cao cả.

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

 

Nở Đóa Từ Thân

 

Người đời hát tiếng Mẹ Cha

Ta đưa Cha Mẹ vào nhà Như Lai

Người đời sắc thắm hoa cài

Ta đưa Cha Mẹ lên đài sen thơm

Người đời hầu hạ áo cơm

Ta đưa Cha Mẹ thoát vòng trầm luân

Người đời sớm tối ân cần

Ta đưa Cha Mẹ dự phần Thánh nhan

Mai sau sẵn có sen vàng

Hôm nay thấm nhuận chứa chan cam lồ

Công Cha đức Mẹ tôn thờ

Con hiền cháu thảo ươm mơ vẹn tình

Không tranh hơn thiệt lợi mình

Lời qua tiếng lại lao linh Tông Đường

Không màng nặng nhẹ tầm thường

Bào mòn nghĩa cử tình thương nhiệm mầu

Khắc ghi nhớ mãi trong đầu

Xuôi thuyền mát mái một tàu Mẹ Cha

Anh em con cháu gần xa

Ở đâu đi nữa một nhà mà thôi

Nhờ Cha, ta mới nên người

Nhờ Mẹ, ta biết nụ cười yêu thương

Nhờ Cha, thỏa chí cương thường

Nhờ Mẹ, tắm gội sắc hương trong đời

Càn khôn nở đóa tinh khôi

Ngàn năm sừng sững đất trời Mẹ Cha.

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

 

Thắm tô Tình Mẹ

 

Hỡi Mẹ Hiền ơi Mẹ ở đâu

Con đi tìm Mẹ khắp tinh cầu

Chân trời góc biển, nhìn hoang đảo

Núi cả lưng đèo, ngóng hố sâu

 

Con đi tìm Mẹ đếm tình thương 

Đom đóm dõi soi khắp nẻo đường

Thắp sáng mập mờ chìm bóng tối

Đêm dài tĩnh mịch phủ mùi sương

 

Mẹ Hiền ơi hỡi ở nơi nào

Vạn hữu im re chẳng xuyến xao

Vũ trụ lặng thinh không tiếng động

Phương trời mờ mịt gởi ngàn sao

 

Chừng như có một cõi đi về

Lặn lội đi tìm đã mỏi mê

Đi khắp mồ hoang cùng nghĩa địa

Lối mòn phơi dốc đá nhiêu khê

 

Bóng hình của Mẹ hiện đâu đây

Đưa mắt nhìn con không chớp lay

Hun hút thiên thu chừ bỏ ngõ

Hư vô nắm lại chẳng đong đầy

 

Tôi vẫn ươm mơ bóng Mẹ hiền

Tinh cầu có một cõi thiêng liêng

Tôi xin tô thắm tình thương Mẹ

Trụ vũ muôn đời đẹp vĩnh nhiên.

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

 

Công đức Phụ Thân

 

Công Cha núi Thái thua xa

Trường Sơn mờ khói quan hà non xanh

Khi nghe công đức Sinh Thành

Hòn chồng đá tảng loanh quanh thẹn thùng

Ơn Cha một tiếng vô cùng

Vô thỉ kính cẩn vô chung nghiêng mình

Gom ngàn vạn thể trung trinh

Vẽ chưa đủ nét bóng hình của Cha

Gom ngàn vạn thể thiên hà

Cũng chưa thể sánh đậm đà Từ Nghiêm

Con đom đóm nhỏ soi đêm

Vẽ tình Phụ Tử khép thềm hư vô

Dế mèn lưu ký tàn khô

Vẽ tình Phụ Tử xô bờ rêu xanh

Mồ hoang cây cỏ ngậm vành

Đất kia thấu ruột trời xanh nhũn lòng

Ơn Cha, huyết thống tồn vong

Cội nguồn chuyển mạch nối dòng thiên thu

Ơn Cha, một tiếng Nghiêm Từ

Chất đầy vũ trụ còn dư Nghiêm Đường

Ơn Cha, hằng hữu phi thường

Băng qua bóng dáng vô thường còn nguyên

Cõi nào là cõi thiêng liêng

Gắn trên chót đỉnh hậu – tiền Ơn Cha.

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

 

Công đức Song Đường

 

Nói về công đức của Song Đường

Biển rộng trời cao không thể lường

Núi thẳm sông sâu không thể sánh

Không gì bù đắp nổi tình thương

 

Lòng Mẹ bao la phủ đất trời

Thái Bình biển sóng vỗ đầy vơi

Tin yêu sức sống bình minh gội

Con thảo cháu hiền hưởng thế thôi

 

Ơn Cha cao cả nặng ngàn cân

Núi Thái thấm đâu đừng lựa lần

Vũ trụ càn khôn còn nể mặt

Không Cha, mưa gió đổ phong trần

 

Hai Đấng Song Đường tuyệt sắt son

Cho ta thân thể có tâm hồn

Có lòng chan chứa ươm tình tự

Ái Tử là gì hỡi cháu con

 

Công đức Song Đường tuyệt thế thay

Ơn Cha một tiếng phủ trời mây

Một lời Nghĩa Mẹ tràn chung thủy

Nhắc nhở muôn đời, không đổi thay.

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

 

Hoa Hồng dâng Mẹ

 

Hoa hồng một đóa xinh xinh

Gắn trên vành áo thắm tình mẫu thân

Còn Mẹ diễm phúc tuyệt trần

Một lòng hiếu thảo ân cần mến yêu

Hoa hồng một đóa nâng niu

Bước đi trỗi nhịp cầu kiều Mẹ thương

Mẹ hiền ngát tỏa mùi hương

Ươm tình dịu ngọt trên đường trần gian

Còn Mẹ hơn cả bạc vàng

Hơn muôn phú quý hơn ngàn minh châu

Mẹ là hằng hữu nhiệm mầu

Cháu con tận hưởng sắc màu yêu thương

Mẹ là vạn lý thiên hương

Trời cao biển rộng vấn vương nghĩa tình

Hoa hồng một đóa xinh xinh

Em còn có mẹ bên mình nghe em

Thắp nhang khấn nguyện hàng đêm

Đừng ai ập phủ bóng thềm hoang vu

Chập chờn vần vũ mây mù

Đừng ai mở cửa thiên thu vạn sầu

Dòng sông Ái Tử bên cầu

Vô thường im sóng chìm sâu xa bờ

Hoa hồng dâng Mẹ ươm mơ…

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

 

Hiếu Hạnh đền Ơn

 

Công đức Mẹ Cha thật nhiệm mầu

Không gì so sánh nổi cho đâu

Lời ca tiếng hát còn trầm bỗng

Chữ nghĩa văn chương chấm phết câu

 

Sân khấu muôn phương kéo, mở màn

Núi rừng thư viện của trần gian

Không sao diễn hết Tình Cha Mẹ

Công đức sinh thành mãi vọng vang

 

Nhắc nhau muôn một nghĩa thù ân

Máu chảy về tim xin dự phần

Châu thể vo tròn nhìn gốc cội

Song đường nghiêm tỏa đức từ thân

 

Con thảo cháu hiền hãy nhớ này

Đây là phương cách của xưa nay

Lắng nghe cho kỹ và gìn giữ

Tam thế ba đời không đổi thay

 

Đáp đền chỉ có Hội Vu Lan

Chư Phật Mười Phương đồng hỷ hoan

Tứ Chúng một lòng quy thiết lễ

Mỗi Mùa Báo Hiếu tạ thù ân

 

Chuông chùa thánh thoát vọng ngân vang

Ngưỡng cửa thiền môn của Đạo Vàng

Sống chết đôi bờ nghe sóng vỗ

Nhiệm mầu thù thắng Hội Vu Lan

 

Cửa ngục trùng trùng sẽ mở toang

Thiên Đường rợp Ánh Đạo huy hoàng

Sinh linh vạn loại đều nương bóng

Thoát khỏi Tam Đồ, đáo Lạc Bang

 

Khá khen nhân thế nhớ Thù Ân

Công đức Mẹ Cha đừng lựa lần

Khắc cốt ghi tâm và bái tạ

Đáp đền ơn trọng nặng ngàn cân

 

Ông Cha nhờ đó được siêu thăng

Còn Mẹ an khương chốn diễm hằng

Tất cả hàm linh đều giải cứu

Mỗi Mùa Hiếu Hạnh, Hội Vu Lan.

 

Tháng 6 – 2010

TNT Mặc Giang

alt

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (TNT Mặc Giang ) frontpage Tue, 27 Jul 2010 17:49:19 +0000
Ngắm mây trên hồ http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6455-ngam-may-tren-ho.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6455-ngam-may-tren-ho.html altCó bao giờ bạn nhìn từng cụm mây trắng lững lờ trôi ngang bầu trời xanh mà không cần phải ngước mắt nhìn trời chưa? Tôi đã được nhìn mây bay như thế, vào một buổi chiều chưa muộn, bên một bờ hồ phía bên phải của chùa Từ Hiếu, Huế.

Hồ rộng rộng, dài dài, nước trong. Rong nở gần đầy cả mặt hồ. Dưới hồ có rất nhiều cá. Cá nhỏ đã đành rồi, mà cá to cũng lắm. Chúng bơi lượn ăn rong và đớp khí tự do như không có chi cần phải lo sợ cả, như thể sự bình yên này đã có tại nơi đây tự hồi nào rồi, từ cả hơn 160 năm nay rồi, kể từ khi Hòa thượng Nhất Định đến đây khai sơn, dựng "An Dưỡng Am" để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già.

Xung quanh hồ, cây cỏ xanh tươi yên bình. Và tất cả những cây những cỏ ấy ta đều có thể nhìn thấy được ngay trên mặt nước hồ tĩnh lặng.

Mây vẫn trôi lững lờ qua hồ. Mặt trời bị mây che rồi, nên không còn chiếu ánh nắng trong vàng xuyên qua các tầng lá thông dày mịt từ phía Tây lên mặt hồ nữa. Gió nhè nhẹ làm đung đưa những nhánh lá tre nghiêng ra mặt hồ. Không gian thật yên tịnh. Thỉnh thoảng có tiếng cá đớp trên mặt nước. Một con cá chép đỏ to thật to bơi lại nhìn coi tôi đang viết gì, rồi lẳng lặng bơi đi.

Xa xa, trên những con đường đi, thấp thoáng bóng các vị áo nâu đi lại thật nhẹ nhàng và yên lặng. Tôi ngồi đây nghe các sư cô tụng kinh trong thời cúng cháo buổi chiều. Cháo cúng xong rồi. Mặt trời ló dạng trở lại, in bóng trên mặt hồ, chiếu sáng như một chùm kim cương to, thật đẹp.

Gia đình bốn người chúng tôi, gồm hai người lớn là bố và mẹ, và hai con là bé gái và bé trai, giống như một tăng thân nhỏ, được về chùa Tổ trong bốn ngày, chúng tôi vui lắm! Bé gái năm nay đã 10 tuổi rồi, bé trai 6 tuổi. Hai bé giống như là thi nhau lớn lên, chúng đã lớn lên thật nhanh!

Ban nãy khi ba mẹ con đi dạo chơi, gặp sư cô Nguyệt N., chúng mừng quá và đã theo sư cô đi chơi rồi. Do vậy mà tôi mới có thì giờ, có chút thảnh thơi mà ngồi bên bờ hồ, ngắm mặt hồ tĩnh lặng, ngắm mây trôi trên hồ, và ngắm nhìn được tất cả những gì đang in bóng trên mặt nước hồ tĩnh lặng đó. Chợt nhớ đến bốn câu thơ:
 

Bụt là vầng trăng mát

Đi ngang trời thái không

Hồ tâm chúng sinh lặng

Trăng hiện bóng trong ngần.

 

Khi tâm của mình yên lặng như vậy, thì đời sống của mình chắc là sẽ đẹp lắm bạn nhỉ?

Tôi muốn đi trên con đường phía bên kia hồ mà tôi chưa từng đi. Nhưng hai bé về rồi, thế là tôi phải đi theo hai con của tôi thôi, vì hai bé vẫn còn cần tôi lắm lắm! Và đối với tôi thì, tất cả những gì tôi làm, tôi đều làm cho hai em bé đó. Vì đó chính là hạnh phúc của tôi.

Áo Nâu

(phusaonline)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Áo Nâu) frontpage Tue, 27 Jul 2010 17:43:28 +0000
MAHA PRAJANA – MAHA KARUNA (Đại Bát nhã và Đại Từ bi) http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-can-ban/6453-maha-prajana--maha-karuna-dai-bat-nha-va-dai-tu-bi.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-can-ban/6453-maha-prajana--maha-karuna-dai-bat-nha-va-dai-tu-bi.html

 

Lời giới thiệu của người dịch :

 

                D.T. Suzuki (1870 -1966) thường được xem là một trong những vị thiền sư lớn nhất của thế kỷ XX. Thật ra thì rất khó hay không thể để chúng ta có thể đo lường được chiều sâu của sự giác ngộ trong tâm thức của các vị thiền sư, vì việc đó vượt ra khỏi khả năng của chúng ta, và vì thế cũng rất khó hoặc không thể nào đánh giá họ được. Chúng ta chỉ có thể dựa vào sự bén nhạy của lòng mình để ngưỡng mộ họ mà thôi.

                Có thể người ta đã nhìn vào các trước tác, dịch thuật và các bài diễn thuyết của D.T. Suzuki tại Mỹ, Âu châu và nhiều nơi khác trên thế giới để đánh giá ông và xem ông như là một trong những vị thiền sư lớn nhất trong thời kỳ cận đại. Hơn nữa có lẽ người ta cũng đã xem ông như một trong những người đã mang Phật giáo nói chung và thiền học nói riêng đến với thế giới Tây phương trong tiền bán thế kỷ XX.               

                Ông mất năm 1966 và ba năm sau thì Hội Phật giáo Hoa kỳ đã gom góp một số bài viết của ông để in thành một tập sách với tựa đề : "The Field of Zen" ("Thế giới của Thiền học Zen"). Bốn mươi mốt năm sau thì quyển sách này mới được dịch ra tiếng Pháp với tựa đề "Derniers Ếcrits au bord du Vide" ("Những bài viết cuối cùng bên bờ của cõi trống không") do nhà xuất bản Albin Michel (Paris) ấn hành vào tháng 6 năm 2010. Bài chuyển ngữ dưới đây là một trong 15 bài được trích từ tập sách này.

 

 alt

Bìa quyển sách "Những bài viết cuối cùng bên bờ của cõi trống không"

của D.T. SUZUKI

 

 alt

Ấn bản gốc bằng tiếng Anh năm 1969

 

            Maha karuna, có nghĩa là " đại từ bi" hay tình thương rộng lớn, hàm chứa những phẩm tính như tha thứ và Phật tính. Thiền học Zen có vẻ như hướng nhiều về bát nhã (prajna) và xem nhẹ khía cạnh từ bi (karuna), nhưng thật ra từ bibát nhã  đều là hai thể dạng của hiện thực, cả hai bổ khuyết cho nhau. Thiếu bát nhã sẽ không có từ bi, và nếu thiếu từ bi thì sẽ không có bát nhã, sự liên kết đó chặt chẽ cho đến độ mà bất cứ nơi nào có cái này thì cũng sẽ có cái kia.

            Hiện thực thật khó để xác định, tuy nhiên khi nhìn nó qua lăng kính của trí thông minh con người hay sự hiểu biết của chúng ta, thì nó sẽ hiện ra dưới hai thể dạng khác nhau là : bát nhã từ bi. Bát nhã mang tính cách thụ động, từ bi thì lại năng động, một thứ tượng trưng cho sự hiện hữu, thứ kia cho sự hình thành. Chính vì thế hiện hữu và hình thành luôn đi đôi với nhau, tuy nhiên tâm trí của chúng ta thì lại tách rời chúng thành hai thứ khác nhau. Thật ra trên phương diện bản thể học thì đấy cũng chỉ là một cách diễn đạt mà thôi, khi sự hiện hữu và sự hình thành đi vào tâm thức của con người thì sự hiện hữu sẽ trở thành bát nhã và sự hình thành là từ bi.

            Swedenborg (1) từng nêu lên vấn đề "Sáng suốt" (Sagesse, Wisdom) và "Tình thương" thánh thiện. Nếu đúng là sự Sáng suốt tương đương với Bát nhã và Tình thương tương đương với Từ bi, thì Thiên chúa giáo và Phật giáo tương hợp với nhau qua cách đối chiếu trên đây. Chúng ta không thể nào bắt gặp một thứ mà lại không có thứ kia đi kèm. Phật giáo nói đến tánh không (sunyata), và tánh không thì có nghĩa là sự trống không, tức là đối tượng của bát nhã (prajna), trong khi đó thì từ bi (karuna) thuộc vào thế giới của sự đa dạng. Vì thế bát nhã tượng trưng cho đặc tính thuần nhất của tất cả mọi vật thể, và từ bi thì lại tượng trưng cho đặc tính đa dạng của chúng. Khi nói đến "Một" (Nhất thể), thì chúng ta sẽ nghĩ rằng đấy là một thứ gì hiện ra trước mặt chúng ta như một đối tượng của sự suy nghĩ, nhưng thực ra đấy chỉ là cách phản ứng của ta do thói quen mà có khi phải tiếp cận với hiện thực ; do đó khi nói đến "Một" hay "đơn vị thuần nhất" tức là ta đã phạm vào sự sai lầm rồi. Vì thế mà các nhà tư tưởng Phật giáo phải sử dụng một thuật ngữ khác gọi là sunyata (tánh không), "sự trống không" (vide, vacuité, emptiness), tuy nhiên chúng ta có thể buông lỏng sự tưởng tượng để hình dung ra một vật gì đó vượt ra khỏi khả năng thị giác của mình. Nếu vật đó biến mất thì chúng ta sẽ bảo rằng sự trống không biến mất, tuy nhiên loại trống không ấy chỉ mang tính cách tương đối và nhất định không phải là thứ tánh không đích thực. Đối với sự giác ngộ thì chúng ta cũng thường hay phạm vào sự lầm lẫn như thế.

            Ngôn từ là một thứ gì thật tinh tế và cuộc sống của chúng ta không thể tồn tại được nếu không có ngôn từ, tuy nhiên ngôn từ là một thứ gì tồi tệ nhất mà con người đã sáng chế ra. Hãy lấy một thí dụ, luật pháp định nghĩa vô cùng chính xác từng sự vật một, chính xác đến nỗi chính nó lại biến thành nguyên nhân của mọi sự phức tạp và phiền toái. Chúng ta đặt ra một số luật pháp để quy định sự giao tiếp giữa con người với nhau, và cũng chính từ nguyên nhân đó mà phát sinh ra mọi thứ xung đột. Hiện tượng đó cũng đã xảy ra trong lãnh vực nhận thức luận (épistémologie, epistemology) . Các triết gia sáng tạo ra các hệ tư tưởng, mỗi vị đều tin rằng mình đã đẩy sự tiến bộ xa thêm một bước, nhưng thật ra thì một hệ thống mới sẽ phá bỏ những gì đã được xây dựng trước đó. Tuy thế, dưới một khía cạnh nào đó, dường như có một sợi dây xuyên thủng chuỗi liên tục của tạo tác và hủy diệt, tuy rằng sự kiện này cũng khá khó cho chúng ta nhìn thấy. Vì thế khi đề cập đến vấn đề bát nhãtừ bi chúng ta sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn. Vị đại luận sư Mã Minh (Asvaghosa) (2) nói rằng muốn chặt cây thì cần phải có một cái rìu, nhưng khi vừa nhận thấy là thiếu cái rìu thì phải thay ngay bằng một cái khác ; và cứ thế mà người ta phải cần đến một số rìu bất tận mà chẳng bao giờ có thể kết thúc được cái quá trình đó. Mã Minh bảo rằng phải sử dụng ngôn từ để chấm dứt ngôn từ. Đối với trường hợp của từ bi bát nhã thì cũng thế. Khi đề cập đến chúng thì ta bảo đấy là hai thứ khác nhau, nhưng hiện thực thì chỉ là một, và cái "Một" ấy không phải là một đơn vị giới hạn mà thật sự là "Một". Vậy trong trường hợp này phải có một cái gì tương đối, nhưng đồng thời lại cũng có một cái gì khác vượt ra bên ngoài nó.

            Tính cách nhị nguyên giữ vị trí trung tâm trong mọi tư duy của ta ; nhờ vào nhị nguyên ta mới diễn tả được sự suy nghĩ của mình một cách minh bạch và cứ tưởng như thế là ta đã hiểu được và sự suy nghĩ đã rõ ràng hơn, nhưng thực ra phía sau sự hiểu biết đó thì sự hoang mang đang ngự trị. Khi rơi vào tình trạng mâu thuẫn trên đây có thể ta sẽ nghĩ rằng không biết phải làm thế nào để tiếp tục tồn tại, thế nhưng sự sống vẫn cứ phát sinh và tư duy thì mãi chạy theo sau. Như vậy thì cách tốt nhất là chúng ta nên cố gắng tự đặt mình vào trung tâm của sự sống ấy thay vì chỉ biết suy nghĩ về nó, dù rằng ta phải cần đến tư duy để đạt được điểm tối hậu trong sự sống ấy đi nữa. Muốn sang sông ta phải cần đến một cái bè, nhưng khi đã sang được bờ bên kia thì phải bỏ nó lại. Thế mà  chúng ta vẫn cứ bám chặt lấy nó và mang nó theo với mình.

            Thiền học Zen cho chúng ta biết rằng tất cả mọi sự vật đều có thể thu lại thành một, tuy nhiên thiền học Zen cũng đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu xem cái "Một" ấy đưa về đâu. Chúng ta chỉ biết trả lời là  : "Chẳng đi về đâu cả", vì thật ra cái thế giới vô lượng này là một thế giới thuần nhất. Thuật ngữ Phật giáo gọi cái thế giới "cùng một thứ như nhau" này là thế giới của sự đa dạng. Trên một quan điểm nào đó thì hai thế giới ấy khác biệt nhau, giống như hai mặt của tấm màn ảnh chiếu phim, nhưng thật ra cũng nhờ thế mà bát nhãtừ bitừ bibát nhã. Khía cạnh tĩnh lặng là năng động, ngược lại khía cạnh năng động là tĩnh lặng. Chính nhờ thế mà chúng ta mới có thể phát biểu : hiện hữu chính là hình thànhhình thành chính là hiện hữu. Và đấy cũng chính là phép biện chứng sau đây : "A" bằng (ngang hàng) với "không-A", và "A" (thì chỉ) đúng là "A" khi nào nó không phải là "không-A". Các nhà lôgic học (luận lý học) áp dụng công thức trên đây, nhưng Kinh Kim cương thì lại đảo ngược cách phát biểu này : "Cái gì mà ta gọi là một sự vật không phải là một sự vật. Chính vì thế mà nó là một sự vật. Những gì mà ta gọi là Đức Phật thì không phải là Đức Phật ; nhưng chính vì thế lại là Đức Phật". "Không-A"  là từ bi và "A" là bát nhã. Đối với một sự vật thì sự hình thành có nghĩa là một sự chuyển đổi thường xuyên từ một thể dạng hiện hữu này sang một thể dạng hiện hữu khác không còn giống như trước nữa. Sự chuyển tiếp trường kỳ mà chúng ta thấy trong thế giới này là sự hình thành và đồng thời cũng lại chính là niết bàn. Niết bàn là một sự hình thành thường xuyên ; không nên hình dung niết bàn như một thứ gì "không-hình-thành".

            Người ta thường bảo rằng Đức Phật tìm nơi núi non để suy tư về bản chất phù du của mọi sự vật làm phát sinh ra sự hình thành mà nếu thiếu nó thì thế giới này sẽ không thể tiến hành được. Thế giới này đây đang hình thành một cách trường kỳ. Vấn đề do Đức Phật nêu lên phải đem ra mà áp dụng suốt đời ; chúng ta sinh ra và chết đi, rồi tái sinh và lại chết theo một chu kỳ biến động trường kỳ. Tất nhiên, khi nhìn vào vấn đề này một cách khách quan thì chúng ta sẽ thấy nó là một chuyện thật tự nhiên. Mỗi người trong chúng ta sinh ra và qua đời. Chuyện đó phải có một lý do, bởi vì cái võ vật chất bên ngoài này đây của sự hình thành không thật sự là một sự hình thành hay biến đổi ; còn có một thứ gì khác tiềm ẩn và không nhất thiết lệ thuộc vào sự hình thành. Và chính là nhờ vào cái gì đó không "hình thành" mà có các hiện tượng. Tư duy của chúng ta được tạo dựng ra bằng cách đó tức là cho rằng có một cái gì đó cố định gọi là sự hiện hữu và một cái gì khác biến đổi liên tục. Vấn đề mà Đức Phật phải giải quyết chính là sự mâu thuẫn trên đây. Giải đáp mà Đức Phật mang lại là sự hình thành chính là sự hiện hữu. Như vậy thì dù cho chúng ta đang biến đổi cũng vẫn có một cái gì đó không biến đổi, nhưng ta không thể nào nắm bắt được cái gì vẫn giữ nguyên ấy bằng cách cắt làm hai dòng chảy của sự hình thành. Tuy thế khi các sự vật tiếp tục biến động, chuyển từ thể dạng này sang thể dạng khác, thì trên dòng chuyển động ấy chúng ta phải nắm bắt lấy cái gì đó không biến đổi, cái không biến đổi đó được thực chứng qua thuật ngữ karuna (từ bi). Karunaprajna và prajnakaruna (từ bi bát nhã bát nhã từ bi).

            Trước đây khi dịch bộ kinh Lankavatara Sutra (Nhập Lăng già kinh), tôi tự hỏi làm thế nào mà từ bi lại có thể phát sinh từ bát nhã. Một trong các bản dịch tiếng Hán của bộ kinh Nhập Lăng già bắt đầu bằng câu sau đây : "Bát nhã vô biên là Từ bi tuyệt đối". Khi đọc câu này tôi tự nhủ :" Đây mới chính thực là tinh túy của giáo pháp Đại thừa".

            Theo Phật giáo Nguyên thủy (Theravada), cái tôi là tánh không (sunyata). Đối với  Thiên chúa giáo, cái tôi đó cần phải đem ra mà đóng đinh, nhưng đối với Phật giáo thì cái ngã (atman) là hư-vô (không có, không hiện hữu) ; vì thế không cần gì phải lôi nó ra để mà đóng đinh. Phật giáo Nguyên thủy cho rằng đấy là cái "không có gì cả" ("rien", "nothing") và như thế cũng đủ, nhưng người ta cũng có thể tự hỏi "Nếu như cái ngã (atman) không có gì cả thì "cái không có gì cả" ấy là cái gì ?". Các nhà sư Phật giáo mới (tức sau thời kỳ "Nguyên thủy") thì gọi "cái không có gì cả" trên đây là sunyata, tức tánh không (vacuité, emptiness), suynyata không mang ý nghĩa tiêu cực mà ngược lại có tính cách tích cực. Do đó, sự trống không hay sunyata không phải là một sự phủ định mà là một sự khẳng định. Các nhà sư Phật giáo thuộc thời kỳ nguyên thủy nhấn mạnh đến khía cạnh tiêu cực tức là khía cạnh biến động, khía cạnh của cái tôi. Nhưng sau này khi cái "không có gì cả" trở thành một chủ đề mà nền tư tưởng Đại thừa phải đối đầu thì nó biến thành một cái gì đó khác hơn, và ý nghĩa của nó cũng hoàn toàn không còn mang tính cách tương đối như trước nữa. Ý nghĩa của nó mang tính cách khẳng định tuyệt đối. Có một người hỏi một vị thiền sư Zen như sau : Cái "Một" sẽ quay về đâu ?", vị thiền sư trả lời : "Bảy cân hạt gai", trả lời như thế là cách đơn giản lôi người hỏi trở về với sự cảm nhận thường nhật. Vì thế không nên đặt cái đơn vị thuần nhất ấy vào một nơi nào đó mà chúng ta không thể với đến được, mà đúng hơn nên mang nó trở về để đặt nó vào giữa cái sự sống thường nhật này.

            Khi gặp lại một người bạn, tôi hầu tiếp người này và người bạn này hầu tiếp tôi, như thế là đã có ngay cái "Một" hay cái "không có gì cả" đang chuyển động dưới thể dạng năng hoạt của nó. Đấy chính là từ bi (karuna), tuy nhiên cái từ bi ấy không phải là một thứ gì riêng biệt cần phải tách rời nó ra khỏi sự sống của chúng ta để có thể phô trương cho người khác thấy và tuyên bố : "Đây là cái từ bi mà tất cả chúng ta cần phải mang ra ứng dụng". Từ bi là một lối sống thuộc vào sự hiện hữu năng hoạt của ta. Tuy nhiên khi mà ta dừng lại để suy nghĩ về nó, thì nó lại trở thành một cái gì đó rất trừu tượng đối với sự sống bình thường của chính mình, một thứ chủ đề đặc biệt chỉ để sử dụng vào việc suy tư mà thôi, và rồi ta sẽ tự hỏi vậy làm thế nào để đưa nó trở vào hiện thực. Ấy thế mà ta đang sống với nó trong từng khoảnh khắc một nhưng ta lại không hề hay biết.

            Có người hỏi một thiền sư Zen như sau : "Sau khi chết thì thầy sẽ ra sao ?". Người hỏi rất có thể sẽ chờ đợi một câu trả lời đại loại như vị thầy ấy sau khi chết sẽ lên Thiên đường. Nhưng vị thiền sư lại trả lời rằng : "Ta sẽ thành con lừa hay con ngựa". Đó là cách trả lời đặc thù của người Trung hoa tỏ ý ước mong trở thành một con vật xả thân giúp đỡ người nông dân. Người dân nơi làng mạc giúp đỡ người tu hành, và lẽ tất nhiên là người tu hành sẽ phải đền đáp lại. Một vị thầy khác cũng được hỏi như thế nhưng lại đã trả lời như sau : "Ta sẽ xuống địa ngục !". Người hỏi liền phản kháng lại : " Nhưng ai cũng nói ngài là một vị thầy thánh thiện kia mà". Vị thầy giải thích như sau : "Nếu như ta không xuống địa ngục thì làm sao ta giúp đỡ cho mi được ?".

            Một câu chuyện khác như sau, có một ngôi chùa có một chiếc cầu bằng đá và có một người đi lễ quả quyết rằng mình chỉ thấy độc có một chiếc cầu bằng gỗ vừa cũ kỹ lại vừa lung lay. Anh ta liền hỏi vị thầy trong chùa : "Thế cái cầu bằng đá ở đâu ?", vị thầy trả lời như sau : "Thì mấy con lừa đang bước trên cầu đấy, còn hỏi gì nữa. Cái cầu này rất vững chắc và nó mở ra thật rộng, đến độ mà tất cả mọi người đều có thể cùng lúc bước lên, kể cả toàn thể vũ trụ này". Người Ấn độ thì lại thường hay đưa ra hình ảnh của cát trên bờ sông Hằng. Đủ mọi thứ chúng sinh giẫm lên đấy, nào là người, súc vật, sâu bọ, các chúng sinh ấy dù sạch sẽ hay dơ bẩn thì cát vẫn không bao giờ ta thán. Nào có lâu lắc gì đâu, mọi thứ dơ bẩn rồi sẽ hóa thành những hạt cát tinh khiết. Trong cát có một thứ gì rất sáng tạo, và năng lực sáng tạo đó vận hành ngay bên trong cách suy nghĩ nhị nguyên của chúng ta, cho đến một lúc nào đó dưới ảnh hưởng của tác nhân sáng tạo gọi là từ bi, thì tất cả những gì xấu xí sẽ biến thành một thứ gì khác tốt đẹp hơn. Từ bi phát sinh từ trí tuệ là như thế.

 

            Đối với học phái Tịnh độ, từ bi được đưa lên hàng đầu, trong khi đó thì thiền học Zen lại chú trọng đến bát nhã nhiều hơn. Đức Phật A-di-đà đối với Tịnh độ là hiện thân của lòng từ bi, đối với thiền học Zen thì bát nhã phải được mang ra phát huy bằng tu tập và từ bi thì chỉ được biểu lộ một cách kín đáo.

            Chúng ta thấy trong Thánh kinh một câu như sau : "Trước hết là Lời của Chúa". Câu ấy vang lên âm hưởng của bát nhã, tuy nhiên trong học phái Tịnh độ người ta cũng có một câu như sau : "Bắt đầu phải là tình thương, từ bi trở thành da thịt để hóa ra Đức Phật A-di-đà và sau đó thì Đức Phật A-di-đà nêu lên bốn mươi tám lời nguyện ước của mình". Câu trên đây thể hiện một tình thương bao la và Đức Phật A-di-đà đã thốt lên lời nguyện thứ mười tám như sau : "Nếu một người sùng kính đến với Ta, hoàn toàn tin tưởng vào Ta, và nếu Ta không cứu độ người ấy thì Ta sẽ không thể nào đạt được giác ngộ". Lời phát nguyện đó mang một tầm quan trọng đặc biệt, vì theo học phái Tịnh độ thì nhất định Đức Phật A-di-đà đã đạt được giác ngộ, do đó nếu ta đặt hết lòng thành vào Ngài thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ được cứu độ. Đức Phật A-di-đà sinh ra từ lòng từ bi, và lòng từ bi đã mang lại phần vật chất cho Ngài. Điều đó có nghĩa là tất cả chúng sinh đều là con cái của Ngài và Ngài thương chúng sinh như cha mẹ thương con. Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể tự hỏi là Đức Phật A-di-đà đã đạt được giác ngộ hay chưa và nếu như sự giác ngộ ấy cũng có nghĩa là tất cả chúng ta đương nhiên sẽ được cứu độ, thì tu tập thiền Zen để làm gì nữa, vì dù sao thì chúng ta cũng sẽ được cứu độ ? Đấy là cách lý luận dựa vào cái lôgic (sự hợp lý) của tâm thức của chúng ta, tuy nhiên trên thực tế trong cuộc sống này chúng ta làm sao mà biết chắc được Đức Phật A-di-đà đã thực hiện được giác ngộ hay chưa, ngoại trừ trường hợp mà chính chúng ta cũng đã thực hiện được sự giác ngộ ấy.

            Voltaire (3) có nói như sau : "Chúng ta không cần thiết phải tin vào tinh thần Thiên chúa (chrétienté, christendom), đấy là chuyện của Trời". Khi Voltaire phát biểu như trên đây thì có lẽ chính ông cũng đã phải tự kiểm chứng bằng kinh nghiệm của mình. Kinh nghiệm đích thực rất cần thiết. Đấy cũng là tất cả sự khác biệt giữa hai học phái Zen là Tào động (Soto) và Lâm tế (Rinzai). Nếu tất cả mọi người đều nhất loạt ngã theo tư tưởng Tào động, thì còn ai cho cơm mà ăn ?  Tuy nhiên trong chúng ta có một cái gì đó đủ sức tự tách rời ra khỏi miếng cơm, và đến khi nào ý thức được điều ấy thì chúng ta mới có thể bắt đầu làm việc thật tích cực. Chúng ta cày cấy, sản xuất ra mọi thứ để tự kiếm lấy miếng cơm. Có một thi sĩ Trung hoa đã từng nói rằng : "Một tổ chức chính phủ thì có ích lợi gì đâu ? Cứ theo chủ nghĩa tự do vô chính phủ (anarchisme) có lẽ hay hơn". Tuy nhiên nếu muốn có cái quyền được suy nghĩ như thế thì trước hết cần phải nắm bắt được chính cái Hiện thực tối hậu. Khi đó chúng ta mới ý thức được là cần phải bảo vệ điều ấy và sẽ nổ lực làm việc trên cả hai phương diện thể xác và tinh thần. Khi nào đã bám rễ thật sâu vào các kinh nghiệm cơ bản thì khi ấy ta mới kiến tạo được đời sống thường nhật của ta để có thể tiếp tục làm việc. Các người Thiên chúa giáo thường nói rằng "Hãy thương yêu kẻ thù của mình", tuy nhiên câu phát biểu ấy không được tự nhiên cho lắm. Thuật ngữ karuna (từ bi) tương đồng một phần nào với ý nghĩa của các từ agapèéros (4) trong lãnh vực tình thương con người, tuy nhiên đối với chữ agapè có nghĩa là tình thương thánh thiện thì không có một đối tượng nào cả, vì lý do đơn giản là nó tràn ngập tất cả. Karuna (từ bi) trôi theo dòng chảy tự nhiên của nó và không cần phải bám vào bất cứ một đối tượng nào. Trong thế giới của con người, tình thương yêu bám víu vào một đối tượng nhưng trong thế giới của prajna (bát nhã), tình thương yêu không có đối tượng.

            Có một vị tỳ kheo cậy vị thầy của mình chuyển lên Đức Phật một lời cầu nguyện. Vị thầy trả lời như sau : "Ta chẳng bao giờ làm cái chuyện như thế". Vị tỳ kheo hỏi lại : "Thầy là một vị đại sư tràn đầy lòng từ bi, tại sao thầy lại từ chối mà không giúp đỡ cho tôi ?"

            Vị thầy đáp lại như sau : "Ta đang giúp đỡ cho mi đấy, không những cho mi mà cho tất cả chúng sinh, từng ngày và trong từng giây phút một". Vị thầy không hướng sự giúp đỡ của mình vào bất cứ một đối tượng đặc ân nào, bởi vì hiện thực khi đã tràn ngập và biến thành vô tận sẽ không còn một đối tượng đặc biệt nào nữa. Bất cứ một vật thể nào cũng là đối tượng của từ bi.

 

                                                                                    Bures-Sur-Yvette, 21.07.10

                                                                                     Hoang Phong chuyển ngữ

 

Ghi chú :

1- Swedenborg : Emanuel Swedenborg là một khoa học gia, thần học vả triết gia người Thụy điển thuộc thế kỷ XVIII.

 2- Asvaghosa : là một vị đại sư thuộc thế kỷ thứ I. Ông cũng là một thi hào và tập thơ Phật sở hạnh tán (Buddhacarita) kể lại cuộc đời của Đức Phật là một trong những thi phẩm nổi tiếng của ông. Đồng thời ông cũng là một luận sư và một nhà hùng biện, đã viết nhiều tập luận giải và đã từng thách đố đại luận sư Thánh Thiên tranh biện với mình tại đại học Na-lan-đà. 

3- Voltaire (1694 - 1778) : là một văn hào và triết gia đánh dấu một khúc quanh lớn trong nền tư tưởng phương Tây vào thế kỷ XVIII. Ông chủ trương tôn trọng sự thật, công lý và tự do tư tưởng, và người ta cũng xem ông như là một triết gia "vô thần". 

4- Agapè và Éros : là hai từ gốc tiếng Hy lạp, agapès có nghĩa là tình thương thánh thiện và éros có nghĩa là tình thương xác thịt.

 

]]>
tcanhco@yahoo.com ( Hoang Phong ) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:57:09 +0000
LƯỢC KHẢO ÁO HẬU TRONG TĂNG PHỤC PHẬT GIÁO BẮC TRUYỀN http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6452-luoc-khao-ao-hau-trong-tang-phuc-phat-giao-bac-truyen.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6452-luoc-khao-ao-hau-trong-tang-phuc-phat-giao-bac-truyen.html

Tăng Già Đạo Phật với “Tam Y Nhất Bát” hoằng hóa muôn phương, từ hơn 2000 năm trước cho đến ngày nay không nơi nào trên thế giới mà không có dấu vết hoằng pháp của Tăng già. Bắc truyền hay Nam truyền Phật Giáo cũng cùng chung một tâm nguyện “Thượng hoằng hạ hóa” tuy nói là Nam Bắc bởi do phương hướng và địa vực, cộng thêm vài điểm không tương đồng và một chút dị biệt do theo hoàn cảnh, địa lý, phong tục tập quán, lễ chế của từng vùng miền địa phương ảnh hưởng tạo thành.

Có những phương pháp Bắc truyền Phật Giáo cần phải có để thuận duyên trong việc truyền giáo thì đối với Nam truyền Phật Giáo không có pháp đó cũng có thể hoằng pháp được, vì vậy cho nên không thấy pháp ấy trong Phật Giáo Nam Truyền và ngược lại cũng vậy. Nên sự khác biệt này có tính cách chủ quan trong quan niệm “Tùy Duyên” của Đạo phật và chỉ làm đẹp thêm cho Phật Giáo chứ không có một mảy may nào làm ảnh hưởng đến Đạo Lý của Phật Gia.

Nói đến Bắc Truyền Phật Giáo là đàn hậu tấn chúng ta không thể không phủ phục năm vóc sát đất đảnh lễ Đấng Điều Ngự Thế Tôn và chư liệt vị Tây Thiên, Đông Độ, Việt Nam truyền giáo, truyền giới, khai tông lập giáo, khai sơn tạo tự lịch đại Tổ Sư. Trong Kinh [Diệu Pháp Liên Hoa] dạy rằng: “Đức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên, khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến.”

Chúng ta là người sinh ra trong đời mạc pháp, Tổ Thật Hiền trong [Phát Bồ Đề Tâm Văn] nói: “tội gì mà sanh vào thời mạt pháp, phước gì mà được dự vào hàng xuất gia, chướng duyên gì mà ra đời không thấy Kim Thân của Đức Phật, hạnh lành gì mà ngày nay được lễ Xá Lợi Phật.” những gì chúng ta có được như hôm nay,  phải chăng đều do công lao của  chư liệt vị Tổ Sư Tiền Bối.

Đối với sự nghiệp hoằng pháp của Phật Giáo Bắc truyền mà nói, khi các vị truyền giáo Cao Tăng đem Phật Giáo đến với Đông Phương mà đại diện là Trung Quốc hết sức khó khăn, nói về phương diện văn hóa thì Ấn Độ và Trung Quốc đều là hai cái nôi văn hóa của thế giới, văn minh, văn hóa, triết học, nghệ thuật, đều có thể nói là tương đương nhau. Về phương diện Tôn Giáo khi Đạo Phật chưa truyền vào Trung Quốc thì Đạo Giáo là tôn giáo của người Trung Quốc đã có cả gần 1000 năm lưu truyền, cộng thêm học thuyết của Nho Gia và cả trăm học thuyết khác.

Để chinh phục cũng như hòa mình vào tôn giáo tín ngưỡng của dân bản địa và thuyết phục tất cả những học thuyết truyền thống của người Trung Quốc, đưa Phật Giáo hòa nhập đến được với người bản địa và từng bước nâng vị thế của Phật Giáo lên địa vị ngang bằng nhiều khi còn cao hơn các Tôn Giáo, tín ngưỡng và các học thuyết của Trung Quốc. Chư Liệt Tổ không thể không tính đến những điều kiện sẵn có để hòa mình vào sự chi phối của chính quyền, Tôn Giáo sở tại, dùng những tập tục, tín ngưỡng của địa phương lồng vào Phật Giáo để truyền đạo. Vay mượn các học thuyết đương thời để diễn nói giáo nghĩa của Phật Đà. Chính vì vậy mà Phật Giáo Bắc Truyền có phần phong phú về nội dung và hình thức hơn Phật Giáo Nam Truyền.

Nói đến Tăng phục Phật Giáo trước tiên chúng ta nên tìm hiểu về những lý do căn bản, ý nghĩa thậm thâm của Tăng phục. Trong Kinh [Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa] chép: “Vì cũng như thế gian, cho nên có ba y. Vì sao vậy? tâm vui biết đủ, cho nên không đa cầu, tức là ít muốn. Không cầu xin, cho nên không chứa đựng; không chứa đựng, cho nên không bị thất mất; không thất mất, cho nên không phải bị sầu khổ; không gì sầu khổ, thế nên xa lìa phiền não; lìa phiền não, cho nên không còn chấp trước; không còn chổ chấp trước, cho nên đã lậu tận.”. Trong [Hành Sự Sao] chép mười điều lợi ích của ba y:

1/Ngoài ba y ra không tham cầu cho nên không thọ khổ.

2/ Không bị khổ đau ràng buột.

3/ Không chứa nhiều đồ.

4/ Chỉ đủ dùng cho chính mình.

5/ Hành trì giới cẩn thận.

6/ Đến đi không vướng mắc.

7/ Thân thể nhẹ nhàng.

8/ Tùy xứ tùy nơi đều có thể an trụ.

9/ Đến hay đi chổ nào cũng không có gì lưu luyến.

10/ Tùy thuận để hành đạo.

Những ý nghĩa lợi ích của Tăng phục Phật Giáo, là nói về phương tiện ích lợi trong việc tu hành của Tăng Già, chứ Phật không có ý dạy tu hành phải khổ hạnh như một số người học Phật thường nghĩ.

Đức Phật trước khi thành đạo dã từng có sáu năm tu khổ hạnh, và Ngài chưa từng cho rằng khổ hạnh là pháp tu duy nhất để có thể thành đạo. Đức Thế Tôn thành Đạo Bồ Đề sau khi Ngài quyết định không tu khổ hạnh nữa. Đời sống của Tăng lữ chỉ cần đơn sơ đạm bạc là đủ, trọng tâm vấn đề là làm thế nào để đoạn trừ với dục vọng và phiền não của thế gian, thân tâm luôn hướng về vô thượng giải thoát Bồ Đề.

Một hành giả học Phật, nếu như quá độ đè nén những nhu cầu thiết yếu về cuộc sống, làm cho thân tâm sinh ra những trạng thái không ổn định về tinh thần cũng như  thể chất, cho nên khả năng đạt đến trạng thái an lạc giải thoát là điều không thể được, mà còn làm trái đi mục đích của sự tu hành. Trong Kinh [Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm] quyển 14 chép:

 “Bỏ đi đồ thế tục, nguyện cho chúng sanh, cần tu thiện căn, bỏ các tội ách. Cạo bỏ râu tóc, nguyện cho chúng sanh, vĩnh ly phiền não, cứu cánh tịch diệt. Mặc áo Cà Sa, nguyện cho chúng sanh, tâm không chổ nhiễm, đều đắc Phật đạo.” Tất cả đoạn kinh trên nói về người đi xuất gia, như mục đích của việc đi xuất gia, mặc Tăng phục, cạo bỏ râu tóc cho đến đắp y đều có ý nghĩa hết sức rõ ràng, cho nên có cần tu khổ hạnh hay không đối với giải thoát giác ngộ đều không quá quan trọng.

Trong Kinh [Trung A Hàm] Phật dạy: “Ta nói không được cất chứa tất cả y, rồi cũng nói được cất chứa tất cả y, thế nào là y mà ta nói không được cất giữ ? nếu giữ y mà tăng trưởng ác pháp hoặc bất thiện pháp, hay làm suy thoái thiện pháp, nếu là y như vậy thì Ta nói không được cất giữ.

Y như thế nào mà ta nói được cất giữ ? nếu như giữ y làm tăng trưởng thiện pháp, làm suy thoái ác bất thiện pháp, nếu là y như vậy, Ta nói được phép giữ.”. như vậy là rõ ràng Đức Phật cũng chỉ chú trọng vào việc làm thế nào để thoát khỏi phiền não đạt đến thiện pháp, còn là y gì chỉ là phương tiện thôi, cho nên “Độ thân cho nên có y, cất giữ biết đủ là vậy”.   

Phật Giáo khi truyền đến Đông Phương, như đã lược nói từ những hoàn cảnh địa vực, khí hậu, tập tục, lễ giáo, truyền thống văn hóa cho đến tín ngưỡng đều không đồng, cho nên nảy sinh một số vấn đề hiện thực mà Phật Giáo nếu muốn truyền Đạo tại Đông Phương cần phải thực hiện, chính vì thế mà một loạt giải pháp được các vị truyền giáo cao Tăng Ấn Độ cũng như Đông Độ đứng trên tinh thần “Tùy Duyên Bất Biến” của Đạo Phật, hoặc chế ra phép mới, hoặc vay mượn những gì đã có, hoặc dung hợp các pháp của Đạo Giáo hoặc Nho Gia để diễn bày Diệu Pháp, hoặc dùng luôn những gì của thế gian đã có chuyển hóa thành “Phật Gia Phong Phạm”. Áo Hậu của Phật Giáo được hình thành trên phương thức này.

alt

Việt Nam gọi áo tràng tay rộng của chư Tăng là Áo Hậu, vì có nghĩa là áo mặc ở trong rồi mới đắp Y bên ngoài. Thật ra áo Hậu của Tăng già Bắc Truyền có nguồn gốc từ “Tăng Kỳ Chi” của Tăng Y. Trong [Thích Thị Yếu Lãm] chép: “các vị Tăng xưa theo Luật chế, chỉ có Tăng Kỳ Chi (đây gọi áo che tay, còn gọi áo che nách), áo này dài che từ vai bên trái cho đến nách bên phải, nên thường gọi là áo trong của tam y vậy, đây là nghĩa của Thiên Trúc vậy. Trong [Ngụy Lục] ngài Trúc Đạo Tổ nói rằng: “Người trong Cung Ngụy thấy Tăng để trần một cánh tay vào cung cho như vậy là không được hay, bèn chế thêm Thiên Đãn” may phía trên của Tăng Kỳ Chi, từ đây có áo Thiên Sam trong Tăng phục. Nay áo có cổ cao che đến gáy là được chế từ thời Ngụy vậy.”

Ngài Đạo Tuyên Luật Sư trong [Chương Phục Nghi] nói: “Đức Đại Thánh gốc chỉ chế có ba y, ở p Tây Vực cũng có y này, ngoài ra không còn y nào khác, cho nên gọi là ba y vậy. Sau có áo Phú Kiên và Tăng Kỳ Chi vậy…

Nay Tăng phục có áo dài từ trên vai xuống gót là sự kết hợp của các y này vậy.”. Trong [Trụ Pháp Đồ Tán] chép: “Hình thức của Tăng phục ngày nay có tay rộng, là sự kết hợp của áo Phú Kiên và áo Tăng Kỳ Chi thành áo Thiên Sam. Áo Thiên Sam nối với quần thành áo Trực Chuyết.” và sự ra đời của áo Trực Chuyết trong [Truyền Thông Ký Nhữu Sao] chép: “Đời Đường Ngài Huệ Hải Đại Trí Thiền sư ở núi Bách Trượng là Người đầu tiên nối áo và quần thành áo dài gọi là áo Trực Chuyết” Ngày nay áo Trực Chuyết vẫn còn được Chư Tăng Nhật Bản và Hàn Quốc sử dụng. Chư Tăng Trung Quốc và Việt Nam mặc áo Hậu có nguồn gốc từ áo Trực Chuyết và áo hậu có bảy vạt là chứng tích còn lại của áo Trực Chuyết về sự kết nối giữa áo và quần.

Áo hậu ngày nay là sự kết hợp giữa áo Trực Chuyết và áo Bào truyền thống của Trung Quốc, nguyên nhân của sự kết hợp giữa Tăng Bào và áo Bào truyền thống Trung Quốc. Theo lễ chế Phong Kiến Trung Quốc trong sách [Biện Phục] chép: “Sĩ Đại Phu không được tiếp khách khi không mặc áo Bào, khi ra đường phải mặc áo bào”, đến nhà Hậu Hán lập quốc quy định áo Bào thành Triều Phục.

Chính nguyên nhân này mà Tăng Y trở thành lễ phục của Tăng Già Bắc Truyền do việc thường ra vào Hoàng Cung để Thuyết Pháp của chư Tăng. Nên việc tu chỉnh áo Trực Chuyết cho đúng phép của lễ phục là điều hết sức tự nhiên và cần thiết. Trong [Thích Danh] chép: “Thiền Y không phải áo của người Hồ có tay nhỏ và chật, dài như hình mương nước”.

Do áo hậu có hai tay áo rất rộng nên còn được gọi là áo “Hải Thanh”. Trong [Bỉ Ngôn] chép: “người Ngô gọi áo có tay dài rộng là Hải Thanh.” Và danh từ Hải Thanh có từ đời Đường trong một câu thơ của nhà thơ Lý Bạch “ múa vùn vụt bay tay áo rộng, như chim từ đông hải bay đến.” trong thơ nói đến con chim từ “Hải Đông” bay đến là chim Hải Đông Thanh.

Đời Đường tất cả các lễ phục từ triều đình đến thứ dân đều có tay áo rất rộng, do sự biến thiên của triều đại lịch sử và sự thay đổi quan niệm về phục trang của từng thời đại cho nên áo tay rộng dần dần không còn là lễ phục của người Trung Quốc nữa vì không còn được ai mặc. Duy chỉ còn Tăng Già Bắc Truyền còn mặc cho nên trở thành lễ phục trong Tăng phục Phật Giáo Bắc Truyền và lưu truyền cho đến ngày nay.

Ngài Đạo Tuyên Luật Sư trong [Cảm Thông Truyện] dạy: “Người thế lấy áo mão cân đai làm điều hiển vinh, Đạo nhân chỉ có áo mão chứ không cần cân đai. Người đời lấy việc búi tóc cài trâm là đẹp, người họ Thích thì cạo bỏ râu tóc chẳng cần.”. Qua đó có thể thấy tinh thần “Tùy Duyên” được dùng vô cùng rộng lớn không những trong sự nghiệp hoằng Pháp mà còn được vận dụng ngay trong cả cuộc sống thường nhật của Tăng Già.

Ngay cả trong việc chế y phục, áo Trực Chuyết hay áo hậu sau này đều không có nguồn gốc từ Ấn Độ nhưng là sự kết hợp giữa đạo lý Tăng phục Phật Giáo và lễ phục của người Trung Quốc, nhưng vì không muốn hoàn toàn là lễ phục Trung Quốc các Tổ vẫn tìm cách chế những đặc trưng của Phật Giáo vào áo Bào, để áo bào của người Trung Quốc thành Tăng Bào của Phật Giáo, đặc tính này được thể hiện rõ nhất ở cổ áo Hải Thanh, chúng ta thường thấy cổ áo Hải Thanh có đắp thêm ba lớp vải, biểu thị ý nghĩa Phật Pháp Tăng Tam Bảo, cho nên gọi là cổ áo “Tam Bảo Lĩnh” phần cuối cổ áo có may 52 đường chỉ nhỏ tượng trưng cho “Thiện Tài Đồng Tử Ngũ Thập Tam Tham”.

Chỉ là cổ áo của Tăng thôi mà đã bao hàm bao nhiêu là ý nghĩa, thử hỏi làm sao khi người mặc chiếc áo này mà không khác người đời chứ, cho nên “Chiếc áo không làm nên một vị Tăng, nhưng khi nhìn người mặc áo họ có thể nhận biết người ấy là Tăng sĩ của nhà Phật.”. 

Ngày nay cổ áo Hậu của Phật giáo Việt Nam không còn nguyên hình dạng gốc ban đầu, không còn thấy có ba lớp  vải tượng trưng cho Tam Bảo và 52 đường chỉ biểu trưng cho Thiện Tài Đồng Tử 52 lần tham học Phật Pháp.

Theo thiển ý có lẽ vì lòng tự tôn Dân Tộc vì không muốn bị sự đồng hóa văn hóa của Trung Quốc thâm nhập quá sâu vào Phật Giáo Việt Nam, cho nên chư Tổ Việt Nam đã lược bớt những chi tiết nhỏ để thể hiện sự khác biệt giữa Tăng phục Phật Giáo Việt Nam và Tăng Phục Phật GiáoTrung Quốc.

Người Việt Nam là một dân tộc luôn luôn đề cao đạo lý “Uống Nước Nhớ Nguồn” nên cổ áo Hậu của Tăng Già Phật Giáo Việt Nam vẫn còn một gạch nối giữa cổ áo là vết tích của “Tam Bảo Lĩnh” để lại, nhắc nhở chúng ta nhớ đến công ơn bao nhiêu đời tôn đức Tổ Sư dày công nghiên cứu mới chế tác được tấm áo này, để ngày nay chúng ta mới có “Giải Thoát Phục”. Việt Nam chúng ta gọi là “Áo Hậu” ý nghĩa gần với Tăng Kỳ Chi hơn là Trung Quốc, vì gọi là “Áo Hải Thanh” là sự đồng nghĩa với việc Hán hóa không còn ý nghĩa ban đầu của Tăng Phục Phật chế là Tăng Kỳ Chi.

alt

alt

Áo Trực Chuyết (Nhật Bản)

alt

Áo Trực Chuyết (Hàn Quốc)

alt

Áo Hải Thanh (Trung Quốc)

alt

Áo Hậu (Việt Nam)

alt

Áo Hậu (Việt Nam)

 

Thích Tâm Mãn

(chuaminhthanh.com)

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Tâm Mãn) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:54:19 +0000
Tin tức Phật giáo Thế giới (tuần thứ 3 tháng 7 năm 2010) http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6451-tin-tuc-phat-giao-the-gioi-tuan-thu-3-thang-7-nam-2010.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6451-tin-tuc-phat-giao-the-gioi-tuan-thu-3-thang-7-nam-2010.html

 

Một cảnh trình diễn từ lễ hội 5-ngày về 'beompae', diễn ra tại Nhà Hát Quốc gia Hàn quốc vào năm 2004 - Photo: Korea Times file
Một cảnh trình diễn từ lễ hội 5-ngày về 'beompae', diễn ra tại Nhà Hát Quốc gia Hàn quốc vào năm 2004 - Photo: Korea Times file

 

HÀN QUỐC: Beompae - tụng ca Phật giáo

 

'Beompae' là những bài tụng và bài hát lấy cảm hứng từ lời dạy của Đức Phật. Được trình diễn tại các đền thờ Phật giáo trong các nghi lễ đặc biệt, những bài tụng ca này có mục đích đạt được sự hoà hợp với lời Phật dạy qua các động tác cơ thể và ngôn ý.

 

Có một số luận thuyết về nguồn gốc của Beompae: Nó có thể bắt nguồn từ nhạc kinh Bồ tát tại cuộc họp ở Linh Thứu Sơn. Nó cũng có thể là sáng tác của Tsao Chih (192 - 232), người được xem là đã lấy cảm hứng từ âm thanh siêu nhiên mà ông nghe được khi đang ở Ngư Sơn.

Những bài tụng và đạo ca này được truyền lại từ một số người cho các thế hệ sau, như từ các tác giả Zhigian và Kang Seng-hui của Trung Hoa. Sau đó 'beompae' được truyền bá tại Triều Tiên bởi đại sư Jingam của phái Seon. Ông là nhà sư của Vương quốc Silla (Triều Tiên), tu học tại Trung Hoa vào thời nhà Đường. Khi trở về Silla, ông đã dạy beompae tại Chùa Ssanggye và được đông đảo tăng sĩ nhiệt tình thọ giáo.

Trong beompae, âm nhạc hoà hợp với phần hát và tụng, và các giọng lĩnh xướng trao đổi với nhóm hợp ca. Xưa kia beompae có rất nhiều bài nhưng ngày nay chỉ còn lại một ít. Và những phiên bản hiện nay thì ngắn hơn những bài xưa, mà số tăng sĩ dành thời gian để học loại nghệ thuật cổ này cũng ít hơn.

Tuy vậy, beompae được trình diễn thường xuyên hơn trên sân khấu trong thời gian gần đây.

Từ những bản gốc bằng tiếng Hán và tiếng Phạn, ngày nay có một số được chuyển sang tiếng Triều Tiên.

(The Korea Times - July 18, 2010)

MÃ LAI: Lễ Cúng dường Đại Tăng già Quốc gia lần thứ 20 

Penang, Mã Lai - Ngày 18 - 7, lễ Cúng dường Đại Tăng già Quốc gia lần thứ 20 đã được Hội Phật giáo Mã Lai Yayasan Belia (YBBM) tổ chức tại Quảng trường Penang Times.

Khoảng 300 tăng sĩ từ khắp đất nước đã tham dự lễ. Hơn 1.000 tín đồ Phật giáo đã cúng dường tiền và vật phẩm cho các nhà sư.

Đây là sự kiện cúng dường thực phẩm, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác cho một nhóm người vô gia cư đã được truyền giới, đã từ bỏ thế tục, được gọi là Tăng đoàn.

Trong bài thuyết trình của mình, chủ nhiệm YBBM là ông Datuk Ong Ka Chuan nói rằng: Những ai cúng dường cho các nhà sư trên đường phố là đang gián tiếp làm những hành động xấu. Những nhà sư thường được thấy đi xin của bố thí hoặc bán vật dụng Phật giáo tại các khu bán thực phẩm, quán cà phê và chợ thật ra là những người thất nghiệp.

Hành động của các nhà sư giả mạo như thế đã làm giảm đi hình ảnh cao quý của tăng sĩ rất nhiều.

Ông chủ nhiệm YBBM kêu gọi công chúng dừng cho những nhà sư đi xin bố thí trên đường phố, vì việc giúp những sư giả mạo này thì giống với việc làm những điều xấu.

Ông nói, "Việc cúng dường chư tăng hầu hết được thực hiện tại chùa chiền hoặc những địa điểm qui định. Việc này không được thực hiện ở chợ hoặc dọc đường".  

(The Star - July 20, 2010)  

PAKISTAN: Thực trạng của di sản Gandhara ở Thung lũng Swat

Swat, Pakistan - Thung lũng Swat là cái nôi của các nền văn minh cổ, kể cả Phật giáo.

Phần lớn các di tích cổ ở Swat vẫn giữ nguyên trạng, nhưng các cuộc khai quật của các nhà khảo cổ học người Ý đã tìm thấy 450 phế tích bao gồm những bảo tháp và tượng Phật cổ.

Trước đây, những phế tích này được bảo vệ và bảo tồn, và Viện Bảo tàng Swat được xây vào năm 1959 đã trở thành nơi lưu giữ một số các bộ sưu tập đẹp nhất của nền văn minh Gandhara - kể cả các tác phẩm điêu khắc Đức Phật lộng lẫy.

Nhưng sau khi khu vực Swat sáp nhập với Pakistan vào năm 1969, các phế tích và tượng, tháp trở thành nạn nhân thường trực của sự bỏ bê, xâm hại đến di sản lịch sử quý giá này.

Một trong những tác phẩm điêu khắc Phật giáo nổi tiếng nhất trong khu vực là tượng Phật ở Jehanabad, là một biểu tượng của di sản Gandhara, mà theo nhiều người thì chỉ đứng thứ hai về kích thước sau các tượng Phật ở Bamiyan (Afghanistan).

Nhưng sau khi phiến quân cố thủ tại Swat, pho tượng lớn và có tầm quan trọng về lịch sử này đã bị hư hại nặng.

Ngoài ra, các di tích cũng là mục tiêu của những vụ khai quật trái phép và trộm cắp cổ vật.

Nhiều di tích có tầm quan trọng về lịch sử khác như bảo tháp Saidu Sharif đã trở thành sân chơi của các bé trai. Bảo tháp này còn bị đe doạ bởi sự xâm phạm các phế tích do mafia đất tại địa phương gây ra. 

 

ẤN ĐỘ: Đức Đạt Lai Lạt Ma hoan nghênh sự quan tâm về Phật giáo đang tăng tại các vùng thuộc Hi Mã Lạp Sơn

Nubra, Ladakh - Ngày 21 - 7, tại Tu viện Samtenling, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã có buổi nói chuyện trước hơn 5.000 tín đồ Phật giáo đến từ các vùng khác nhau của Ladakh. Ngài hoan nghênh sự quan tâm đang tăng lên trong các cộng đồng tu viện lẫn thế tục tại các vùng của Hi Mã Lạp Sơn trong việc nghiên cứu Phật giáo.

Ngài đã ca ngợi nhân dân Hi Mã Lạp Sơn về sự phát triển nhận thức không chỉ trong việc niệm kinh, mà quan trọng hơn là trong việc nghiên cứu những lời dạy của Đức Phật và các vị tôn sư Phật giáo.

Ngài cũng ca ngợi sự phát triển các trường học và các trung tâm giáo dục hiện đại trong khu vực.

Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng bày tỏ niềm hạnh phúc của mình khi được gặp gỡ bạn bè tinh thần từ các nước như Anh, Nga và Hàn quốc với sự quan tâm hơn nữa về nghiên cứu Phật giáo - mặc dù đó không phải là tôn giáo của tổ tiên họ.

Vào xế chiều cùng ngày, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thăm Trường Samgon Jamtse Thosam, một chi nhánh của Viện Nghiên cứu Phật giáo Trung ương. Trong chuyến thăm này, Ngài đã theo dõi cácc học sinh tham gia vào cuộc tranh luận về tôn giáo.

(nvnews.com - July 21, 2010)   

 

ÁI NHĨ LAN: Ngôi đền Phật giáo đầu tiên tại Ái Nhĩ Lan sẽ được xây ở hạt Cork

Trung tâm Tĩnh tâm Dzogchen Beara (Đại Viên mãn - tiếng Tây Tạng) sẽ xây một đền thờ Phật giáo có một vòm bằng đồng truyền thống Tây Tạng trên khuôn viên của mình.

Một ngôi đền cao 14,5 mét sẽ được xây bên cạnh trung tâm trai tịnh này, trên các vách đá ở Garranes gần Allihies, tại bờ biển phía tây hạt Cork. Trung tâm được thành lập vào năm 1992, có diện tích 150 mẫu Anh. Mỗi năm có 300 người đến viếng trung tâm để được tĩnh tâm vào cuối tuần, học nghệ thuật và thiền.

Công trình xây dựng ngôi đền sẽ theo thiết kế các Tây Tạng và sẽ tốn khoảng 1 triệu Bảng. Công trình được hy vọng là sẽ tiến hành vào cuối năm nay, và ngôi đền sẽ hoàn thành trong vòng 18 tháng.

Giám đốc trung tâm là Matt Padwick nói, "Chúng tôi cần quyên tiền trước khi có thể bắt đầu. Hiện giờ chúng tôi chỉ quyên được trên 100.000 Bảng. Xét theo vài phương diện, đây là thời gian khó khăn nhất để quyên tiền do tình hình kinh tế, và chúng tôi đang gặp một thử thách. Nhưng cho đến nay chúng tôi đã có được một sự hưởng ứng rất tích cực". Ông nghĩ rằng với sự phát triển của ngôi đền, trung tâm sẽ có được một tương lai rất tươi sáng.

Ông nói, "Chúng tôi chào đón mọi người, từ mọi tầng lớp và của bất cứ tín ngưỡng nào hoặc không tín ngưỡng, và giới thiệu nhiều cách khác nhau để viếng Dzogchen Beara".

 

(IrishCentral.com - July 22, 2010)

 

Diệu Âm lược dịch

(haitrieuam.com)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Diệu Âm) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:49:46 +0000
Lâm Đồng: Trại hè sinh hoạt Phật pháp thanh niên lần 3 -2010 http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6449-lam-dong-trai-he-sinh-hoat-phat-phap-thanh-nien-lan-3-2010.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6449-lam-dong-trai-he-sinh-hoat-phat-phap-thanh-nien-lan-3-2010.html (GNO-Lâm Đồng): Trại hè được tổ chức từ ngày 19-7 đến 22-7-2010 tại Vĩnh Minh tự viện, thôn Đại Ninh, huyện Đức Trọng, quy tụ hơn 1.000 trại sinh ở độ tuổi từ 15 đến 35 gồm các thành phần: tu sĩ Phật giáo, công nhân viên chức, thanh thiếu niên lao động, GĐPT các chùa...

dalattuoitre_19.JPG

 

dalattuoitre_01.JPG

 

Hội trại diễn ra tại Vĩnh Minh tự viện

 

dalattuoitre_22.JPG

 

dalattuoitre_02.JPG

 

dalattuoitre_03.JPG

 

Tham gia các trò chơi lớn

 

Đã có hơn 60 quý thầy cô trụ trì các trú xứ, Tăng Ni sinh Trường Phật học Lâm Đồng chia thành 20 trại cùng sinh hoạt với các em. Trong 5 ngày 4 đêm tham dự hội trại, các trại sinh đã được Ban Tổ chức hướng dẫn phương pháp tập khí công tâm pháp, lễ Phật, tọa thiền, phép ăn trong chánh niệm, thiền hành, sinh hoạt theo nhóm, pháp thoại, đốt lửa trại, tham gia các trò chơi dân gian, liên hoan văn nghệ, thiền trà.v.v… Đặc biệt các buổi thuyết giảng, sinh hoạt trò chơi lớn với chủ đề “Hướng về 1.000 năm Thăng Long” đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng các trại sinh.

dalattuoitre_04.JPG

 

 Đội quân thần tốc của Hoàng đế Quang Trung

 

dalattuoitre_05.JPG

 

dalattuoitre_06.JPG

 

dalattuoitre_07.JPG

 

 Nhất bộ nhất bái

 

dalattuoitre_08.JPG

 

Đoàn kết là sức mạnh để "cùng giải mã"

 

dalattuoitre_09.JPG

 

dalattuoitre_10.JPG

 

dalattuoitre_11.JPG

 

dalattuoitre_13.JPG

 

dalattuoitre_16.JPG

 

dalattuoitre_17.JPG

 

dalattuoitre_20.JPG

 

Được biết đây là năm thứ ba và cũng là đơn vị Phật giáo duy nhất trong toàn tỉnh, Vĩnh Minh tự viện tổ chức trại hè sinh hoạt Phật pháp. HT. Thích Toàn Đức, Phó ban Thường trực cùng chư tôn đức Tăng Ni trong Ban Trị sự, các cấp chính quyền địa phương đã đến tham dự.                                   

 

Tin, ảnh Linh Toàn         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Linh Toàn) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:44:39 +0000
Gần 1.700 bạn trẻ dự Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo lần 5 năm 2010 http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6448-gan-1700-ban-tre-du-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-5-nam-2010.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6448-gan-1700-ban-tre-du-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-5-nam-2010.html (GNO-BRVT): Gần 1.700 bạn trẻ độ tuổi từ 14 đến 30 đã tham dự Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo lần 5 năm 2010 do Báo Giác Ngộ kết hợp với Tiểu ban Thanh thiếu nhi Phật tử Trung ương Giáo hội tổ chức diễn ra tại Khu du lịch Minh Trí - H. Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong hai ngày 24, 25-7 vừa qua.

 

 

WHT (7).JPG

 

Lỉnh kỉnh đồ đạc tập kết đất trại

 

WHT (9).JPG

 

WHT (8).JPG

 

Trang trí trại - ngôi nhà của 20 người sinh hoạt trong ngày

 

Hội trại vinh hạnh cung đón sự quang lâm của chư tôn giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội: HT. Thích Giác Toàn - Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự kiêm Trưởng ban Kinh tế - Tài chính TƯGH, HT. Thích Thiện Duyên - Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử TƯGH, HT. Thích Thanh Hùng - Phó ban Hướng dẫn Phật tử T.Ư kiêm Trưởng Phân ban Nam nữ Cư sĩ T.Ư, TT. Thích Đạt Đạo - Ủy viên Thường trực HĐTS, Phó ban Thường trực Ban Hướng dẫn Phật tử TƯGH, TT. Thích Thiện Bảo - Phó ban Hướng dẫn Phật tử TƯGH, Phó Tổng Biên tập Báo Giác Ngộ, Trưởng ban Tổ chức Hội trại, TT. Thích Huệ Thông - Phó ban Thường trực Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bình Dương, TT. Thich Phước Nghiêm - Phó ban Hướng dẫn Phật tử T.Ư...

 

WHT (1).JPG

 

Dự lễ khai mạc

 

WHT (19).JPG

 

TT. Thích Thiện Bảo phát biểu trong lễ khai mạc trại

 

WHT (22).JPG

 

TT. Thích Đạt Đạo ban đạo từ trong lễ khai mạc Hội trại

 

Ngoài ra còn có sự hiện của ông Lê Phước Vũ - Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Hoa Sen, các vị khách mời: DVĐA Việt Trinh, ca sĩ Quách Tuấn Du, người mẫu Đức Tiến; đại diện các nhà tài trợ: Tập đoàn Hoa Sen, Nhà hàng Việt Chay, Mani Media, Tổng Công ty Dầu Việt Nam...v.v.

 

WHT (3).JPG

 

WHT (4).JPG

 

WHT (5).JPG

 

Tham gia các trò chơi vận động

 

WHT (11).JPG

 

Hòa nhịp con tim và nụ cười

 

WHT (13).JPG

 

Với chư tôn đức

 

WTH (1).JPG

 

Các vị khách mời

 

WHT (16).JPG

 

WHT (20).JPG

 

Ấn tượng đêm Gala dưới làn mưa lất phất

 

WHT (21).JPG

 

Và lắng nghe phần đạo từ của HT. Thích Thiện Duyên

 

Đến tuổi lên 5 và diễn ra tại Bà Rịa-Vũng Tàu, Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo được tổ chức như một gala để kỷ niệm 5 năm một chặng đường phát triển. Đối tượng tham dự là các học sinh, sinh viên và công nhân viên có độ tuổi từ 14 đến 30 đến từ mọi miền đất nước và du học sinh nước ngoài. Trong 2 ngày trại, toàn thể trại sinh đã thực tập các phương pháp của đạo Phật nhằm cân bằng lại cuộc sống sau những ngày làm việc và học tập mệt mỏi và vui chơi thông qua các hoạt động: Trò chơi lớn, trò chơi nhỏ và vận động trường, thực tập thiền tọa trước biển, thiền hành trên cát, thiền buông thư, thi văn nghệ, dự đêm hội Gala, giao lưu với doanh nhân Lê Phước Vũ - Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Hoa Sen và DVĐA Việt Trinh về những ứng dụng đạo Phật trong cuộc sống của họ, lửa trại, thực hiện album kỷ lục có nhiều lời ước mơ nhất Việt Nam v.v...

 

WHT (10).JPG

 

Sau đó là chương trình lửa trại sôi động

 

WTH (2).JPG

 

WHT (17).JPG

 

WHT (18).JPG

 

Và cả các tiết mục dự thi văn nghệ của các đơn vị tiểu trại

 

WHT (12).JPG

 

WHT (14).JPG

 

Buổi sáng ngày hôm sau bắt đầu
bằng giờ thực tập thiền tọa, thiền hành

Trong suốt 2 ngày trên đất trại, trời mưa liên tục do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới nhưng với sự cố gắng của Ban Tổ chức, Ban Quản trại và lòng nhiệt thành của toàn thể trại sinh, các hoạt động của Hội trại đã được diễn ra thông suốt, trọn vẹn đáp ứng sự mong đợi và để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng bạn trẻ về một sân chơi lành mạnh, hướng thiện có tính giáo dục cao. Nói về cảm xúc trong suốt 2 ngày tham gia trại, bạn Tố Uyên - 24 tuổi, đến từ TP. Đà Nẵng cho biết: "Ngày đầu có mặt với mọi người em rất bỡ ngỡ vì không có ai quen cả, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn làm quen trên xe đã làm cho chúng em trở nên gần nhau. Trời mưa làm ảnh hưởng đến công tác tổ chức trại nhưng như thế lại hay vì đã để lại cho chúng em nhiều kỷ niệm đẹp không thể gọi tên. Em rất thích cái cảm giác ngồi dưới mưa lắng nghe những người nổi tiếng trình bày hiểu biết của họ về đạo Phật và sau đó tham dự đêm lửa trại sôi nổi, trẻ trung. Ngược lại, đó là cảm giác rất bình yên khi một buổi tinh mơ được ngồi thiền bên sóng biển rì rào".

 

WHT (6).JPG

 

Kết thúc 2 ngày trại vào chiều ngày cuối cùng bằng nhiều phần quà

 

WHT (2).JPG

 

Và đón nhận kỷ lục về cuốn album có nhiều lời mơ ước nhất Việt Nam

 

Giác Ngộ Online sẽ lần lượt giới thiệu đến chư tôn đức Tăng Ni và bạn đọc các chùm ảnh về các hoạt động khác nhau của Hội trại kỳ này.

 

Tin, ảnh Bảo Thiên - Bảo Toàn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Bảo Thiên - Bảo Toàn ) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:42:22 +0000
Ngày Vu Lan Báo Hiếu http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/phat-dan-va-vu-lan/6447-ngay-vu-lan-bao-hieu.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/phat-dan-va-vu-lan/6447-ngay-vu-lan-bao-hieu.html
image

 

Mỗi người chúng ta được ở trên quả đất này là nhờ công sanh ra và công dưỡng dục của cha mẹ.

Trong dân gian VN có những câu ca dao bất hủ như:

Công Cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra,

Một lòng thờ Mẹ kính Cha,

Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con...

Từ xa xưa, từ thời tổ tiên cho đến ngày hôm nay, từ chốn quê đến thành thị, bổn phận làm con là phải biết yêu thương, kính hiếu cha mẹ.

Từ tạo thiên lập địa, chúng ta đã thấy Dương Âm tức là Trời Đất, người Cha tức Dương và người Mẹ tức Âm, chẳng khác nào ban ngày và ban đêm, nếu không có “Mẹ sanh, Cha dưỡng ” thì chúng ta không có ở cõi đời này.

Ca dao VN cũng có câu:

Có Cha, có Mẹ thì hơn,

Không Cha, không Mẹ như đờn đứt dây.

Câu ca dao này nhắc nhở chúng ta rằng, khi chúng ta được sanh ra cõi đời, mà mất cha lẫn mẹ thì khốn khổ vô cùng. Kể từ cấn thai cho đến ngày sanh nở, người mẹ phải mang nặng cái bào thai suốt chín tháng. Trong chín tháng cưu mang, sức khoẻ của người Mẹ càng ngày tiều tụy, vì ăn uống khó khăn, nôn ụa, rồi ngày tháng trôi qua, đến ngày nở nhụy khai hoa, phải đẻ đau, qua nụ cưòi...lẩn nước mắt. Người Cha, tuy không mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng luôn luôn ở bên cạnh để nâng đở tinh thần và chia xẻ đớn đau với người mẹ. Ai nấy cũng vui mừng khi thấy việc sanh đẻ được suông sẻ, tốt đẹp, “Mẹ tròn Con vuông”. Đôi khi cũng nguy hiểm đến tánh mạng người mẹ nếu sanh đẻ gặp sự khó khăn.

Khi con lọt lòng mẹ, cha liền đỡ đần mẹ, cha giúp mẹ lo cho con từ tấm tả, từ manh quần tấm áo, pha từng bình sữa, giặt giũ khi mẹ còn yếu sức sau khi sanh nở. Công Cha như vậy đó, công Mẹ như thế nào? Mẹ lúc nào cũng cận kề bên con, nhìn con trìu mến với bầu sữa mẹ, con đang bú ngon lành mỗi khi con khát sữa, trong suốt ba năm nhũ bộ. Mỗi lần con mọc răng, ngứa nướu, con cắn vú mẹ, đau điếng, nhưng mẹ cam chịu đau, mừng thầm và mắng yêu, hôn phớt nhẹ trên tráng con: “Con tôi đã mọc răng sữa rồi, mẹ sẽ mớm cơm cho con ăn” Phương pháp nuôi con khi xưa thì khi con được vài tháng, thì mẹ bắt đầu nấu cháo hoặc nhai cơm cho nhuyễn với chút rau, cá hay thịt, rồi mớm cơm vào miệng cho con ăn. Nước miếng của mẹ hoà cùng với thức ăn biến đổi thành một chất sinh hóa, cho dễ tiêu. Phương pháp xưa không hạp vệ sinh theo đời nay, nhưng nó đượm cả tình thương của mẹ dành cho đứa con. Nhìn cảnh này chẳng khác nào chim mẹ đang nuôi chim con vậy! Tấm tranh tuyệt vời không bút mực nào tả hết được! Công lao của mẹ nuôi con như trên, được dân gian truyền khẩu qua ca dao:

Con mẹ, có thương mẹ thay,

Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau.

Cha mẹ sanh thành tạo hoá,

Nhai cơm, lựa cá, nhai cá lựa xương.

Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,

Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày.

Hay là:

Đố ai đếm được vì sao,

Đố ai đếm được công lao mẫu từ.

Mẹ lo cho con từ miếng ăn, giấc ngủ, lo lắng khi con mọc răng, ấm đầu... Đêm, mẹ dành nơi khô ráo cho con nằm ngủ:

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.”
Rồi ngày tháng trôi qua, con biết cười, biết lật, biết bò, biết ngồi, biết đi chập chững... hoà với tiếng cười mừng rở của cha mẹ khi thấy mỗi ngày con tiến bộ. Khi con đi học trường mẫu giáo, cha mẹ lo lắng đưa đón con đúng giờ, thật đúng với tục ngữ “ Cha đưa, Mẹ đón”. Tối thì dạy học cho con đánh vần, tập viết, tập đếm...

Công cha đối với con vô bờ bến như mẹ vậy vì cha mẹ mong muốn con sẽ thành người, hữu dụng với họ hàng, gia đình cũng như người ngoài. Lắm lúc cha phải lớn tiếng, la hét cho con sợ tuân lời, bởi vì chỉ có cha, con mới sợ đòn, chịu nghe lời dạy dỗ hơn mẹ, câu tục ngữ thường nói:

Mẹ đánh một trăm (*)

Không bằng cha hăm một tiếng.

(*) một trăm ở đây muốn ám chỉ nói 100 roi!

Hay câu:

Thương con cho roi cho vọt,

Ghét con cho ngọt cho bùi.

Tình thương của cha mẹ dành cho con thật bao la, vô bờ bến, mong mênh...như trời, như biễn cho đến ngày cha mẹ nhẹ bước về cõi Tây phương.

Khi con lớn khôn, công thành danh toại, cha mẹ còn lo dựng vợ gả chồng, rồi chưa hết đâu, có khi còn phải cực khổ với đàn cháu nhỏ, cháu nội, cháu ngoại nữa chứ!

Xét cho kỹ, công lao của cha mẹ đều ngang nhau, cho nên có câu ca dao:

Biết lấy chi đền đáp khó khăn,

Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ.

Nhân mùa Vu Lan báo hiếu, bổn phận làm con, không những kính hiếu dành riêng cho mẹ bằng một cánh hoa hồng hay hoa trắng, mà phải lẫn kính nhớ đến cha nữa. Bởi vì đừng quên:

Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ

Hay là:

Con có mẹ như măng ấp bẹ

hoặc là:

Con có cha như nhà có nóc

hay là:

Còn cha gót đỏ như son,

Đến khi cha chết, gót con đen sì.

 

Hiện tại có nhiều chùa tổ chức lễ Vu Lan một cách công bằng cho cha mẹ, nghĩa là một đoá hoa hồng cho ai diễm phúc còn mẹ, hay cánh hoa trắng cài lên áo người vô phúc không còn mẹ, còn đối với cha một chiếc nơ màu xanh cho những người nào còn cha hay chiếc nơ trắng cho ai đã mất cha. Đây là một hành động công bằng cho cha lẫn mẹ vào mùa Vu Lan Báo Hiếu, để các con tạ ơn sanh thành dưỡng dục sâu dầy của cha mẹ, nếu cha mẹ còn tại thế. Còn người nào khi cha mẹ đã khuất bóng, thì người con phải có bổn phận lo mồ mả, cung kính nhờ Chư Tăng Ni cúng kiến để tụng kinh nguyện cầu cho hương linh cha mẹ sớm được vãng sanh về cảnh Tịnh Độ.

Về Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca thường đề cặp đến chữ hiếu. Chữ hiếu, một pháp hạnh được đứng hàng đầu trong các kinh. Như kinh Vu Lan, Đức Phật mô tả nghiệp báo của mẹ Ngài Mục Kiền Liên là bà Thanh Đề. Mặc dù Ngài Mục Kiền Liên đã chứng được thần thông, thấy suốt ba cõi, đi xuống tận âm tỳ, nhưng than ôi, Ngài cũng không thể tự mình cứu mẹ, mà phải nhờ sức đầy nghị lực của Chư Tăng sau ba tháng nhập hạ, chú nguyện cầu siêu, nhân ngày lễ Vu Lan Tự Tứ.

Noi gương ngài Mục Kiền Liên, đến ngày lễ Vu Lan, Phật tử thập phương tựu về chùa, để sám hối, tụng kinh để cầu an cho cha mẹ hiện tiền và cầu siêu cho cha mẹ quá vãng. Đấy là bổn phận của người con đối với cha mẹ, đúng với nghĩa Vu Lan Báo Hiếu.

 

                                                                                      Ngày Vu Lan Báo Hiếu. Canh Dần 2010

Cư Sĩ Thoại Hoa

]]>
tcanhco@yahoo.com (Cư Sĩ Thoại Hoa ) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:28:43 +0000
HÔN NHÂN GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6446-hon-nhan-gia-dinh-hanh-phuc-cua-nguoi-phat-tu.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6446-hon-nhan-gia-dinh-hanh-phuc-cua-nguoi-phat-tu.html

Trong xu thế phát triển và hội nhập của đất nước. Phật giáo Việt Nam đóng một vài trò quan trọng và thiết thực. Ban Hướng dẫn Phật tử chính là những người luôn ý thức cùng với xã hội hòa nhập, sát cánh cùng dân tộc trong sự phát triển và đổi mới đó.

Trà Vinh là một tỉnh lẻ, điều kiện phát triển còn nhiều hạn chế. Hơn hai nhiệm kỳ của tỉnh hội, Ban Hướng dẫn Phật tử đã hiệp lực, hoà chung một tâm niệm với chư tôn Đức và Phật tử chung lo cho ngôi nhà Phật pháp, đặc biệt là đưa giáo lý Phật Đà vào sâu trong quần chúng nhằm hướng dẫn Phật tử đi vào đời sống an vui phúc lạc.

Trong tỉnh hiện nay có 46 đạo tràng, Phật tử tham dự trên 4000 người, qua thống kê, đánh giá tình hình sinh hoạt tu học của Phật tử thì đây là một tính hiệu khả quan của Phật giáo nói chung, Trà Vinh nói riêng. Hôm nay trong hội thảo Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương, Ban HDPT Trà Vinh xin được chia sẽ đôi điều qua công tác Phật sự này, cũng chính là mong mỏi của chúng con gửi đến hội thảo, hầu mong giúp cho người Phật tử được nhiều an vui trong đời sống: “Hôn nhân gia đình hạnh phúc của người Phật tử”.

Hôn nhân dễ hiểu hơn là nói về người nam, người nữ đến tuổi trưởng thành bước vào cuộc sống mới, kết hôn hai người với nhau thành một gia đình, cũng là mở đầu cho trang sách mới quan hệ giữa vợ chồng, cha mẹ, anh chị em, con cái, gia tộc. Quyển sách có lật đến trang cuối cùng và có hậu hay không còn tuỳ vào sự hiểu biết và cách sống của hai nhân vật chính.

Gia đình là cái nôi đầu tiên cho em bé và sẽ còn tiếp nối cái nôi trong suốt cuộc sống của mỗi con người. Nếu gia đình bền vững, hạnh phúc thì con cái sẽ có chỗ dựa vững chắc. Nếu gia đình bị lệch hướng, xáo trộn sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ thơ và từ đó gây bất ổn cho xã hội.

Vì vậy, xây dựng gia đình hạnh phúc, an vui là mong ước chính đáng của con người. Tuy vậy, không phải ai cũng vun đắp và tạo dựng cho mình một tổ ấm như ý nguyện. Thực tế, con người luôn đối diện với những trạng thái căng thẳng thì hạnh phúc gia đình càng trở nên mong manh, dễ vỡ. Chuyện hôn nhân gia đình không là đề tài mới lạ, trên thế gian này có hàng vạn sách báo bày viết, có biết bao nhà tư vấn,v.v... nhưng vẫn có hàng ngàn trường hợp đổ vỡ, đến nỗi Nhà nước phải có Pháp luật Hôn nhân Gia đình để bảo vệ những ai bước vào đời sống chung.

Thiết nghĩ, để xây dựng một đời sống hôn nhân gia đình hạnh phúc, thiết nghĩ điều cơ bản đầu tiên, người Phật tử cần sống theo nếp sống căn bản là thực hành Tam Quy Ngũ Giới.

* Tam quy là quay về nương tựa: Phật – Pháp – Tăng:

- Quay về nương tựa Phật là quay về nương tựa bậc Giác ngộ, hướng cho ta sống an lạc hạnh phúc trong cuộc đời.

- Quay về nương tựa Pháp là quay về với con đường của trí tuệ và từ bi, nghĩa là con đường của hiểu biết và thương yêu.

- Quay về nương tựa Tăng là quay về nương tựa một đoàn thể của những người đang thực tập theo con đường trí tuệ, từ bi và sống trong tỉnh thức.

* Trì Ngũ giới là thực hành theo 5 điều:

- 1. Là ý thức được những nỗi đau do sự xác hại gây ra, nên con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người, mọi loài. Con nguyện chẳng tự giết hại sinh mạng, chẳng tán thành sự giết chóc và chống lại kẻ khác giết hại dù là trong tâm tưởng hay cách sống hàng ngày.

- 2. Là ý thức được những khổ đau do lường gạt trộm cướp gây ra, nên con học hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người, mọi loài, chia sẽ với tất cả bằng năng lực và tài vật con có. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra, con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẽ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của nhân loài.

- 3. Là ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh, sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn ở với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chính sẽ gây ra những đau khổ cho kẽ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẽ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em không cho nạn tà dâm gây nên sự đổ vỡ gia đình, của cuộc sống đôi lứa.

- 4. Là ý thức được những khổ đau do lối nói thiếu chánh niệm gây ra, nên con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người, làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con chỉ nói những lời tạo thêm sự tự tin, an vui, hi vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hóa giải. Không nói sai sự thật, gây chia rẻ tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể. Không nói những lời có thể làm tan vở gia đình và đoàn thể.

- 5. Là ý thức được những khổ đau do rượu, ma túy hay các chất độc tố gây ra. Nên con không uống rượu, ma túy hay sử dụng các chất độc tố có hại cho thân tâm mình, gia đình và xã hội. Vậy nên, người Phật tử giữ và thực hành đúng 5 điều này thì đã xây dựng được nền tảng vững chắc cho gia đình hạnh phúc. Cũng như xây nhà cao tầng cần có nền móng vững chắc tạo kiên cố vừng bền.

Nhưng hạnh phúc không thể do một cá thể con người xây dựng nên, do đó cần thiết lập hạnh phúc từng thành viên trong gia đình, cần tu dưỡng để thương yêu, chuyển hóa lẫn nhau, đồng thời làm tròn trách nhiệm và bổn phận của chính mình. Bằng kinh nghiệm và tuệ giác của Đức Phật đã chỉ dạy cho chúng ta những phương pháp thiết lập hạnh phúc gia đình qua “kinh Thiện sanh”(Trường A Hàm).

Theo “kinh Thiện sanh”, yếu tố đầu tiên phải thành tựu là sự kính thuận, tôn trọng và quy kính lẫn nhau, hòa hợp đồng lòng tìm ra được tiếng nói chung trong suy nghỉ và hành động. Bất cứ một gia đình, dòng tộc hay đoàn thể, cộng đồng nào, nếu các thành viên biết kính thuận lẫn nhau, chắc chắn họ sẻ vui, hòa hợp. Đức Phật dạy người nam khi lập gia đình với đạo làm chồng đối với vợ có năm điều: “Lấy lễ đối đãi với nhau, oai nghiêm đỉnh đạc; ăn mặc tùy thời, trang sức họp thời, giao phó việc nhà; thương vợ thì không khó nhưng tôn kính vợ như khách quý thì không phải dễ, vì người chồng luôn thấy mình là trụ cột trong gia đình. Ngoài ra, nhân cách và hình thức cũng rất quan trọng, cách ăn mặc cũng phải phù hợp trong đời sống chung và đặc biệt là lòng tin đối với vợ, sắp xếp việc nhà, nuôi dạy con cái, quản lý tài sản gia đình v.v…” .

Còn người nữ cũng cần hoàn thiện 5 điều: “Dậy trước ngủ sau; nói lời hoà nhã; kính nhường từ thuận; sớm nhận lãnh ý chồng”. Đảm đang siêng năng và tháo vát, là những tố chất của người vợ hiền. Phụ nữ thường nặng về khẩu nghiệp, ưa buôn chuyện và nói năng theo cảm tính. Vậy nên phải nói lời nhã nhặn, dịu dàng, tươi mát, xoá tan tất cả mệt mỏi cho chồng, người vợ còn biết kết nối yêu thương, biết hy sinh, nhường nhịn để tạo nên không khí thuận hoà cho cả gia đình, cộng thêm sự thông minh, nhạy cảm, tinh tế để nhận biết ý chồng, quán sát cử chỉ, vẽ mặt để nhận ra những điều khó nói hoặc chưa nói của chồng nhằm ứng xử thích hợp.

Vợ chồng ngoài thương kính nhau, còn có trọng trách thương yêu giáo dưỡng con cái. Xã hội ngày nay tuy tiến bộ, nam nữ bình đẳng trên mọi lĩnh vực, ngoài xã hội hay trong gia đình, nhưng thực tế để đời sống hôn nhân gia đình hạnh phúc được bền vững, an vui thì đừng quên những lời Đức Phật đã dạy cho người Phật tử khi bước vào đời sống gia đình./.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

Ban Hướng Dẫn Phật Tử tỉnh Trà Vinh

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

alt           

 ]]>
tcanhco@yahoo.com (Ban Hướng Dẫn Phật Tử tỉnh Trà Vinh) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:23:05 +0000
GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ GIẢM SÚT TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO SAU HÔN NHÂN http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6445-giai-phap-cho-van-de-giam-sut-tin-do-phat-giao-sau-hon-nhan.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6445-giai-phap-cho-van-de-giam-sut-tin-do-phat-giao-sau-hon-nhan.html Trong những đề tài gợi ý của Ban tổ chức Hội thảo Hướng dẫn Phật tử miền Đông và Tây Nam bộ, tôi thích nhất đề tài ở mục số 5: Hôn nhân gia đình hạnh phúc của người Phật tử. Bởi lẽ, có một thực tế là Phật tử trước khi kết hôn thì rất năng nổ nhiệt tình với Phật pháp. Nhưng khi kết hôn xong rồi thì một số quan niệm, cách ứng xử, đặc biệt là họ luôn nói về niềm tin mới mà họ vừa mới học được, họ trở nên khác đi hoàn toàn, y như một con người xa lạ chưa hề được tiếp xúc với Phật giáo trước đây.

Điều này có thể do hai lý do, thứ nhất là do công tác huấn luyện của chúng ta chưa đạt hiệu quả, họ còn quá mơ hồ trong Phật pháp. Từ đó, họ sẽ không có ấn tượng sâu sắc và việc vận dụng Phật pháp vào trong cuộc sống. Chẳng hạn, về đức tin thì chỉ có niềm tin mang tính chung chung, đại khái là tôn giáo nào cũng tốt. Vả lại ông bà ta thường dạy là dĩ hòa di quý đừng làm cho vấn đề trở nên thêm phức tạp làm gì, miễn là việc kết hôn được diễn ra một cách tốt đẹp là tốt lắm rồi. Người Phật tử với quan niệm sơ sài hiền hòa đến mức đánh mất niềm tin thiêng liêng của mình như thế là một kết quả đáng buồn cho các nhà truyền giáo Đạo Phật không sao tránh khỏi.

Thứ hai là, người bạn tôn giáo bên kia của chúng ta quá khôn ngoan, ngay từ bước một, họ mặc nhiên ở thế chủ động và ít nhất là tranh thủ để chiếm thế chủ động. Trên mặt trận này, họ gặp phải đối tượng không được trang bị kinh nghiệm kỹ lưỡng, đang mang trong người một thái độ cầu hòa, trách sao chiến lợi phẩm mỗi ngày không gia tăng ở các cơ sở tôn giáo của họ.

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, riêng ở Việt Nam từ rất sớm, nếu không muốn nói là ngay những thập niên đầu của công nguyên, thời đại lập quốc và giành độc lập tự chủ của dân tộc ta. Thế nhưng qua thống kê của ngành Tôn giáo thì số lượng tín đồ của Phật giáo hiện nay không hơn hẳn các tôn giáo lớn khác. Về kết quả đáng buồn này vẫn biết rằng là chưa phản ánh hết được những gì đang tồn tại nhưng cũng không nên quá chủ quan để rồi một ngày không xa ta phải nuối tiếc với lời tự trách.

Trở lại vấn đề giải quyết tình trạng giảm tín đồ, theo thiển ý người viết, chúng ta chỉ cần nói tiếng nói của bình đẳng tôn giáo và tiếng nói cuối cùng của pháp luật. Thế nào là tiếng nói của bình đẳng tôn giáo? Là thế này, mỗi tôn giáo đều có bản sắc đặc thù riêng nhưng không vì vậy mà chèn ép như những gì đang diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra từng ngày. Cụ thể hơn, khi kết hôn, tại sao chỉ có các tôn giáo khác thì phải cải đạo, phải theo học kinh điển và làm lễ tại cơ sở tôn giáo đó, còn tín đồ của họ thì không? Chúng tôi cho rằng điều đó là việc làm không công bằng. Vẫn biết rằng bây giờ nói tiếng công bằng cũng là hơi muộn nhưng ít ra vẫn còn hơn nó vẫn được vận hành theo hướng đường mòn lối cũ. Chúng tôi chỉ khiêm tốn đề nghị 2 ý trong việc xử lý tình huống này là:

Thứ nhất: Nếu là hai trẻ yêu nhau sau một thời gian dài tìm hiểu thì hai gia đình nên tiến hành theo phép hôn nhân truyền thống. Nghĩa là tiến hành các nghi thức như dạm hỏi, đám nói và kết thúc bằng lễ đám cưới. Bởi lẽ, hai người yêu nhau là xuất phát từ sự rung động con tim, phát sinh cảm tình và chấp nhận nhau về điều kiện sống cũng như các thói quen thường nhật mỗi ngày chứ không liên quan gì đến đức tin tôn giáo. Điều này không có gì sai, càng không phải là yếu tố dẫn đến tình trạng ly thân hay ly dị như một số luận điệu tuyên truyền đã nói vì không được ơn trên ban phép ân sủng. Một bằng chứng hùng hồn là rất nhiều các cụ không qua việc làm phép hay rửa tội vẫn sống hạnh phúc tới ngày nhắm mắt lìa đời và một khía cạnh ngược lại là một số người được trang bị đầy đủ các nghi tiết cho việc kết hôn nhưng vẫn không có hạnh phúc lâu dài. Qua đó, chúng ta có thể nói hạnh phúc hay đổ vỡ không hoàn toàn là do có tham gia các nghi thức hay không mà nằm ở quan niệm hành xử với nhau của hai vợ chồng. Nếu hai vợ chồng biết tương kính nhau như đối đãi với khách quý (Tương kính như tân); biết thương yêu, nhường nhịn nhau; không bảo thủ luôn cho mình là đúng cũng không quá buôn thả hay thụ động, mặc cảm, tự ty để rồi cuộc sống chỉ mang điện tích một chiều và hai cái đầu chỉ có một cái hoạt động còn cái kia không phải hư.

Thứ hai là quan niệm đề cập tôn giáo bình đẳng: nghĩa là có nên phải cải đạo không nếu chúng ta được đề nghị thay đổi đức tin tôn giáo, phải học kinh thánh và làm lễ tại nhà thờ…; ngược lại chúng ta cũng có quyền đề nghị tương tự anh hay chị hôn phối nên thay đổi đức tin để theo Phật giáo, học kinh Phật và làm lễ tại nhà chùa. Thế nên niềm tin và tín ngưỡng của người theo đạo cần phải được tôn trọng và gìn giữ.

Nếu có ý thứ ba trong bài viết này thì tôi sẽ bảo: dĩ hòa vi quý. Hai bên gia đình ngồi lại với nhau thông qua điều lệ và thỏa thuận. Nhưng mọi việc trở nên căng thẳng không nhân nhượng thì tốt nhất đến với nhau với những gì chúng nó quan tâm như tình cảm chẳng hạn, chứ không hề mang sắc thái tôn giáo.

Như vừa nêu trên là hai ý trong mục tiếng nói của sự bình đẳng tôn giáo. Ngoài ra, chúng ta cũng cần nhắc đến tiếng nói cuối cùng của pháp luật. Như mọi người chúng ta đều thống nhất nhau là sống và làm việc theo pháp luật, vậy pháp luật được ứng dụng trong tình huống này là gì? Xin thưa, quy định của pháp luật là công dân được quyền tự do tín ngưỡng, theo hay không theo bất kỳ tôn giáo nào. Như thế thì bất kỳ hình thức nào có tính o ép, gán gượng đều vi phạm pháp luật. Chiếu theo đó thì từ lâu đã có một vài tôn giáo đã vi phạm điều này nhưng họ chưa từng bị kiểm điểm hay bị phê phán. Sự im lặng này của pháp luật có thể là do từ lâu ta chấp nhận yêu cầu của họ để có được hôn nhân xem như là một quy định mới, một điều kiện mới để có hôn nhân với tín hữu thiên chúa. Thứ nữa là không chấp nhận thì thôi, kiện tụng làm gì. Đã không có người đề nghị xét xử thì làm sao có người đại diện pháp luật xét xử. Cho nên, từ lâu vẫn diễn ra viễn cảnh nhức nhối mà những nhà truyền giáo của Giáo hội thỉnh thoảng ngậm ngùi chia tay người đệ tử thân tín của mình.

Các liệu pháp như vừa trình bày chỉ là một vài nỗ lực của một vài cá nhân trên đoạn đường vô cùng của nghiệp lực. Có thể chúng ta gặt hái thành công với một lý do đơn giản vì họ có nhân duyên và nhân duyên sâu dầy trong Phật pháp như trong lời nguyện hằng đêm chúng ta vẫn cầu: nội ma bất khởi, ngoại chướng vô xâm rồi là nguyện cho đệ tử bồ đề tâm kiên cố, chí tu học vững bền sớm xa khỏi nguồn mê, chóng quay về bờ giác và một lời nguyện khác trong nhóm những quyển kinh được biên soạn: “Nguyện cho đệ tử đời đời thường làm bà con Phật pháp, quyến thuộc từ bi, hộ trì Tam bảo ở mãi thế gian”.

Trong không gian vô cùng, thời gian vô tận, mỗi người chúng ta là chủ nhân của nghiệp và rồi mỗi chúng ta sẽ là kẻ thừa tự nghiệp của chính mình. Chính là tư tưởng chủ đạo của Phật và cũng là của tất cả Như Lai sứ giả chúng ta./

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại tp. Cần Thơ) 

Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh Bạc Liêu

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh Bạc Liêu) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:20:23 +0000
XÂY DỰNG GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC THEO QUAN ĐIỂM PHẬT GIÁO http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6444-xay-dung-gia-dinh-hanh-phuc-theo-quan-diem-phat-giao.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6444-xay-dung-gia-dinh-hanh-phuc-theo-quan-diem-phat-giao.html Gia đình là một đề tài muôn thuở, không những ở trong đạo mà còn ở ngoài xã hội đều được những nhà chuyên trách quan tâm, nghiên cứu để tìm những giải pháp cho vấn đề này. Gia đình cũng là một đề tài của văn chương, hội hoạ, thi ca v.v… trở nên phong phú và đa dạng. Nói đến gia đình là nói đến người Nam và người Nữ, nói đến âm và dương, nói đến sự cứng rắn và thuỳ mị. Người nam và nữ yêu nhau được pháp luật thừa nhận (hoặc cha mẹ đồng ý), đó là gia đình. Kết quả gia đình là con cái. Bản chất của gia đình là hạnh phúc. Kẻ thù của gia đình là ly thân và ly dị. Bài viết này sẽ trình bày những vấn đề của gia đình và giải pháp của đạo Phật, bài viết sẽ tập trung trong hai vấn đề: Gia đình hạnh phúc và bất hạnh.

1. Gia đình hạnh phúc

Khi chúng ta nhìn một chậu hoa nở, đẹp và dễ thương. Chúng ta nhìn cái đẹp và dễ thương của hoa thì đó là chuyện bình thuờng; nhưng nếu chúng ta nhìn chậu hoa nở với một chuổi của nhân duyên thì chúng ta sẽ thấy sự mầu nhiệm của chậu hoa, chúng ta sẽ thấy công người chăm sóc, nắng xuyên qua, mưa rơi xuống v.v… Cũng vậy một gia đình hạnh phúc phải hội đủ nhiều nhân duyên: Phải có đạo đức, phải tôn trọng lẫn nhau, phải có tài sản, phải có con hiền cháu ngoan… Trong phần này chúng tôi trình bày một số nguyên lý cần phải có để xây dựng hạnh phúc gia đình.

* Đạo đức

Muốn xây dựng một căn nhà được nhiều tầng, kiến trúc sư phải thiết kế nền móng vững chắc và tương xứng. Cũng vậy gia đình hạnh phúc, phải dựa trên nền tảng đạo đức. Đạo đức ở đây là đạo đức của con người và xã hội đã quy định. Sống và làm việc phải thích nghi với con người và những qui luật của xã hội hiện hành. Đức Phật quy định đạo đức của người Phật tử phải dựa trên nền tảng của 5 giới đó là:

- Không sát sanh: tuyệt đối không sát sanh, dù chỉ là con vật bé nhỏ.

- Không trộm cắp: Tuyệt đối không lấy của cải của ai.

- Không Tà dâm: Tuyệt đối không quan hệ tình dục với người khác phái đã được pháp luật và gia đình gìn giữ.

- Không nói dối: Tuyệt đối không nói những điều sai sự thật, gây sự nguy hại cho mọi người.

- Không uống rượu: Tuyệt đối không uống chất say, làm giảm trí nhớ, làm thân tâm u mê.

Với cái nhìn của Đức Phật, năm giới cấm trên đủ để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Người chồng và người vợ, nếu có năm giới cấm này, Đức Phật so sánh như là Tiên nam sống với Tiên nữ. Nếu người vợ có giới, người chồng không có giới, thì giống như tiên nữ sống chung với quỷ đực v.v… Đức Phật dạy người không có đạo đức và không có giới, tâm hồn và cử chỉ giống như quỷ, vì nó biểu lộ sự hung bạo, độc ác, thô lỗ. Khi một người uống chất say có khả năng làm nhiều điều bất thiện, ma quái. Rượu cũng có khả năng làm hư hỏng các giới cấm còn lại, có khả năng làm băng hoại nền đạo đức của gia đình và dẫn đến ly thân và ly dị. Những người thanh niên bất hiếu với cha mẹ đa phần bắt nguồn từ chất say. Do đó, muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình các anh và các chị hãy cố gắng gìn giữ năm giới cấm, vì nó là hạnh phúc của anh và chị, cũng là hạnh phúc và tương lai của con cháu.

* Gieo nhiều hạnh lành

Ngoài việc xây dựng hạnh phúc gia đình, năm giới cấm còn có công năng vun trồng hạnh lành trong kiếp này và kiếp mai sau. Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú: “Không làm các điều ác, hãy làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch. Đó là lời Phật dạy.”

Làm các hạnh lành ở đây chính là tạo phước, làm điều thiện, sống có trách nhiệm với nhau. Đối với cha mẹ chúng ta phải có hiếu, biết chăm sóc và phụng dưỡng; đối với xã hội, chúng ta phải làm tròn bổn phận của người công dân; đối với đạo pháp, chúng ta phải thực hành giáo pháp, làm phước, cúng dường đến sa môn và Bà La Môn. Bố thí, trì giới, tham thiền, cung kính, phục vụ, tuỳ hỷ phước, hồi hướng, nghe pháp, thính pháp, cải tạo tri kiến, đó là 10 cách tạo phước trong luận tạng Pali. Trong Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu: “ Ai ơi cố gắng làm lành, kiếp này chưa hưởng, để dành kiếp sau; trong địa lý phong thuỷ có dạy: “Tiên tích đức, hậu tầm long”, trong Tử vi có dạy: “đức năng thắng số”, “đức trọng quỷ thần kinh”, trong học đường cũng dạy: “Tiên học lễ, hậu học văn” v.v… Tất cả những lãnh vực trên đều khuyên chúng ta gieo nhiều hạnh lành. Lý do tại sao? Vì mỗi hành động của chúng ta đều gây ra kết quả. Gieo nhân lành thì gặt quả lành, gieo nhân ác thì gặt quả ác. Nếu anh chị làm nhiều việc lành thì tất nhiên gia đình của anh chị an vui và hạnh phúc, con hiền cháu ngoan, mọi việc hanh thông, vạn sự như ý. Trái lại, làm nhiều điều bất thiện, anh chị bất hạnh khổ đau, con cái hư hỏng. Thông thường chúng ta nghe danh từ may mắn trong công việc, tình yêu, gia đình v.v… may mắn ở đây chính là hạnh lành, phước báu, điều thiện, phước đức. Như thế gia đình hạnh phúc đồng nghĩa với hành động thiện, lời nói thiện và tư tưởng thiện.

* Bổn phận và trách nhiệm

Một xã hội hưng thịnh và phát triển phải có luật pháp và thường xuyên hội họp. Trong quân đội, kỷ luật và trách nhiệm là trên hết. Gia đình hạnh phúc là gia đình mà trong đó mọi người phải có bổn phận và trách nhiệm với nhau; nếu thiếu bổn phận và trách nhiệm thì cuộc sống sẽ chán chường, thất vọng và dễ dẫn đến những hệ quả không tốt. Khi anh chị kết hôn với nhau, sống chung nhau một thời gian thì những bản tánh xấu sẽ hiển lộ, dẫn đến lời nói và hành động không đẹp như lúc mới quen nhau; trong tình cảnh này, anh chị hãy xét lại bổn phận và trách nhiệm của mình, bổ túc và sửa đổi những gì còn sai sót, vì hành động đẹp hơn lời nói. Trong kinh Thi Ca La Việt (Singakala) Đức Phật dạy Bổn phận và trách nhiệm của mọi người như sau:

1. Bổn phận của người con đối với cha mẹ

a. Nuôi dưỡng cha mẹ

b. Làm việc thay cho cha mẹ

c. Gìn giữ truyền thống gia đình

d. Bảo vệ tài sản thừa tự

e. Làm phước để hồi hướng khi cha mẹ qua đời".

2. Bổn phận của cha mẹ đối với con

a. Ngăn chặn con làm điều ác

b. Khuyến khích con làm điều thiện

c. Dạy con nghề nghiệp

d. Cưới vợ gả chồng cho con

e. Đúng thời trao của thừa tự cho con.

3. Bổn phận chồng đối với vợ

a. Yêu thương vợ

b. Không khinh thường vợ

c. Trung thành với vợ

d. Giao quyền hành cho vợ

e. Sắm đồ nữ trang cho vợ.

4. Bổn phận của vợ đối với chồng

a. Thực hành tốt đẹp bổn phận của mình

b. Đối xử tốt họ hàng bên chồng

c. Trung thành với chồng

d. Biết gìn giữ tài sản của chồng

e. Khéo quán xuyến mọi công việc gia đình.

Những lời Đức Phật dạy trên đã hơn 25 thế kỷ, so với cuộc sống hiện tại chắc chắn một số người cho là quá lạc hậu, tuy nhiên anh chị hãy bình tâm áp dụng những lời dạy trên sẽ cảm nhận rất nhiệm mầu và vi diệu. Vì nội dung, ý nghĩa trong bổn phận và trách nhiệm giữa cha mẹ với con cái, giữa chồng với vợ, chúng ta nhận thấy quá gần gũi và thiết thực trong đời sống gia đình. Những bổn phận đó không thể thiếu bất cứ một bổn phận nào, vì thiếu, hạnh phúc gia đình sẽ trở nên nhạt nhẽo, không ấm áp, bầu khí trong gia đình trở nên căng thẳng. Thế nên anh chị hãy xem những bổn phận này là bùa hộ thân, là phép lạ để gia đình anh chị được hạnh phúc.

Tóm lại trách nhiệm và bổn phận đối với người bạn đời: thương yêu, giúp đỡ và chung thuỷ. Đối với con cái phải dưỡng, dục, luôn tâm niệm rằng con cái gắn liền với hạnh phúc của mình. Đối với xã hội, nhân loại, phải xây dựng xã hội tốt thông qua gia đình hạnh phúc. Đối với đạo pháp phải có đức tin bất thối nơi Tam bảo, làm những điều có ích cho đạo pháp và dân tộc.

*Nhịn nhục, siêng năng và thông cảm

Gia đình hạnh phúc là gia đình mà mọi người phải có sự tương trợ lẫn nhau, xem gia đình là tổ ấm để dung thân, xem con cái là niềm vui, và điều không thể thiếu là kinh tế vững vàng. Khó khăn trong gia đình là không có tình yêu thật sự, không có sự hài hoà lẫn nhau, thiếu kiến thức về hôn nhân, không có đạo đức và thiếu thiện chí xây dựng cho nhau.

Bí quyết của gia đình hạnh phúc là mọi người phải biết thông cảm, nhường nhịn và siêng năng.

- Nhịn Nhục: Ca dao có câu: “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi bớt lửa thì đời nào khê”. Nếu người làm vợ biết áp dụng câu cao dao này thì gia đình chắc chắn sẽ hạnh phúc. Thống kế cho thấy đa số vấn đề ly dị và ly thân đều do sự thiếu tôn trọng, dẫn đến sự sân hận. Khi tâm sân khởi lên chúng ta có thể làm bất cứ chuyện gì, có thể đánh đập, chưởi bới, xé hôn thú và độc ác. Người xưa có nói: “chưa đánh được người, thì mày xanh mặt tía. Đánh được người thì hôn vía lên mây.” Do đó khi gia đình anh chị gặp cảnh không ngon cơm ngọt canh, thì nên nhớ và thực tập các câu thơ này, hy vọng mọi việc sẽ ổn: “Nhịn một chút, gió yên sóng lặng. Lùi một bước, biển rộng trời cao”.

- Siêng năng: Là đức tính tuyệt vời, thiếu nó cuộc sống sẽ trở nên vô vị. Bạn tốt của con người là siêng năng; kẻ thù của con người là hèn nhát. Gia đình hạnh phúc chính là gia đình mà chồng vợ cần mẫn, siêng năng, biết chia sẻ trong công việc, phải biết góp phần mình để xây dựng gia đình, tạo tiền bạc, công sức, trí tuệ, để cùng xây dựng gia đình về mọi mặt. Phải có thiện chí lo lắng cho gia đình cả hai bên v.v.. không có sự phân biệt nào. Trân trọng đón nhận và cho lại tình yêu thương lẫn nhau, nhận sự phục vụ và phải biết phục vụ lại, đồng thời hiếu thảo với cha mẹ, chung thuỷ với nhau, giúp đỡ gia đình hai bên. Thế nên các anh chị phải trao dồi điều siêng năng này trong đời sống hôn nhân của mình. Người có siêng năng cha mẹ kính yêu, chồng vợ dễ mến, bà con cô bác ái mộ, bài học đầu đời cho con cái.

2. Gia đình bất hạnh

Gia đình bất hạnh là gia đình không có khả năng tạo dựng hạnh phúc về những vấn đề như tình yêu, con cái, tiền của, tài sản, tâm sinh lý v.v… Khuyết điểm gia đình không có hạnh phúc là do chọn lầm người và lầm tính nết, sinh lý bất đồng dẫn đến nhàm chán, vì sống lâu bên nhau không biết làm tươi mới lại tình yêu, thiếu tế nhị, thiếu bổn phận, phát sanh tính xấu của một trong hai người, hôn nhân không thành thật, bị lừa dối. Hậu quả gia đình bất hạnh là không có hạnh phúc và nguồn vui, chán nản, lãng quên bổn phận, thiệt hại về tài sản là đồ dùng bị đập phá khi nóng giận, và tìm cách lãng quên bằng cách ăn chơi trác táng, bài bạc, rượu chè làm mất phẩm chất của con người, thiếu trách nhiệm với con, làm hư hỏng tương lai các con. Trong phần này chúng tôi sẽ phân tích một số vấn đề bất hạnh trong gia đình và giải pháp của Phật giáo.

* Số phận kém may mắn của trẻ thơ

Có những gia đình khi sanh con bị tật nguyền, dị hình, xấu xí, yểu thọ, bịnh hoạn, thiểu trí. Đó là số phận của những trẻ sơ sinh, nhưng đó là những điều bất hạnh của những bậc làm cha mẹ. Có những gia đình đổ vỡ cũng vì những vấn đề trên. Lý do tại sao có những điều này, Đức Phật dạy trong kinh Trung Bộ: Người bị tật nguyền dị hình là do kiếp trước đánh đập và hành hạ chúng sanh. Người xấu xí là do kiếp trước không có giúp đỡ y phục cho những người nghèo khó, không cúng dường y phục đến Sa Môn và Bà La Môn. Người yểu thọ là do kiếp trước sát sanh hại vật. Người bịnh hoạn là do kiếp trước đánh đập chúng sanh. Người thiểu trí là do kiếp trước không gần gũi bậc trí thức, sử dụng quá nhiều chất say. Đạo phật dạy con người tin ở nghiệp thiện và nghiệp ác, chính nghiệp dẫn chúng ta tái sanh lành hay dữ. Đúng với câu: Ta đi với nghiệp của ta, dù cho tốt xấu tạo ra tự mình”. Do đó muốn tránh những điều trên, chúng ta ngay bây giờ phải giữ thân, khẩu và ý đừng bị ô nhiểm bởi những hành động phi nhân bản.

* Ly thân và Ly dị

Ly thân là vẫn sống chung, hoặc sống xa nhau, nhưng không có quan hệ vợ chồng, nhất là chưa đưa ra pháp luật thừa nhận. Ly dị là được pháp luật chấp nhận huỷ bỏ hôn thú và mọi người hoàn toàn tự do.

Ly thân và ly dị hiện nay ở trên thế giới và ở Việt Nam khá phổ biến. Ở Sài Gòn và Hà Nội có khi lên đến 30% và trên thế giới có nơi lên đến 50%. Theo những nhà thống kê cho biết việc ly thân và ly dị mỗi năm gia tăng chứ không giảm.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: do lập gia đình quá sớm, tâm lý chưa ổn định, cá tính ích kỷ, hung ác, kinh tế kém, do cha mẹ, anh em, bạn bè tham gia nhiều vào cuộc sống vợ chồng, khó khăn về con cái, thiếu sức khoẻ, thiếu kiến thức về hôn nhân, thiếu đạo đức.

Hậu quả: về tâm lý là đau khổ, thất vọng, buồn nãn, . Về đạo đức, là đánh mất bổn phận, đôi khi mất cả niềm tin. Về sự nghiệp, hay thất bại trong việc làm ăn, không tha thiết làm việc, ăn chơi phung phí tiền bạc. Về uy tín, mất uy tín với gia đình và xã hội. Đối với gia đình, con cái hư hỏng, thiếu người chăm sóc dạy bảo, trẻ em thường lang thang bụi đời.

Phương pháp khắc phục: có ý thức và trách nhiệm cao, phải có đầy đủ kiến thức về hôn nhân gia đình, tìm hiểu thật kỹ khi lập gia đình, không nên cố chấp, phải có tâm từ bi và lòng hỷ xả. Điều quan trọng là phải chung thuỷ trong tình yêu. Đức Phật dạy những người kém may mắn trong tình yêu chính là quả báo của tội tà dâm từ kiếp trước hoặc kiếp này. Tà dâm là hành động phá hoại hạnh phúc của gia đình người khác. Do đó dù chỉ lời nói hoặc ý nghĩ cũng không nên.

3. Thiếu giáo dục

Con cái hư là do bởi cha mẹ. Gia đình thiếu giáo dục cũng do bởi cha mẹ. Dấu hiệu của những người con trong gia đình thiếu giáo dục là không tôn trọng nề nếp và luân lý, không kính trọng cha mẹ, không có tế nhị, quá tự cao tự đại, ngang tàng, bướng bỉnh, ít suy nghĩ về tương lai, phá rối trật tự gia đình. Từ những hệ quả trên dễ dẫn đến tệ nạn xã hội như trộm cướp, mại dâm, xì ke, nghiện ngập và các vi phạm khác.

Phương pháp khắc phục: Trước hết phải củng cố nếp sống và hạnh phúc gia đình, cha mẹ phải làm gương cho con cái. Đối với xã hội, phải cải cách giáo dục học đường, tăng cường đội ngũ giáo viên có đủ trình độ sư phạm và đạo đức học, đề cao đạo đức và nhân bản của con người, kiểm tra tốt những loại văn hoá phẩm để tránh sự ổ nhiễm và đầu độc, xử lý thích đáng người vi phạm để làm gương. Đối với đạo pháp, hướng dẫn các con quy y Tam Bảo và thọ trì 5 giới cấm, động viên con tham gia vào câu lạc bộ thanh thiếu nhi Phật tử hoặc tổ chức gia đình Phật tử tại các tự viện.

4. Phá thai và ngừa thai

Đây là hai vấn đề rất thời đại. Trước nhất chúng ta định nghĩa phá thai là gì? Phá thai là huỷ bỏ bào thai đang mang bằng các hình thức làm chết bào thai.

Thế nào là ngừa thai? Ngừa tạm thời: là dùng bao cao su, đặt vòng tránh thai, uống thuốc ngừa thai. Ngừa vĩnh viễn: Thắt ống dẫn tinh, cắt buồng trứng.

Trong hai vấn đề trên, chúng ta thấy phá thai là vấn đề cần bàn thảo. Phá thai đồng nghĩa với sát sanh. Trong Phật giáo sát sanh có 5 chi: Chúng sanh có thức tánh, biết chúng sanh có thức tánh, tính giết, ráng sức giết, chúng sanh chết do mình giết. Hậu quả của việc phá thai là bịnh hoạn, yểu thọ, ám ảnh vì hành động tội lỗi và người vô hình hay theo. Người phật tử chơn chánh nên cố gắng tránh xa sự phá thai, thay vào đó bằng phương pháp ngừa thai. Muốn giảm tỷ lệ phá thai, người Phật tử sống phải có giới hạnh: giới thứ ba phải trong sạch, sống phải có chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.

5. Đồng tính luyến ái

Vần đề này hiện nay khá phổ biến. Đông phương thì vẫn còn thầm kín, nhưng đối với Tây phương thì có một số quốc gia chấp nhận cho họ chung sống chính thức được pháp luật chấp thuận. Trong kinh Phật có kể lại mẫu chuyện ông Soreyya từ nam biến thành nữ và từ nữ biến thành nam, mỗi lần như vậy đều có gia đình và có con, sau đó xuất gia đắc chứng đạo quả. Đọc báo chí chúng ta cũng thấy một số quốc gia đã giải phẩu nam thành nữ v.v…

Lý do tại sao có đồng tính luyến ái, có khả năng do thức ăn thời nay có nhiều hoá chất, phim ảnh văn hoá không được lành mạnh, sống ức chế trong tình cảm. Để khắc phục căn bệnh này, mỗi người sẽ có mỗi cách khác nhau: vì đây là tâm bệnh, nên phải chữa trị bằng tâm. Người bịnh phải tìm một vị thầy để thiền Tứ Niệm Xứ, tập dưỡng sinh, hoặc Yoga. Những phương pháp này có khả năng chuyển hoá rất tốt. Người bịnh phải thấy được sự nguy hại, sự buồn tủi và nhất là tương lai đen tối nên quyết tâm từ bỏ.

Tóm lại hạnh phúc hay bất hạnh là do chính mình tạo nên. Như vậy vấn đề chính của chủ đề này là tự bản thân. Do đó việc giáo dục, tu sửa, luyện tập chính mình thì mọi việc sẽ tốt đẹp. Muốn xây dựng hạnh phúc phải: tuyệt đối chân thật, phải có lòng từ bi trong mọi trường hợp, luôn giữ bầu không khí hòa thuận trong gia đình, tính tương thân tương ái, không gây thiệt hại cho bất cứ ai, các thành viên trong gia đình luôn giữ mối giao hoà tốt đẹp.

Gia đình bất hạnh một phần cũng do mối quan hệ với mọi người chung quanh: gia đình hai bên không thuận thảo, đặt điều nói xấu cho dâu rể, gây ra sự hiểu lầm cho vợ chồng. Anh chị em, họ hàng, bạn bè có nhiều lời qua tiếng lại, gây khó xử và chia rẽ cho vợ chồng. Thấy được những nguyên nhân của hạnh phúc và bất hạnh, người phật tử phải cố gắng gìn giữ hạnh phúc của gia đình của mình, vì hạnh phúc của mình cũng chính là hạnh phúc của con cái và xã hội./.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

ĐĐ. Thích Thiện Minh

Phó Ban Từ thiện xã hội TW GHPGVN

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Thiện Minh) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:16:54 +0000
VÀI SUY NGHĨ VỀ PHƯƠNG PHÁP HOẰNG PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6443-vai-suy-nghi-ve-phuong-phap-hoang-phap-doi-voi-nguoi-hoa.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6443-vai-suy-nghi-ve-phuong-phap-hoang-phap-doi-voi-nguoi-hoa.html Người Hoa được có mặt ở Việt Nam vào thế kỷ thứ XVII, nhưng chính thức có mặt đại trà là năm 1945. Lúc bấy giờ đang là Đệ nhị Thế chiến, quân Nhật đổ bộ chiếm đánh Trung Quốc, khiến người dân các quận huyện tỉnh Quảng Đông thiếu lương thực, nhân dân đói khổ phải ăn lá cây non, rau rừng. . . lâu ngày bị bệnh, một số quận huyện như Triều Châu, Hạc Sơn, Phan Ngu và Cửu Giang…bị đói và bệnh dịch tả hoành hành triền miên khiến người chết ngày càng nhiều, vì thiếu thốn tài chánh chôn cất và cũng để tránh sự lây nhiễm, vì thế cuộc sống không thể kéo dài được, cho nên một số thanh niên đã tìm đường thoát thân sang Việt Nam và các nước Đông Nam Á.

l. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH.

Khi đến Việt Nam. Người Hoa đã sống rải rác ở các tỉnh thành khu vực phía Nam, có tính đoàn kết và yêu chuộng hòa bình, thích giúp đỡ người bị hoạn nạn, không phân biệt màu da và tôn giáo, qua nhiều thời kỳ chiến tranh, dân tộc Hoa càng thắm nhuần hơn về tinh thần đoàn kết và chia sẻ cho nhau lúc họan nạn. Sau năm 1954, vì hoàn cảnh kế sinh nhai nên dân tộc Hoa đã tản ra sinh sống trong các tỉnh thành như : trong cả nước, Bình Dương, Phước Long, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Miền Cao Nguyên thì có Đơn Dương và thành phố Đà Lạt. Miền Trung : Phan Thiết, Nha Trang, Phú Yên và Qui Nhơn.…

ll. NHU CẦU HỌC PHẬT

1. Những bước đi ban đầu.

Khi các chuyến tàu cập bến vào đất liền vào tháng Giêng thì mỗi năm cứ đến ngày rằm tháng Giêng, những thuyền nhân được định cư sẽ cúng cầu siêu mang tính tập thể cho người thân của mình, nếu cập bến vào tháng 2 họ sẽ cúng vào ngày mùng 8 tháng 2. . . . nếu đến vào tháng 7 thì sẽ cúng cầu siêu vào ngày 14 hoặc rằm tháng 7 … mỗi lần cúng vái như vậy họ đốt thật nhiều giấy tiền hàng mả, kho lầu các thứ, chi tiêu rất tốn kém và lãng phí. Sau thập niên 60 Tăng Đoàn hoằng pháp người Hoa do pháp sư Siêu Trần, pháp sư Diển Bồi, HT Hoằng Tu, HT Thọ Giả, HT Thanh Thiền, HT Lương Quốc, HT Tăng Đức Bổn và một số Tăng Ni trẻ từ bên Trung Quốc sang Việt Nam hoằng pháp và lập đạo tràng đã có làm lễ Quy y và hướng dẫn Phật pháp cho một số thanh thiếu niên nam nữ. Nay số người này đã già, có một số đã xuất gia tu học sau năm 1975, có một số là huynh trưởng hoặc trưởng, phó ban hộ tự của một số đạo tràng trên thành phố và các tỉnh thành khu vực phía Nam.

Tuỳ theo điều kiện sống, điều kiện nhận thức và nhân duyên giải thoát của từng cá nhân mà chúng ta học hỏi Phật pháp và các môn thích hợp. Theo hướng giáo dục này, chư Tăng Ni người Hoa nói chung và các vị hoằng pháp nói riêng cũng tuỳ thời, tuỳ pháp, tuỳ cơ, tuỳ xứ mà có trách nhiệm giảng dạy giáo lý làm cho sự nghiệp giáo dục của Phật tử người Hoa ngày càng hưng thịnh, nhằm đem lại lợi ích, an lạc cho đời trên tinh thần “ Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh. Với tinh thần cao quý ấy, trong thời hội nhập, các Tăng Ni người Hoa đã từng bước kiện toàn nội dung giảng dạy sâu sắc và phù hợp cho mọi đối tượng Phật tử ở nhiều nơi trong cả nước. Để hòa mình theo sự đổi mới của đất nước và sự hội nhập toàn cầu hóa, ngày nay, các đạo tràng người Hoa nhờ sự hiểu biết Phật pháp nên nhiêu vấn đề mê tín dị đoan như đốt nhiều vàng mã đã từ từ giảm gần. Đó là một khởi sắc ban đầu.

2 Các đối tượng tu tập

2.1 Lứa tuổi Thiếu niên

Là lứa tuổi mới lớn, nên chọn đề tài “siêng học nuôi đạo tâm” để giảng dạy, với ý nguyện tuổi thiếu niên này không lêu lõng, nên siêng học, không quên nuôi dưỡng đạo tâm cho vững chắc.

Mai sau khi tốt nghiệp, chúng ta sẽ tuyển lựa 10 em trong 30 em để bồi dưỡng Phật pháp và chuyển họ thành người tu sĩ thì Phật giáo người Hoa mới có nhân tài để phục vụ đạo pháp.

2.2. Lứa tuổi thanh niên

Là lứa tuổi đã thành niên, thường đã thành lập gia thất, nếu thuộc vào gia đình giàu có, cuộc sống dư dã, thì rất kén chọn, không chịu lập gia đình, muốn độc thân để tụ tập ăn chơi, rượu chè say sưa, lêu lõng… có duyên lắm mới được bạn bè rủ nhau vào chùa nghe thính pháp và tham dự Bát Quan Trai. Còn những gia đình nghèo thì họ bận bịu, lo lắng trong cuộc sống sinh hoạt khó khăn hằng ngày… nên chúng ta phải chọn đề tài “Bảo Vệ hạnh phúc gia đình” để khuyên họ nên bảo vệ những thành quả mà chính họ đã tạo dựng ra.

2.3. Lứa tuổi Trung niên

Chọn đề tài “Nhất Tâm hướng Phật”. Vì lứa tuổi này đã lớn, có người đã làm ông bà nội hoặc ông bà ngọai, trong cuộc sống nếu là sung túc thì coi như khỏi lo, nếu là thiếu thốn thì chắc chắn sẽ già trước tuổi. Chúng ta nên khuyến khích họ hướng về Phật đạo nhiều hơn để làm cây đại thọ cho tốp trung niên và thiếu niên noi gương.

Gia đình người Hoa thường có câu nói: “Nhất gia hữu lão di như hữu bảo” . Nghĩa là một gia đình có người già ví như tồn tại một vật quý vậy. Trong muôn ngàn gia đình người Hoa mà có chừng năm ba trăm gia đình hiểu biết “Phật pháp”, tin nhân quả thì chắc chắn rằng trong xã hội này vấn đề bói toán, xin xăm, xem ngày chọn hướng, ma chay chôn cất, mê tín dị đoan sẽ dần dần giảm thiểu, trở thành thanh thiếu niên thính pháp, người già chuyển đạo tâm, vàng mả thành tiền thật, Đạo tràng thêm người tu và bờ mê sẽ thành ngộ. Đó cũng nhờ sự hộ trì của chư Tăng Ni người Hoa nhất tâm muốn cải thiện và đem lại lợi ích cho con người,

Từ bao năm nay, do gia đình người Hoa không chịu góp sức khiến cho bánh xe “pháp luân” chuyển chậm và vấn đề mê tín đã chiếm lĩnh tâm hồn của đồng bào Phật tử người Hoa.

Quả thật niềm tin đích thực của Phật tử người Hoa là nhằm đến sự an lạc và giải thoát. Nắm bắt được tinh thần đó, cho nên cái đòi hỏi lớn nhất của các vị giảng sư với bí quyết là “chất liệu tu” chứ không đòi hỏi giảng thao thao bất tuyệt. Chính vì vậy nhóm giảng sư người Hoa đã phát nguyện dấng thân đến các đạo tràng thuyết giảng và cùng với Phật tử tu tập, chia sẻ những gì Phật tử chưa thông. Đây là nguyên nhân mà chúng tôi kết hợp với các vị “Trụ trì” để khai mở các đạo tràng và thành tựu một cách mỹ mãn. Chánh pháp là niềm tin chánh kiến của Phật tử ngày nay, các đạo tràng không còn mê tính dị đoan, không đốt giấy tiền vàng mả, nhà lầu, nhà kho nữa. Phật tử rất vui mừng không còn phụ thuộc vào xã hội cũ rít đầy chất liệu mê tính dị đoan. Chính vì vậy Giảng sư đoàn Trung Ương là niềm tin, là đuốc tuệ, là mạng sống tâm linh cho hàng triệu Phật tử.

lll. Kết Luận.

Tăng Ni, Phật tử người Hoa chắc chắn sẽ muốn nhìn thấy ngày mà các tư thất, các đạo tràng, các đường xá và những nơi chôn cất linh thiên sẽ không có tiếng kèn, tiếng trống của những bản nhạc thời đại mà chỉ nghe tiếng Nam Mô A Di Đà Phật, sẽ không thấy có hàng mả bay tung tóe trên đường mà biến thành những phần quà có ý nghĩa cấp phát cho các học sinh nghèo hiếu học, sẽ không còn thấy cảnh chồng say xỉn về đánh vợ, đập phá nhà cửa , nói năng thô tục mà chuyển thành những lời hay ý đẹp, chứa đựng Phật pháp vi diệu, sẽ không còn thấy cảnh trong Chánh Điện có người lắc quẻ xâm rồi đi tìm lời giải mà chỉ thấy toàn Phật tử miệt mài chăm chú lắng nghe những câu giáo lý nhiệm mầu. Xin kết thúc bài như sau:

“ Muốn biết nhân thế của mai sau

Trước mắt tô bồi cho lớp trẻ

Đường đi nghìn dặm đầy sóng gió

Có công mài sắc có ngày nên kim

Giấy tiền vàng mả thành tiền thật

Cấp cho người nghèo cả học sinh

Pháp Vương tại vị mê thành ngộ

Phật pháp ở đây, chẳng đâu xa” .

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ) 

TT THÍCH DUY TRẤN

Phó ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (THÍCH DUY TRẤN) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:14:25 +0000
TÌNH HÌNH SINH HOẠT HƯỚNG DẪN PHẬT TỬ CỦA HỆ PHÁI NAM TÔNG KINH http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6442-tinh-hinh-sinh-hoat-huong-dan-phat-tu-cua-he-phai-nam-tong-kinh.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6442-tinh-hinh-sinh-hoat-huong-dan-phat-tu-cua-he-phai-nam-tong-kinh.html  

Tình hình sinh hoạt ngành Hướng Dẫn Phật tử Trung ương của hệ Phái Nam Tông Kinh, gồm có:

1. Như chúng ta biết, ngoài các chư Tăng, các cư sĩ, Phật giáo cũng cần có thế hệ kế thừa để tiếp thu và phát triển hoạt động của Phật giáo trong tương lai. Một trong những lực lượng quan trọng của thế hệ này là các em đoàn sinh trong gia đình phật từ. Riêng phái Nam tông cũng có các tổ chức gia đình phật tử sinh hoạt như: SAKYAMUNI, GOTAMA, KASSAPA, SARRPUTA, ANANDA, … GĐPT thuộc phái Nam Tông cũng hướng đến cùng các tôn chỉ như của các GĐPT thuộc phái Bắc tông. Để phụ trách hướng dẫn, tổ chức các GĐPT. Sau năm 1975, một số gia đình phật tử thuộc Nam tông đã sinh hoạt trở lại nhưng vẫn còn tính tự phát, chưa được vào nề nếp và hiện đang dần dần được tổ chức quy cũ để phục vụ đạo pháp và dân tộc hiệu quả hơn.

Vai trò của các tổ chức gia đình phật tử: như đã nói trên đây, hình thức hoạt động GĐPT nhằm mục đích đào tạo lực lượng kế thừa cho các hoạt động Phật giáo. Các sinh hoạt này đóng vai trò hướng đạo để hướng dẫn các tổ chức GĐPT chưa chuyên sâu, nhưng là một hướng dẫn vô cùng quan trọng giúp khơi gợi sự yêu thích, quan tâm của các em đến các nội dung giảng dạy giáo lý của Đức Phật. Đây sẽ là nền móng vững chắc để nhờ đó các em được định hướng theo con đường Phật giáo về sau.

2. Về mặt xã hội, tổ chức GĐPT có thể nói cũng là một hạt nhân cho giáo dục xã hội, nơi đây các em sẽ được đào luyện thành những con người có nhân phẩm, thành những công dân tốt cho xã hội và quốc gia. Trong tình hình xã hội hiện đại khá phức tạp với bao cám dỗ đặt ra cho thanh thiếu nhi. GĐPT sẽ là một lá chắn giúp che chở cho các em tránh được những tệ nạn xã hội, hỗ trợ cách làm một học sinh ngoan, một công dân tốt. Điều này đã được chứng tỏ qua bao thế hệ đoàn viên gia đình phật tử đã là những yếu tố tích cực cho sự phát triển và ổn định của xã hội nói chung.

3. Các thành quả đã đạt được: Một trong những truyền thống gắn liền với Phật giáo nước nhà là sự gán bó giữa đạo pháp và vận mệnh dân tộc. Qua bao triều đại, chính thể, Phật giáo luôn đóng góp công sức của mình vào công cuộc dựng nước, bảo vệ đất nước. Ngày nay vẫn vậy, Phật giáo luôn là một tác nhân giúp duy trì mối đoàn kết quốc gia. Một trong những thành quả đáng ghi nhận của Ban Hướng Dẫn Phật Tử TW là đã kết nối thành công, các tông phái khác nhau của Phật giáo thành một khối đoàn kết, Phật tử Khmer, Phật tử Nam Tông Kinh, Phật tử Bắc tông, Phật tử khất sĩ, Phật tử cư sĩ, Phật tử thiểu số, Phật tử người Hoa. Trong buổi đại hội Phật giáo Tây nguyên và Miền Trung tổ chức vào năm 2009, Ban hướng dẫn Phật tử TW đã thành công trong việc tổ chức quy y cho hơn 1.000 Phật tử thuộc các nhóm thiểu số ở Tây nguyên, từ đó cải thiện cuộc sống tinh thần của các dân tộc thiểu số ở nơi đây, hỗ trợ phong trào bài trừ các tệ nạn xã hội vẫn phổ biến trong các dân tộc địa phương như, rượu, đa thê, mê tín , v..v…..

Các sinh hoạt tu học được thường xuyên hơn bằng các buổi lễ sám hối, nghe pháp, tu bát quan trai, thọ đầu đà vào các ngày rằm tháng giêng, tháng tư, lễ dâng y Kathina (đến rằm tháng 9 tháng 10).

Củng cố và phát triển sinh hoạt xã hội như: cứu trợ đồng bào nghèo khổ, tai nạn, thiên tai, bão lụt, giúp đỡ và góp phần xây dựng các hoạt động tình nghĩa, tình thương.

Từng bước xây dựng các tủ sách giáo lý tại chùa, tu viện để tín đồ nghiên cứu tu học.

Thực hiện các chủ trương của giáo hội PGVN và ban hướng dẫn phật tử kịp thời và hiệu quả hơn.

4. Thực hiện các biện pháp cụ thể để đảm bảo khả năng chuyên môn cũng như trình độ giáo lý của nhân sự hướng dẫn gồm các huynh trưởng và ban chấp hành chung. Tổ chức các khóa huấn luyện chuyên môn cũng như các khóa tu, đặt ra các yêu cầu cụ thể về kỹ năng sinh hoạt cũng như trình độ Phật học. Tổ chức các kỳ khảo hạch để nâng cao, công nhận khả năng hướng dẫn của các huynh trưởng. Tổ chức các kỳ thi để chứng nhận nâng cấp cho các em đoàn sinh.

5. Tạo mối gắn kết giữa các GĐPT và giới Tăng Ni có trình độ tu chứng để tạo cơ duyên cho các em được gần gũi với các bậc cao Tăng, vừa được nghe pháp quý ngài giảng dạy, vừa được hưởng ân đức qua phong thái, ngôn từ . Hình ảnh của quý ngài sẽ là nguồn động viên quý báu đến các em tinh tấn hơn trên con đường tu học. Thiết nghĩ hiện tại mối quan hệ cần thiết trên đây quá mờ nhạt, khó trở thành phương tiên tốt để nâng đỡ các trong các sinh hoạt Phật tử. Đây là một trong mục đích và yêu cầu hoằng pháp của Giáo hội. Mong thay sẽ có điều chỉnh về mặt Giáo hội để dẫn dắt các em được hiệu quả và thiết thực hơn.

Thiền học là một trong những hoạt động không thể thiếu của người tu Phật, nhưng hiện tại hầu như những nội dung sinh hoạt của GĐPT đều vắng bóng việc học thiền hoặc chỉ đặt ra một các hời hợt. Dĩ nhiên còn phải tùy thuộc vào lứa tuổi để chúng ta chọn những nội dung giảng dạy thích hợp, nhưng phải xác định đây là một hoạt động tốt quan trọng để tạo nền tảng vững chắc cho Phật giáo mai sau.

6. Kết luận:

Hoạt động của Gia đình Phật tử là hạt nhân quan trọng giúp củng cố và phát triển hoạt động của giáo hội cả hôm nay và cả mai sau. Bản thân của các giới lãnh đạo của tổ chức này cũng như các giới lãnh đạo của giáo hội cần quan tâm đúng mức để Phật giáo được mãi mãi là chỗ dựa tinh thần cho xã hội và của cả quốc gia./.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

Thượng Tọa Thích Hộ Chánh

Phó Ban Hướng dẫn Phật tử TW GHPGVN

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com ( Thích Hộ Chánh) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:11:01 +0000
NGHI LỄ PHẬT GIÁO NAM TÔNG GẮN LIỀN VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC KHMER http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6441-nghi-le-phat-giao-nam-tong-gan-lien-voi-van-hoa-dan-toc-khmer.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6441-nghi-le-phat-giao-nam-tong-gan-lien-voi-van-hoa-dan-toc-khmer.html

Phật giáo Nam tông đã trải tồn tại và phát triển 2554 năm, các Nghi lễ đều được tổ chức theo truyền thống Phật giáo và được cụ thể hóa phù hợp theo từng thời kỳ lịch sử Phật giáo nhất định và tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Nghi lễ Phật giáo Nam tông Khmer rất khác với Nghi lễ Phật giáo Bắc tông, nhưng cùng chung giáo lý. Theo dòng lịch sử, từ thế kỷ XIII, Phật giáo Nam tông là chổ dựa tinh thần của cộng đồng dân tộc Khmer.

Hiện nay, cộng đồng dân tộc Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, tại tỉnh Cà Mau nói riêng là xã hội được tổ chức theo quy mô của đạo Phật theo truyền thống Phật giáo Nam tông Khmer. Theo quan niệm chung của cộng đồng dân tộc Khmer, ngôi chùa là trung tâm văn hóa, nơi học Kinh, học chữ, học giáo lý làm người, nơi lưu giữ các pho kinh điển đạo Phật và cùng là nơi sinh hoạt văn hóa, giải trí vui chơi của chư Tăng và đồng bào tín đồ Phật tử tín đồ Phật tử, đồng bào dân tộc Khmer. Cho nên đời sống tinh thần cũng như nét văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer gắn chặt với giáo lý đạo Phật, sắc thái văn hóa mang dân tộc mang đậm dấu ấn đạo Phật, được thể hiện rõ ở các phong tục, tập quán, lối sống, phương thức ứng xử, nghệ thuật và tư duy.

Các nghi lễ mang tính trang trọng của Phật giáo Nam tông Khmer như: Phật đản, nhập hạ, ra hạ, dâng y, thọ giới, xuất gia, thọ đầu đà … Mỗi nghi thức nghi lễ đều mang ý nghĩa và tính chất khác nhau, tính truyền thống dân tộc vẫn gìn giữ và lưu truyền từ xưa đến nay. Ngoài ra các nghi thức lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer đều thể hiện theo nghi thức của đạo Phật như tết, lễ cúng trăng, cúng ông bà, đua ghe ngo … Nói chúng mọi nghi thức hội, lễ của đồng bào dân tộc Khmer đều có chư Tăng, chùa chiền hiện diện. Các nghi thức trong hội, lễ thường gắn liền với truyền thống Phật giáo nên đồng bào dân tộc Khmer luôn giữ gìn và truyền tụng cho con cháu như lễ đắp núi, đua ghe ngo, cúng trăng … Đây là một vài nét văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Khmer.

Hội, lễ theo Phật giáo:

- Lễ Phật đản được tổ chức vào ngày Rằm tháng 4 (theo Mahasankaran – lịch của người Khmer), Phật giáo hệ phái bắc tông là ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch.

- Lễ nhập hạ, được bắt đầu từ 15/6 đến 15/9 âm lịch.

- Lễ đặt cơm vắt (Boonh phchum bônh), trước kia lễ này kéo dài 15 ngày, từ ngày 16 đến ngày 30 tháng 8 âm lịch.

- Lễ ra hạ được diễn ra chiều ngày 14 đến trưa 15/9 âm lịch.

- Lễ dâng y thường được tổ chức một ngày một đêm, trong khoảng 29 ngày kể từ ngày 16/9 đến 15/10 âm lịch.

- Lễ hội không định kỳ.

- Lễ kiết giới xaayma.

- Lễ an vị Phật.

Các lễ hội Phật giáo và lễ hội dân gian của đồng bào dân tộc Khmer đã được cải tiến theo chiều hướng tích cực, bằng cách rút ngắn thời gian so với trước đây sao cho phù hợp với sự phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng, nhưng nghi thức và nội dung không thay đổi, vẫn giữ tính truyền thống của nó.

Tóm lại, nét văn hóa dân tộc Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long gắn liền với Phật giáo Nam tông Khmer. Về nghi lễ cũng gắn liền với văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer và các ngày lễ hội dân gian của đồng bào dân tộc Khmer. Việc tiến tới thống nhất các ngày lễ trọng của Phật giáo Việt Nam, phải theo từng hệ phái và phù hợp với tình hình thực tế cũng như sự tín ngưỡng tôn giáo của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam./.

 

TT. Thạch Hà

UV. HĐTS GHPGVN

Phó Trưởng ban thường trực BTSPG tỉnh Cà Mau

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

alt

 ]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Thạch Hà) frontpage Tue, 27 Jul 2010 16:06:02 +0000
Tin vắn Phật giáo nước ngoài trong tuần (từ 18 - 25/7/2010) http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6440-tin-van-phat-giao-nuoc-ngoai-trong-tuan-tu-18-2572010.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6440-tin-van-phat-giao-nuoc-ngoai-trong-tuan-tu-18-2572010.html Chính quyền Bangkok và Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng gần đây đã đẩy mạnh kế hoạch bảo vệ văn hóa phẩm Phật giáo, yêu cầu các công ty, xí nghiệp, đại lý kinh doanh phải có đủ tiêu chuẩn đảm bảo việc mua bán văn hóa phẩm Phật giáo và nhắc nhở dân chúng cần thận trọng kỹ càng hơn khi mua đồ dùng này

 

 

Thái Lan: Chính quyền Bangkok có kế hoạch bảo vệ văn hóa phẩm Phật giáo

 

Chính quyền Bangkok và Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng gần đây đã đẩy mạnh kế hoạch bảo vệ văn hóa phẩm Phật giáo, yêu cầu các công ty, xí nghiệp, đại lý kinh doanh phải có đủ tiêu chuẩn đảm bảo việc mua bán văn hóa phẩm Phật giáo và nhắc nhở dân chúng cần thận trọng kỹ càng hơn khi mua đồ dùng này. Nếu phát hiện có những hành vi lừa đảo mua bán những vật phẩm trên, thì sẽ bị các cơ quan liên ngành xử phạt tối đa đến 50.000 baht theo pháp luật, nếu tình tiết nghiêm trọng có thể bị phạt cấm kinh doanh trong vòng 6 tháng.

 

Bộ trưởng Hội đồng nhà nước Ông-an, phó Thị trưởng Bangkok Mã-lệ-ni và Thư ký Hội đồng bảo vệ người tiêu dùng quốc gia Ni-lạc, đã có chuyến thị sát đến cửa hàng văn hóa phẩm Phật giáo gần chùa Ba-ông-ni-vệ, bao gồm điều tra về vật dụng đồ dùng cúng Phật, cũng như kiểm tra việc buôn bán các đồ dùng sinh hoạt Phật giáo của đại lý này. Phó Thị trưởng nói: “ Ngày 26 và 27/7 là hai ngày lễ lớn, đó là lễ Tam bảo và An cư kiết hạ của chư Tăng PG Thái Lan. Các thiện tín PG thường mua đồ cúng Phật và những đồ dùng Phật giáo để tiện việc sử dụng. Chính phủ y theo mô thức quản lý vật phẩm PG từ đầu năm. Các thương phẩm cần xuất trình hóa đơn, ghi rõ số lượng và mẫu hàng hóa, không được bày bán đồ hết hạn sử dụng. Nếu phát hiện đồ cúng Phật, hoặc vật phẩm không đạt tiêu chuẩn sử dụng, không có hóa đơn, hoặc có hành vi lừa đảo khách hàng thì cơ quan chức năng theo đó sẽ xử phạt”, qua đó bà còn cung cấp đường dây nóng và địa chỉ, email của đại diện Hội đồng quốc gia bảo vệ người tiêu dùng Thái Lan cho người dân. (udnbkk.com)

 

tuantin 1.jpg

 

tuantin 2.jpg

 

tuantin 3.jpg

 

Malayxia: Tổ chức Đại hội trai Tăng toàn quốc 2010

 

Qũy hội phát triển Phật giáo Malayxia, sáng 18/7 đã tổ chức “Đại hội trai Tăng cúng Phật toàn quốc 2010” với sự tham dự của các thành viên quốc hội, các quan chức địa phương và dân chúng. Pháp hội trai tăng toàn quốc mời 300 vị tu sĩ đến từ truyền thống Phật giáo Bắc truyền và Nam truyền, tổ chức tại quảng trường thời đại Penang.

 

Tại lễ hội cúng dường trai Tăng, ông Huang Jia Quan- chủ tịch Qũy hội phát triển Phật giáo Malayxia nhấn mạnh: “Chỉ có hành vi then chốt, hợp lễ nghi là bảo hộ Tăng già và kính Tăng thì mới có thể trồng phước điền ở người tu hành, nhằm thêm phước và tăng huệ”. Ông còn cho rằng với những vị khách giả dạng tu sĩ khất thực với hình thức bán tranh tượng Phật và chuỗi hột đã phá hoại hình ảnh sủng bái tốt đẹp của Phật tử đối với tăng đoàn. “Đại hội còn có ý nghĩa khuyến khích dưỡng sanh bằng ăn chay, kế đến là tập hợp quần chúng để tận lực vì sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của Phật giáo”, ông nói thêm. Phó chủ tịch Qũy hội phát triển Phật giáo Malayxia- Chen Ying Chun nói: “ Hoạt động này nhằm tạo quỹ học bổng cho các tu sĩ trẻ, cúng dường phí thuốc men chữa bệnh cho các nhà sư và tài trợ các chùa vùng sâu vùng xa, ngoài ra còn tán trợ hoạt động đề cao tố chất của các học Tăng thanh niên.”(Theo kwongwah.com.my)

 

Trung Quốc: Phát hiện tấm bia cổ có lịch sử hơn 1300 năm

 

Theo Tân hoa xã Nam Kinh, ngày 22/7, các nhân viên khảo cổ Cục văn hóa TP Liên Vân Cảng đã phát hiện một tấm bia đá có niên đại từ năm 696. Tấm bia có chiều rộng 16,5 cm; cao 47 cm, trên mặt có khắc dòng chữ: “Ngày 6/2 năm Thông Thiên vạn tuế, đệ tử Phật – Tôn Phú Nhạc kiến tạo chùa Đạo Thông Đông Hải, trên đỉnh đá có khắc sáu chữ lớn: “ Chùa Thiền Hưng, chốn liễu vọng”. Qua khảo cứu sơ bộ, năm Thông Thiên vạn tuế là thời đại nữ hoàng Võ Tắc Thiên, tức năm 696, đến nay đã hơn 1300 năm. Việc phát hiện tấm bia này là hiện vật khoa học quan trọng để nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo và lịch sử thư pháp.(Theo js.xinhuanet.com)

 

Đài Loan: Tôn giáo phát triển nhanh với mật độ cao

 

Thời báo Trung ương Đài Loan ngày 24/7 đưa tin, việc tôn giáo phát triển rầm rộ tại Đài Loan, hiện nay xứ Đài có tất cả 27 tôn giáo, tổng cộng có 15.118 ngôi tự viện, đền, miếu và các giáo đường, trung bình mỗi huyện, thành có 605 cơ sở; mỗi thôn làng, thị trấn có 41 tự viện. Bộ nội chứng Đài Loan cho biết, mật độ tự viện cao và hiếm thấy so với những nước khác trên thế giới. Theo tư liệu của Bộ Nội chứng, đến cuối năm 2009, Đài Loan có 11.796 tự viện, tu viện Đạo giáo chiếm nhiều nhất 78,4%, Phật giáo đứng thứ nhì  là 19,6%. tính theo khu vực huyện Đài Nam, Cao Hùng, Bính Đông hơn 1000 tu viện, chiếm 30%.Riêng giáo hội, giáo đường có 3.322 cơ sở, tăng lên 187 cơ sở so với 10 năm gần đây. Theo phân chia tôn giáo thì Cơ đốc giáo có nhiều tự viện nhất 76,4%, thứ nhì là Thiên chúa giáo 22,5%tính từ khu vực Tp Đài Bắc, huyện Hoa Liên, huyện Đài Đông, đạt 30%..

 

Quan sát tình trạng phân bố chùa miếu và giáo hội, có thể phát hiện Phật giáo, Đạo giáo hưng thinh hơn tại miền Nam, Cơ Đốc giáo và Thiên chúa giáo thì thịnh hành hơn ở phía Bắc và phía Đông. Nhìn vào số lượng tín đồ quy y của các tôn giáo gởi thông báo lên các cơ quan chính phủ, số lượng tín đồ các tôn giáo cuối năm 2009 là 1.540.709 người; trong đó, Đạo giáo có tín đồ nhiều nhất ước chừng  790.000 người, thứ hai là Cơ đốc giáo 380.000 người, kế đến Phật giáo và Thiên chúa giáo gần 200.000 người. (Theo cna.com.tw)

 

Campuchia: Thị trưởng và phu nhân dự lễ khánh thành Thiền đường chùa Hồng-lâm-sa-lạp-loan

 

Sáng 19/7, Thị trưởng và phu nhân Tp Kim Biên đã đến dự lễ khánh thành thiền đường chùa Hồng-lâm-sa-lạp-loan. Tại đây, ngài thỉnh cầu tăng lữ tự viện cần nghiêm trang chấp hành những quy định giới luật của Phật giáo. “Các vị Tăng trẻ cần siêng năng tu học Phật pháp, tránh để gây ra những tiếng xấu cho nhà Phật”, ông nói. Từ năm 2006 đến nay, vợ chồng thị trưởng và con trai đã nhiều lần cúng dường, quyên góp công đức để giúp việc kiến tạo chùa chiền.

 

Phật giáo tại Campuchia có lịch sử hơn 2000 năm, đạo lý và giáo nghĩa Phật giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn của người dân. Campuchia hiện có khoảng 95% dân số theo tín ngưỡng Phật giáo. (sinchew-i.com)

 

Hải Châu tổng hợp  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Hải Châu) frontpage Tue, 27 Jul 2010 15:55:05 +0000
Thông điệp không sợ hãi trong việc xây dựng đất nước thời Lý http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-viet-nam/6439-thong-diep-khong-so-hai-trong-viec-xay-dung-dat-nuoc-thoi-ly.html http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-viet-nam/6439-thong-diep-khong-so-hai-trong-viec-xay-dung-dat-nuoc-thoi-ly.html
alt
Tượng Trần Nhân Tông trong khuôn viên chùa Bái Đính

 

 

Khi nhớ một ngàn năm Thăng Long không thể không nghĩ đến một nền tảng tinh thần trong việc xây dựng đất nước thời Lý, đó là tinh thần không sợ hãi bằng quán chiếu thể hiện qua bài Thị đệ tử của Thiền sư Vạn Hạnh. Bài thơ như sau:

 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

 

Nhà viết sử Phật giáo Nguyễn Lang dịch:

 

Thân như sấm chớp, có rồi không

Cây cối xuân tươi, thu héo hon

Nhìn cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi

Thịnh suy: ngọn cỏ giọt sương hồng.

 

Khi đọc bài thơ trên, thường chúng ta chỉ để ý đến những khái niệm về vô thường, vô ngã. Khái niệm vô thường, vô ngã được đề cập nhiều trong các kinh điển đạo Phật, và bất cứ người học Phật nào cũng đều hiểu về khái niệm cơ bản đó.

 

Với một người đã hít thở được thực tại như Thiền sư Vạn Hạnh, những lời nhắn gởi của ngài, nhất là những lời nhắn gởi sau cùng, không thể chỉ là một bài học triết lý hay những khái niệm từ chương. Chắc chắn ngài biết rõ rằng, những khái niệm triết lý thì ai cũng có thể học và hiểu, nhưng việc giải thoát tâm ra khỏi sự ràng buộc của sợ hãi là điều không phải ai cũng có thể làm được. Do đó, lời nhắn gởi sau cùng của ngài qua bài thơ trên phải là tinh thần không sợ hãi bằng phép quán chiếu được nhấn mạnh trong câu "Nhìn cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi".

Qua lịch sử, chúng ta cũng biết rằng Thiền sư Vạn Hạnh là một trong những người sắp đặt kế hoạch cho việc thiết lập triều đại nhà Lý, xây dựng cho triều đại đó nói riêng và cho đất nước nói chung một nền móng vững chắc dài lâu. Kế hoạch đó đã được nung nấu từ Thầy, Tổ của ngài(1). Rõ ràng, trong hành hoạt, Thiền sư Vạn Hạnh không phải là người của một ngôi chùa, một Tổ đình hay một dòng phái, mà là người của thời đại, của toàn dân.

 

Do đó, thông điệp "không sợ hãi" của ngài cũng phải là một thông điệp chung cho thời đại và cho toàn dân.

 

doily-1.jpg

 

Lá đề in nổi hình 2 con rồng chầu mặt trời, niên đại  nhà Lý

 

Tinh thần không sợ hãi là nền tảng cho sự vươn lên của cá nhân cũng như tập thể. Khi một con người hay tập thể sống trong sự sợ hãi, những hành động và kết quả tiêu cực chắn chắn không thể tránh khỏi. Cá nhân sống trong sự sợ hãi, mất niềm tin, có thể tạo ra những hành động không kiểm soát, hại người, hại vật, hại mình, vi phạm pháp luật, chà đạp công lý, gây xáo trộn trong xã hội. Xã hội sống trong sợ hãi sẽ mất đi sự an bình, tội phạm nảy sinh, đạo đức xuống dốc, có khi còn đem nguy cơ đến cho thế giới. Sợ hãi thường đến từ sự không hiểu biết, và ngược lại, sợ hãi cũng nhận chìm con người vào sự u mê, tối tăm.

 

Một điển hình về hậu quả của tâm lý sợ hãi trong thời hiện đại, như Frances Moore Lappé đề cập, là sự sợ hãi của người Tây phương về tình trạng thiếu hụt. Tâm lý sợ hãi này đã đưa đến tình trạng không dừng lại được trong việc tranh đua khai thác, tranh đua cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng, nguyên nhân chính cho sự tàn phá môi trường, tạo ra tình trạng hâm nóng toàn cầu hiện nay.

 

Và dựa trên tinh thần sợ hãi của con người, những hăm dọa về ngày tận thế, về sự trừng phạt đã tạo ra những ám ảnh tiêu cực lên nhiều người Tây phương trong nhiều thế hệ.

 

Tương kính chứ không sợ hãi thụ động là một đặc tính của người Việt. Do đó việc gán ghép ông Trời của Việt Nam với một Thượng đế toàn quyền sinh sát như xảy ra gần đây hoàn toàn không đúng và không chính trực. Văn hóa Việt Nam không có chỗ cho sự sợ hãi thụ động trước thần linh, dù thần linh đó là ông Trời. Tinh thần đó thể hiện trong câu chuyện dân gian "Con cóc là cậu ông Trời", hoặc tư tưởng "Có trời mà cũng có ta", "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều"… qua lời của cụ Nguyễn Du, và trong nhiều giai thoại cũng như chuyện dân gian khác. Điều này còn nói lên tầm nhìn của người Việt. Từ xưa, người Việt đã có một nhân sinh quan lạc quan, bình đẳng, kết nối và chia sẻ, tự trọng và biết tôn trọng.

 

Với đạo Phật, sợ hãi là một trạng thái tiêu cực của tâm thức, dù dưới hình thức nào. Người Phật tử tôn kính Đức Phật bằng cách nhận ra sự kết nối bình đẳng giữa Phật và mình và tất cả chúng sanh.

 

Thiền sư Quảng Nghiêm thời Lý trong bài Thị tịch có hai câu thơ nói lên khí khái của người tu Phật:

 

Nam nhi tự hữu xung thiên chí,

 

Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.

 

(Làm trai có chí tung trời thẳm,

 

Chớ bám Như Lai một lộ trình).

 

Theo đạo Phật, lòng sợ hãi phát xuất từ sự không hiểu biết, từ vô minh. Vì vô minh, con người nhìn lầm sợi dây thành con rắn và phát sinh sợ hãi.

 

Do đó, một tính chất nền tảng của đạo Phật là sự nhận thức tỉnh táo.

 

Kisagotami xuất thân từ một gia đình nghèo ở Savathi. Lớn lên, bà được gả cho một gia đình giàu có. Sau khi sinh được một người con trai, bà được gia đình nhà chồng nâng niu và quý trọng. Nhưng cậu con trai qua đời khi mới vừa chập chững biết đi. Kisagotami quá đau buồn sinh mất trí. Bà ẵm thây người con trai đi đến từng nhà xin thuốc cứu con. Rồi một người chỉ bà tìm đến Ðức Phật.

 

Khi bà cầu xin Ðức Phật cứu sống con mình, Ngài bảo bà hãy đi tìm một hạt cải trắng từ một nhà chưa từng có người chết. Bà lập tức đi đến từng nhà để hỏi và xin hạt cải trắng. Nhưng tất cả mọi nhà bà ghé qua, không nhà nào chưa từng có người chết. Bà tỉnh ngộ, nói với xác người con trai trên tay:

 

"Này con, mẹ tưởng rằng cái chết chỉ đến với một mình con; nhưng không phải vậy. Nó đến với tất cả mọi người."

 

Rồi bà ẵm thây người con, nhẹ nhàng đem đặt trong rừng, rồi trở lại chỗ Ðức Phật, xin Phật cho bà được xuất gia. Bằng sự chuyên cần tu tập, cuối cùng bà đã chứng quả A la hán.

 

Nếu chủ trương một tôn giáo thần quyền, dùng sự sợ hãi để áp chế và điều khiển người khác, Đức Phật đã nhân sự xuống dốc tinh thần do đau khổ phát sinh để nhồi vào tâm người đàn bà kia một sự sợ hãi, áp đặt vào đó một niềm tin mù quáng. Nhưng Đức Phật đã hành động hoàn toàn ngược lại. Ngài đã khai mở nhận thức tỉnh táo cho bà Kisagotami để bà tự cứu chữa cho mình.

 

Sợ hãi sinh ra từ vô minh và sợ hãi cũng bị tiêu diệt khi không còn vô minh. Cũng có nghĩa là sợ hãi phát sinh khi con người bám víu vào ngã và sợ hãi biến mất khi con người không còn bám víu vào ngã, tức vào tham, sân, si, mạn, nghi. Sợ hãi phát triển trên tham, sân, si, mạn, nghi, và ngược lại, tham, sân, si, mạn, nghi phát triển trên sợ hãi.

 

Phân tích về sợ hãi, Chogam Trungpa nói:

 

"Một trong những trở ngại chính cho sự không sợ hãi là những thói quen làm cho chúng ta đánh lừa bản thân. Thông thường, chúng ta không để cho mình chiêm nghiệm về bản thân một cách trọn vẹn. Điều đó có nghĩa là chúng ta sợ phải đối diện với chính mình. Ý thức về cái cốt lõi sâu thẳm nhất của sự hiện hữu của mình là điều khó khăn nhất đối với nhiều người. Nhiều người cố gắng đi tìm một con đường tâm linh ở đó họ không phải đối diện với chính họ" (Đối diện với chính mình).

 

Theo đó, tinh thần không sợ hãi là tinh thần dám đối diện, dám nhìn thẳng. Nhìn thẳng vào chính mình cũng như nhìn thẳng vào thực tại.

 

Và trong tinh thần không sợ hãi đó, khác với những tôn giáo khác trên thế giới luôn luôn né tránh những khám phá mới của khoa học, những tiến bộ thực tiễn của loài người, đạo Phật có một thái độ ung dung và tỉnh táo trong đối thoại và tìm hiểu. Đó cũng là tinh thần không sợ hãi của người trí thức, người đi tìm cái chân, thiện, mỹ với tấm lòng chân thật, ngay thẳng, nghiêm túc và kiên cường.

 

Trở về với thời đại của Thiền sư Vạn Hạnh. Chúng ta thấy các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê là những triều đại đầy bất ổn và dĩ nhiên lòng người trong thời buổi đó cũng mang đầy nỗi bất an. Việc dùng sấm ký để tạo lòng tin, xây dựng ý chí, một việc không mấy thích hợp với đạo Phật, một tôn giáo chú trọng vào nhận thức tỉnh táo để nhìn thẳng vào thực tại, vào sự việc đang xảy ra, của các Thiền sư, các vị cao Tăng trong giai đoạn này cho chúng ta thấy lòng tin của con người trong thời buổi đó đã xuống thấp.

 

Lòng tự tin của Ngô Quyền mà chúng ta cảm nhận qua bài Dự đại phá Hoằng Thao chi kế (Bày kế đánh tan quân Hoằng Thao) bị mai một sau loạn Mười hai sứ quân. Lòng tự tin của Đỗ Pháp Thuận qua bài Đáp Quốc vương quốc tộ chi vấn (Trả lời nhà Vua khi Vua hỏi về ngôi nước) một lần nữa bị lung lay do hành động tàn ác của Lê Long Đỉnh. Và Thiền sư Vạn Hạnh đã phải sử dụng sấm ký để khôi phục lại lòng tin của con người, của thời đại.

 

Việc biết trước điều xảy ra có thể nằm trong khả năng của những con người đặc biệt, nhưng sử dụng khả năng đó trong đời sống thế tục có vẻ không thích hợp với đạo Phật. Do đó, khi Vạn Hạnh, một người sống với chân lý vô trụ, "không nương tựa vào nơi có thể nương tựa, cũng không nương tựa vào nơi không thể nương tựa"(2), sử dụng nó, chúng ta thấy sự cần thiết của việc xây dựng lại lòng tin trong giai đoạn lịch sử này.

 

Nói như Lý Khôi Việt, "Sau đêm dài man rợ, rùng rợn của thời đại Bắc thuộc, sau thời kỳ loạn lạc suy tàn của ba chế độ pháp trị và bạo trị ngắn ngủi Ngô, Đinh, Lê, tất cả đều phải được làm lại, tất cả đều phải được bắt đầu lại, đó là sứ mạng của thời đại. Trước họa nội chiến, trước nạn ngoại xâm, trước chế độ độc tài, tàn bạo, dân tộc cần được cứu nguy, đất nước cần được quang phục, con người cần được giải phóng. Đó là tiếng kêu, đó là nhật lịnh của lịch sử. Dưới sự cai trị bạo ác của chế độ Lê Long Đỉnh, dân tộc ta bị kéo lê lết, lầm lũi đi xuống vực thẳm, họa nội chiến chực xô đẩy dân tộc xuống đầm lầy, nạn ngoại xâm chực đạp đầu dân tộc xuống bùn đen" (Thiền Sư Vạn Hạnh và Sự nghiệp Việt Nam).

Và khi Lý Công Uẩn lên ngôi sau một thời gian loạn lạc liên miên, chính thể mới vừa bắt đầu đặt lại nền móng, chắc chắn những vấn đề xã hội và chính trị không thể có ngay một sự ổn định hoàn toàn. Khi sự bất ổn đó cộng thêm với lòng người bất ổn thì sẽ đem đến những hậu quả trầm trọng. Thiền sư Vạn Hạnh đương nhiên phải thấy rõ điều đó.

 

Trong tình trạng xã hội như vậy, chúng ta thấy tinh thần không sợ hãi thông qua sự quán chiếu là một nhu cầu cần thiết.

 

Tính chất vô thường, vô ngã của mọi pháp, mọi hiện tượng là một tính chất phổ quát không chừa một con người, một Thánh thần, một Thượng đế hay một sự vật nào. Tính chất đó được Đức Phật nói ra cho con người ở mọi nơi, mọi thời đại để giải thoát họ ra khỏi mọi vướng chấp, đưa tâm thức ra khỏi mọi bám víu, đạt đến Niết bàn tự do tuyệt đối. Việc nhấn mạnh của Vạn Hạnh đối với tính chất "không sợ hãi", một trong nhiều tính chất của Niết bàn, nói lên phần nào sự ám ảnh của thời đại.

 

Vì không nhìn thẳng vào thực tại, vào sức mạnh đoàn kết dựa trên bề dày văn hóa và lịch sử của dân tộc, chúng ta thường mặc cảm với sức mạnh bên ngoài. Giờ đây phải là lúc vực dậy tinh thần không sợ hãi nền tảng của dân tộc.

 

Ba phương diện cần thiết cho một công cuộc xây dựng tốt đẹp là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Để xây dựng nhân hòa, xây dựng lòng tin để thiết lập tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của toàn dân, một trong những phương tiện đầu tiên của Vạn Hạnh là dùng sấm ký, dù không thích hợp với đạo Phật như đã nói ở trên. Việc tu tập Mật giáo trong truyền thống Thiền Mật song tu của các Thiền sư phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã mang lại khả năng siêu nhiên nơi các vị Thiền sư, nhưng áp dụng khả năng này vào việc thế sự là một điều bất đắc dĩ.

 

Do đó, sau khi đã tạo dựng lại phần nào lòng tin của nhân dân vào sức mạnh của dân tộc thông qua triều đình do Lý Công Uẩn lãnh đạo, đất nước dần dần ổn định, nhu cầu không sợ hãi đúng nghĩa và đúng Chánh pháp phải được đem ra áp dụng để xây dựng một đất nước hùng cường có nền tảng và dài lâu.

 

Hơn ai hết, Thiền sư Vạn Hạnh biết rằng sấm ký không thể sử dụng để xây dựng sự bền vững lâu dài, vì theo đạo Phật, đó không phải là trí tuệ chân thật. Đã đến lúc đất nước cần một thứ trí tuệ chân thật, vững chãi để xây dựng một nền tảng vững chãi. Đó là trí tuệ của Phật giáo Đại thừa, trí tuệ gắn liền với từ bi để nở ra tinh thần không sợ hãi.

 

Qua thơ văn thời Lý - Trần, chúng ta thấy từ khi dời đô về Thăng Long, điểm nhấn mạnh của các Thiền sư cũng như vua quan là tinh thần Bát nhã, hay trí tuệ chân thật. Trí tuệ đó là một thứ trí tuệ không tách rời với từ bi. Vì vậy, trí tuệ đó cũng là trí tuệ không sợ hãi. Không sợ hãi và ban cho sự không sợ hãi là hạnh của Bồ tát Đại thừa.

 

Không sợ hãi ở đây bao gồm hai phương diện: Tỉnh táo đối diện và ứng phó không vọng động trước những thử thách, và không do dự trong việc cứu thế độ nhân, phò nguy trừ bạo. Và chúng ta thấy trong suốt lịch sử Việt Nam, đặc biệt dưới hai thời Lý-Trần, các Thiền sư đã không cố bám vào đời sống bình an nhàn hạ khi đất nước cần. Có thể tinh thần này được nhen nhúm từ Lục độ tập kinh được viết ra và truyền tụng trong thời gian mất nước.

 

"Chữ nhân theo lời Phật dạy do đó không chỉ áp dụng cho cá nhân, mà là một chính sách sáng suốt để trị nước, dùng điều nhân để làm hoài bão xây dựng một quốc gia lý tưởng dựa trên lòng thương về năm giới và mười điều lành, và được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Lục độ tập kinh I. Sự lặp đi lặp lại này thể hiện một mối quan tâm đặc biệt của các thế hệ người Việt Nam thời Lục độ tập kinh đối với vấn đề xây dựng một đất nước bền vững có khả năng giữ nước, không còn để mất nước nữa. Để giữ nước, phải dùng đến lòng nhân, như trong truyện 11, tờ 6a25 ghi: "Lấy nhân trị quốc" (trị quốc dĩ nhân); hay truyện 9, tờ 5a12-13 viết: "Lấy năm giới mười lành làm quốc chính" (ngũ giới thập thiện dĩ vi quốc chính); mong mỏi có được: "Vua nhân, tôi trung, cha nghĩa, con hiếu, chồng tín, vợ trinh" (quân nhân, thần trung, phụ nghĩa, tử hiếu, phu tín, phụ trinh), như truyện 70 tờ 37a24-25; "theo trời làm điều nhân, không giết dân mạng, không tham bậy làm khổ dân đen, kính người già như cha mẹ, thương dân như con, cẩn thận thực hành giới răn của Phật, giữ đạo cho đến chết". (Tắc thiên hạnh nhân, vô tàn dân mệnh, vô cẩu tham khốn lê thứ, tôn lão nhược thân, ái dân nhược tử, thận tu Phật giới, thủ đạo dĩ tử)(theo truyện 30, tờ 18a6-8, Lê Mạnh Thát).

 

Như chúng ta được biết, Thiền sư Vạn Hạnh thuộc dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tu ở chùa Lục Tổ. Lịch sử ghi lại: "Vạn Hạnh thiền sư ở chùa Lục Tổ, thuở nhỏ ông đã khác thường, thông hiểu ba môn học, nhưng coi công danh phú quý lạt lẽo, năm 21 tuổi xuất gia với thầy Định Huệ, theo học thiền ở chùa Lục Tổ, ngoài giờ phục vụ, học hỏi quên mệt mỏi. Sau khi tu hành đắc đạo, nói câu nào ắt thành lời sấm".

Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi là đệ tử được ấn chứng của Tam tổ Tăng Xán. Tuy nhiên, bên cạnh sự giác ngộ được trao truyền từ Tam Tổ, ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi còn có khuynh hướng Mật giáo. Hai quyển kinh được ngài dịch và dĩ nhiên với mục đích dạy dỗ là kinh Tượng đầu và kinh Tổng trì. Kinh Tượng đầu là kinh nói về chỗ trụ tâm của Bát nhã, đó là Vô trụ, nền tảng của thiền Đông độ; và kinh Tổng trì là kinh về Mật giáo. Tinh thần Thiền Mật song tu này đã gắn liền với vận mệnh của đất nước.

 

Nối chí tiền nhân, Vạn Hạnh, ngoài việc là một cao tăng tu hành đắc đạo, đã xắn tay áo thực hành hạnh Bồ Tát theo quan điểm Việt Nam thể hiện qua Lục độ tập kinh để làm tròn bổn phận một công dân, xây dựng một quốc gia lý tưởng.

 

Trí tuệ đạo Phật Việt Nam được Thiền sư Vạn Hạnh vận dụng để thiết lập một nền chính trị, văn hóa, xã hội độc lập và tốt đẹp làm nền tảng cho sự tồn tại dài lâu của đất nước. Trí tuệ đó được vận dụng vào đời sống hiện thực qua tinh thần "Mặc cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi".

Không sợ hãi của Vạn Hạnh nói riêng và đạo Phật nói chung đặt nền tảng trên tinh thần vô trụ của Bát nhã.

 

Và chúng ta thấy những hành động của Thiền sư Vạn Hạnh luôn luôn được quyết định trên tinh thần không sợ hãi đó.

 

Từ thời Lê Đại Hành, Thiền sư Vạn Hạnh đã làm cố vấn cho nhà vua. Với những lời khuyên tỉnh táo và tự tin của ngài, bờ cõi phương Bắc cũng như phương Nam của đất nước đã được giữ yên.

 

Sự quyết định dứt khoát trong tinh thần không sợ hãi đó của Thiền sư Vạn Hạnh thể hiện hùng hồn qua việc sắp đặt cho Lý Công Uẩn lên ngôi và qua việc dời đô về Thăng Long. Đưa Lý Công Uẩn lên ngôi là thực hiện một cuộc cách mạng lớn, dời đô về Thăng Long là bắt đầu một chiến lược lớn. Đó là hai công trình lớn trong lịch sử của dân tộc.

 

Sau khi vua Lê Đại Hành mất, Lê Long Đỉnh cướp ngôi anh rồi thi hành chính sách bạo ngược. Ngài Vạn Hạnh lúc đó không giúp gì cho triều đình nhưng vẫn âm thầm sắp xếp kế hoạch để đưa đất nước thoát khỏi bước điêu linh. Kế hoạch đó là đưa Lý Công Uẩn lên làm vua. Công cuộc này không phải là một công việc dễ dàng trong một xã hội đầy bất ổn. Nếu không có một quyết tâm sắt đá, không có một ý chí kim cương thì không dễ gì theo đuổi đến cùng. Đặc biệt là quyết tâm sắt đá, ý chí kim cương đó không phát xuất từ hận thù, tham vọng hay từ tinh thần phe nhóm. Nó phát xuất từ Từ bi và Trí tuệ, là lòng thương không ngăn ngại và cái thấy không phân biệt.

 

"Khi làm như thế, Thiền sư Vạn Hạnh không phải làm vì Phật giáo, vì thời đó, qua ba chế độ độc lập Ngô, Đinh, Lê thì Phật giáo đã là Quốc giáo ở Việt Nam, rõ ràng Thiền sư đã làm vì dân tộc, vì muốn chuyển hóa xã hội bạo trị thành một xã hội đức trị, biến một quốc gia Việt Nam mong manh, suy vi thành một quốc gia Việt Nam hùng cường, hưng thịnh. Thiền sư đã ra tay hành động, vừa là để tránh cho dân tộc khỏi rơi vào vực thẳm, khỏi trầm luân trong đầm lầy, vừa để xây dựng trên đống tro tàn, gạch vụn đổ nát của thời Bắc thuộc và thời chiến tranh, loạn lạc, độc tài, bạo trị, một lâu đài Việt Nam nguy nga, tráng lệ, một sự nghiệp Việt Nam trường tồn bất tử ngàn năm." (Lý Khôi Việt, Thiền sư Vạn Hạnh và Sự nghiệp Việt Nam)

Từ thông điệp "không sợ hãi" của một người dựng nên một triều đại, đã sản sinh ra một thời đại không sợ hãi, với những con người không sợ hãi.

 

Chẳng những con người thời đó không sợ hãi trong những trận thư hùng trên chiến trường, mà còn không sợ hãi trong những quyết tâm xây dựng một nền văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội độc lập và lành mạnh, trong việc thân dân, gần gũi với dân, trong những công cuộc bình định, mở mang bờ cõi.

 

Tinh thần không sợ hãi đó còn thể hiện trong thái độ sống. Một trong những thái độ sống đó là không coi trọng đời sống vật chất, biết đủ trong sự vui hưởng niềm hạnh phúc thanh cao của đời sống tinh thần. "Vua quan thời đại này luôn luôn biết tìm ở đồng quê, hoặc ở chùa chiền những giờ phút êm đềm để di dưỡng tinh thần, để suy nghĩ về lẽ sống. Và những cuộc tuần du hay vi hành như vậy xem chừng cũng chưa đến nỗi làm cho đời sống hàng ngày của nhân dân phải quá phiền hà" (Đặng Thai Mai, Thơ Văn Lý-Trần 1, trang 37).

Một xã hội được hướng dẫn bởi những con người không sợ hãi đó thì đương nhiên những hình thái tiêu cực như tham nhũng, bóc lột, hà khắc… sẽ không có chỗ dung thân.

 

Tinh thần không sợ hãi đó đã đem đến thái độ tích cực lạc quan trong đời sống. Các vua quan thời Lý - Trần đã sống một đời sống vô cùng tích cực và lạc quan.

 

Đặng Thai Mai nhận xét: "Chế độ vương triều nhà Lý (1009-1225) cũng như nhà Trần (1225-1400), nói chung có những vị vua xứng đáng với dân tộc anh hùng. Hào hứng đó bao gồm một niềm tin, một quyết tâm. Tin vào tiền đồ của đất nước, quyết tâm bảo vệ bờ cõi, xây dựng cơ đồ. Tâm trạng ấy đã được ghi lại bằng những nét sâu đậm trong nhiều văn thơ của thời đại. Bài Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ từ đầu thế kỷ XI và sau đó là bài thơ "Nam Quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt khi cầm quân chống nhà Tống, và sau đó nữa, đời Trần văn thơ của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão (ấy là chỉ nhắc tới những tên tuổi lừng lẫy nhất), đều bộc lộ một niềm tin, một tinh thần quyết thắng và một ý chí sắt đá qua nhiều vần thơ bất hủ" (Thơ Văn Lý-Trần 1, trang 35).

 

 

 

 

 

 

 

 

"Hồi ấy người ta biết sống, biết sống vui trong tình thân, trong tin tưởng." (Đặng Thai Mai, Thơ Văn Lý-Trần 1, trang 38)

Tinh thần không sợ hãi này cũng xuất phát từ tinh thần bình đẳng trong xã hội. Trong thời đại này, vua, quan, dân chúng rất gần gũi với nhau. "Một nhà vua nổi tiếng là anh minh thời Trần đã nhiều lần nhắc nhở con cháu mình chớ quên rằng tổ tiên họ xưa kia cũng chỉ là những người dân đen. Lý lịch của các quan to, các tướng lãnh không phải chỉ toàn là dòng dõi quí tộc. Vai trò của quần chúng nhân dân về việc nước không phải chỉ là thụ động. Tính đoàn kết từ trên xuống dưới không những chỉ biểu hiện trong những dịp nguy biến…" (Đặng Thai Mai, Thơ Văn Lý - Trần 1, trang 37).

Tinh thần bình đẳng đó cũng đưa đến lý tưởng coi việc nước là việc chung, thể hiện trong Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô) của Lý Thái Tổ(3), trong Hội nghị Bình Than, Hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần.

 

Đến đây chúng ta thấy rõ được sức mạnh của tinh thần không sợ hãi bằng quán chiếu. Tinh thần đó không những đã xây dựng được một đất nước hùng cường, mà còn tạo nên một xã hội hạnh phúc với những con người biết sống, biết phục vụ, biết yêu đời, yêu người.

 

Lời kết

 

Trong khúc quanh lịch sử của ngày hôm nay, một lần nữa, tinh thần không sợ hãi thông qua sự quán chiếu lại trở nên một nhu cầu cần thiết.

 

Những quyền biến trong giai đoạn giành độc lập và thống nhất đất nước, giống như việc sử dụng sấm ký của Thiền sư Vạn Hạnh, đã làm xong sứ mạng lịch sử của chúng. Giờ đây là lúc chúng ta cần trở về với tinh thần không sợ hãi chân thật, tinh thần không sợ hãi bằng sự tỉnh táo, là vốn liếng có sẵn của dân tộc ta, để xây dựng đất nước trong giai đoạn mới.

 

Đất nước chúng ta đang đi vào một giai đoạn đổi thay nhanh chóng. Thế giới ngày nay là một thế giới toàn cầu và chúng ta đang quyết tâm hội nhập vào thế giới đó để sinh tồn và vươn lên. Trong thế giới đó, bên cạnh những cơ hội là vô số những thách thức và cạm bẫy.

 

Sự đổi thay nhanh chóng chắc chắn sẽ tạo nên những sóng gió ngoài xã hội kèm theo những sóng gió trong lòng, làm lung lay ý chí của con người.

 

Và câu thơ "Nhìn cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi" của Vạn Hạnh chúng ta có thể đổi lại thành "Nhìn cuộc đổi thay, đừng sợ hãi" để áp dụng cho hoàn cảnh ngày hôm nay.

 

Không sợ hãi để có thể tỉnh táo tìm ra một hướng đi thích hợp cho chúng ta, và để vững vàng tiến bước trên con đường xây dựng tương lai đặc thù thích hợp cho chúng ta.

 

Không sợ hãi để chúng ta có thể nói "không" với những tiêu cực, những cám dỗ xảy ra hàng ngày trong giai đoạn chuyển tiếp, quá độ này.

 

Không sợ hãi để có một thái độ thong dong tự tại và cởi mở, để trong và ngoài, trên và dưới có thể mở rộng cõi lòng dung chứa nhau, cùng nắm tay nhau bước vào vận hội mới của đất nước, khai dòng cho vận hội mới đó đi đúng hướng dân tộc và thời đại.

 

Làm được điều này chắc chắn chúng ta sẽ tạo dựng được một nền tảng tốt đẹp dài lâu cho đất nước.

 

Chúng ta sẽ chọn lựa học hỏi những cái mới, thích hợp từ bên ngoài để bồi bổ cho những tinh túy mà cha ông chúng ta để lại. Chúng ta dùng những tinh túy có từ gia tài của cha ông, trong đó có tinh thần tỉnh táo không sợ hãi, để soi rọi tình trạng của chúng ta, và cũng là phương thuốc giúp chúng ta tiêu hóa tốt đẹp những thực phẩm chưa quen.

 

Có một nhận xét của người bạn tôi xin ghi lại ở đây. Theo bạn ấy, sự hội nhập của chúng ta với phương Tây trong thời đại mới xảy ra vào một thời điểm thuận lợi, lúc mà người phương Tây bắt đầu nhìn về phương Đông với một cái nhìn mới. Họ bị thu hút bởi những giá trị tâm linh và cái thấy minh triết về nhân sinh và vũ trụ của đạo Phật. Riêng về tâm linh, họ tìm thấy ở đạo Phật một con đường đưa đến lối thoát cho sự bế tắc tinh thần do sức ép của một guồng máy tàn bạo không ngừng nghỉ của một nền văn minh xây dựng trên vật chất và chủ nghĩa cá nhân. Và đó là bài học quan trọng đối với chúng ta để không lãng quên, phí phạm viên minh châu trong túi áo của mình, để tránh những vết xe đổ của họ.

 

Theo đạo Phật, muốn có được sự tỉnh táo cần thiết cho tinh thần không sợ hãi, chúng ta cần có chánh niệm. Chánh niệm là khả năng nhìn thẳng vào thực tại, vào sự việc đang xảy ra, và nhìn thẳng vào chính mình. Đó là cái nhìn chân thành, cởi mở, vô tư, thẳng thắn và dĩ nhiên là can đảm. Đó là tinh thần không sợ hãi thông qua sự quán chiếu.

 

Và chỗ tận cùng của chánh niệm là nhìn thấy Phật tánh một cách rõ ràng, trong trẻo và luôn sống trong Phật tánh đó.

 

Cũng theo đạo Phật, mọi chúng sanh, mọi hiện tượng đều có Phật tánh hay nền tảng của chân, thiện, mỹ, và kết nối nhau qua nền tảng đó. Cũng có thể nói Phật tánh là tố chất nền tảng của mọi sự vật, mọi hiện tượng, cũng là nền tảng cho mọi kết nối, mọi dung hợp. Đó là sự kết nối chân thật, quân bình và hài hòa. Không có tố chất đó, sự kết nối, dung hợp, sẽ không thành tựu, không ăn nhịp.

 

Phật tánh đó thể hiện bàng bạc trong đời sống, nó hé lộ qua sự chia sẻ quan tâm đến người khác, qua nụ cười cởi mở đầu năm, qua tấm lòng hòa hợp trên-dưới, trong-ngoài, qua sự hài hòa của một nền văn hóa, của những lễ hội truyền thống, qua những câu ca dao đẹp, qua lòng yêu dân, yêu nước, yêu con người… Cái gì hướng đến chân, thiện, mỹ là tố chất của sự sống, là Phật tánh, tánh giác ngộ.

 

Một ngàn năm trước, tinh hoa văn hóa Việt đã phát triển vượt bực trên tố chất đó cùng với những chất liệu của thời đại ấy.

 

Ngày nay, đứng trước trăm ngọn gió thổi về từ nhiều hướng, việc quan trọng để không bị bứng đi là hãy xác định về mình, xác định cái tố chất làm nên con người, đất nước và lịch sử của chúng ta. Tố chất đó sẽ là ánh sáng và chất nước cho những hạt mầm nào thích hợp thì sẽ mọc lên tươi tốt, để trở thành cái riêng của chúng ta, để một lần nữa kiến tạo một nền tảng mới cho một ngàn năm mới.

 

Tố chất đó sẽ tạo nên bản lãnh của chúng ta, tạo nên tinh thần không sợ hãi của chúng ta, để vững vàng tiến tới và không ngã gục trước những cám dỗ tiêu cực lúc nào cũng chực sẵn trong một xã hội đang đổi mới để vươn lên.

 

Dựa theo ý Giáo sư Masato Mitsuda thuộc Đại học San Francisco State, xin đề nghị một lời khuyên cho thế hệ trẻ hôm nay: Hãy coi cái học ở nhà trường chỉ đáp ứng được năm mươi phần trăm nhân cách của người học. Cần phải học thêm năm mươi phần trăm từ cuộc sống, từ lịch sử để hoàn thành một con người trí thức toàn diện.(4) Cái học đó sẽ làm giàu nhân cách của các bạn với tinh thần chính trực, thẳng thắn, chân thành, cởi mở, bao dung, cảm thông và can đảm. Nó sẽ là đôi cánh chắp vào cái học ở nhà trường giúp các bạn bay xa, bay cao cùng dân tộc trong tinh thần tỉnh táo, không sợ hãi.

 

 

Thị Giới (Nguyệt san Gíác Ngộ số 172)

 

(1) Thiền sư Ðịnh Không là người đầu tiên tạo niềm tin về sự độc lập quốc gia bằng một bài sấm, cho rằng làng ngài ở sẽ có minh vương xuất hiện. Khi sắp viên tịch, ngài dặn đệ tử là Thông Thiện giữ gìn, không để phá hoại long mạch. Ðệ tử của Thông Thiện là Thiền sư La Quí An tiếp nối ý chí của thầy tổ bằng hai việc: Ðúc tượng Lục tổ bằng vàng để dùng khi có bậc minh vương ra đời và trồng cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn giữ cuộc đất và dặn đệ tử đắp nền xây tháp ở đây để có thể cất giữ tượng vàng. (2) Trước khi qua đời, Thiền sư Vạn Hạnh dặn đệ tử: "Các vị nên nương tựa vào đâu? Tôi thì tôi không nương tựa vào nơi có thể nương tựa và cũng không nương tựa vào nơi không thể nương tựa". (3) Bài chiếu toát ra một sự trịnh trọng, quan tâm đến người nghe, cuối bài còn bày tỏ sự muốn nghe ý kiến của quần thần: "Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để làm chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?" (Nguyễn Đức Vân dịch). (4) "Nền giáo dục nổi có tính chất cứng nhắc, trong khi nền giáo dục ngầm không có đường lối cố định. Với thiền của Phật giáo, nền giáo dục ngầm hay "thực hành," không phải là thấp kém hơn nền giáo dục nổi. Vì "thực hành" vượt thoát khỏi những hệ thống quy luật, người học có phạm vi lớn hơn và có thể được hưởng và hiểu rõ giá trị của cả nền học vấn nổi và việc "thực hành" trong đời sống hàng ngày. Một người bị lôi kéo một cách mê mờ theo con đường học vấn nổi hay sách vở là đánh mất một nửa còn lại. Kết quả là sự học của người đó chỉ hoàn tất năm mươi phần trăm. Xin đừng coi những gợi ý này là những lời phê phán; hãy coi đó là một sự khuyến khích việc thực hành và biết tôn vinh những sự việc thông thường hàng ngày để hoàn tất năm mươi phần trăm đang bị khiếm khuyết. Và như vậy, viêc học sẽ trở nên hoàn hảo hơn." (Cái nhìn của Thiền về nền giáo dục hiện đại).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thị Giới) frontpage Tue, 27 Jul 2010 15:53:52 +0000
Trọng thể cung nghinh tám vị vua triều Lý & lịch đại chư vị Tổ sư về Hoàng Thành Thăng Long http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6438-trong-the-cung-nghinh-tam-vi-vua-trieu-ly-lich-dai-chu-vi-to-su-ve-hoang-thanh-thang-long.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6438-trong-the-cung-nghinh-tam-vi-vua-trieu-ly-lich-dai-chu-vi-to-su-ve-hoang-thanh-thang-long.html (GNO): Từ tinh mơ sáng 27/7/2010, Thánh giá long vị tám vị vua triều Lý, cùng giác linh Quốc sư Vạn Hạnh và Chư vị lịch đại Tổ sư đã được trang nghiêm cung rước từ Bắc Ninh về Hoàng Thành Thăng Long, mở đầu cho Đại lễ Phật giáo 1.000 năm Thăng Long. Đây là đại lễ quy mô với gần 50 sự kiện, nghi lễ, hoạt động văn hóa lớn nhỏ khác nhau kéo dài đến ngày 2/8/2010.

 

Suốt tuần qua, Hà Nội cũng như khắp các tỉnh Bắc Bộ đều có mưa lớn kéo dài suốt cả tuần, thế nhưng mưa đã kịp chấm dứt trước ngày Đại lễ, sáng 27/7 bầu trời trở nên trong xanh, thời tiết mát mẻ. Ngay từ 5 giờ sáng, đông đảo Phật tử, Tăng ni đã tề tựu đông đảo ở nhiều địa điểm: Đền Đô; chùa Tiêu và khu vực Hoàng Thành Thăng Long.

 

Vào lúc 6g30, nghi lễ cáo yết vua Lý Thái Tổ tại Đền Đô đã diễn ra trang trọng với sự chứng minh của chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có sự tham gia của bà Trương Mỹ Hoa – nguyên Phó Chủ tịch nước. Long vị tám vua Nhà Lý đã được phụng nghinh thành kính, trang trọng lên đoàn xe hoa khởi hành đến chùa Tiêu. Đoàn rước nối dài hơn 1km bởi với 16 xe hoa, mỗi xe được trang trí thành những biểu tượng khác nhau: hình tượng vua Lý Thái Tổ, chùa Một Cột,  trống đồng, rồng bay, Đại bảo Tháp Phật Giáo ở Ấn Độ...

 

leruocvua_11.jpg

 

Chư Ni đang xếp 2 hàng cung nghinh

 

leruocvua_14.jpg

 

leruocvua_08.jpg

 

leruocvua_10.jpg

 

Tiếp sau đoàn xe hoa là đoàn 50 xe hộ tống chở các Tăng Ni , Phật tử, đến chùa Tiêu, Ban Kinh sư đã làm lễ yết cáo tại Thượng điện chùa, rồi yết cáo Thiền sư Vạn Hạnh tại Nhà Tổ, sau đó cung nghinh Quốc sư và các Chư vị Tổ sư lên xe rước. Đoàn rước ngược lên đến gần thành phố Bắc Ninh, rồi theo đường Quốc Lộ 1 mới để về Hà Nội. Thương tọa Thích Minh Hiền, Phó ban Văn hóa trung ương GH cho chúng tôi biết, với một đoàn rước dài cả cây số như vậy, việc chụp được những tấm ảnh thu được toàn cảnh đoàn rước là vô cùng khó, nên Ban tổ chức dành một cuộc thi chụp ảnh về lễ rước này.

 

leruocvua_12.jpg

 

Các xe hoa cung nghinh

 

leruocvua_13.jpg

 

Các tấm ảnh của các nghệ sĩ nhiếp ảnh chuyên nghiệp và không chuyên sẽ được gửi về Ban tổ chức ngay sau khi đám rước kết thúc, Ban tổ chức sẽ chọn ra tấm ảnh đẹp nhất đem in khổ rộng kích thước 1,5 m * 2,5 m để kịp trưng bày tại Lễ đài khai mạc vào sáng 28/7/2010, đồng thời trao giải thưởng cho người có ảnh được chọn. Bởi vậy, những ngày qua, hàng chục nghệ sĩ nhiếp ảnh đã đi khảo sát con đường rước từ Bắc Ninh về Hà Nội để tìm ra các góc chụp đẹp nhất, để đón lõng sẵn lễ rước trước khi diễn ra. 

 

leruocvua_02.jpg

 

leruocvua_03.jpg

 

leruocvua_06.jpg

 

 Tại Hoàng Thành Thăng Long, vào lúc 10 h, nắng lên chói chang, thời tiết thay đổi hẳn so với những ngày mưa và âm u trước đó. Khắp không gian rộng lớn, ngập tràn sắc maù của phướn, cờ Phật, băng rôn, đèn lồng, đèn hoa… Tại cổng Nguyễn Tri Phương, đông đảo Phật tử cùng các Tăng Ni đứng xếp hàng trang nghiêm, ai nấy trên tay sẵn cây cờ Phật vẫy chào đoàn xe rước. Đoàn xe hoa diễu hành quanh các phố Hoàng Diệu, Điện Biên Phủ, Nguyễn Tri Phương rồi tiến vào khu vực lễ đài. Các tăng ni sinh của Học Viện Phật giáo Hà Nội cùng đội nghi lễ gồm các thanh niên Phật tử thủ đông, dàn nhạc nghi lễ xếp thành nhiều hàng đứng trang nghiêm

 

Hai bên lễ đài. Long vị các vị vua Nhà Lý cùng Giác linh Chư vị Lịch đại tổ sư được rước xuống bởi dàn nghi trượng oai vệ, đi đầu là các bậc cao tăng thạc đức và được an vị điện Quốc sư và điện Hoàng Đế.

 

LERUOC_04.jpg

 

LERUOC_07.jpg

 

LERUOC_09.jpg

 

tnaglong 2.jpg

 

LERUOC_10.jpg

 

LERUOC_11.jpg

 

LERUOC_12.jpg

 

LERUOC_13.jpg

 

LERUOC_14.jpg

 

LERUOC_15.jpg

 

LERUOC_16.jpg

 

LERUOC_17.jpg

 

LERUOC_18.jpg

 

LERUOC_19.jpg

 

LERUOC_20.jpg

 

LERUOC_21.jpg

 

thanglong 1.jpg

 

Pho tượng Thiền sư Vạn Hạnh đã được hoàn thiện (Ảnh: Anh Thế)

 

LERUOC_22.jpg

 

 Chiều 27/7 tại Hoàng thành Thăng Long, diễn ra lễ cúng nghinh sư duyệt định và tế yên vị lịch đại Đế vương Lý Trần Lê Nguyễn và hiện tại; lễ tiếp linh các anh hùng liệt sĩ sau đó có lễ rước xá lợi Phật từ chùa Quán Sứ về Hoàng thành Thăng Long. Lễ khai mạc sẽ được tổ chức vào sáng 28/7/2010 tại Khu vực lễ đài trong Hoàng Thăng Long, dự kiến sẽ có 1 vạn đại biểu tham dự. Cách bài trí tại Hoàng thành thực sự là điểm nhấn đặc sắc khi có cả thaỷ 3 không gian linh thiêng là Đại hùng bửu điện, điện Quốc sư và điện Hoàng đế thể hiện sự gắn kết giữa Phật giáo và lịch sử dân tộc nước nhà. Lễ đài bố cục theo một đồ hình Mạn đà la- hình vẽ biểu thị vũ trụ trong cái nhìn của Phật giáo Mật tông.

 

thanglong 3.jpg

 

Trung tâm lễ đài là đàn Di Đà Tam Tôn, xung quanh có khu các đàn thờ Phật; cùng với 7 đàn Dược Sư; khu 8 bàn thờ long vị các vị vua triều lý, tiếp nối là bàn thờ long vị của tất cả các vị vua ở nước ta từ cổ chí kim, trong đó có cả đền  thờ chủ tịch Hồ Chí Minh. Điểm đặc biệt chưa từng thấy ở các đại lễ nào, đó là khu bài vị các vong linh chiến binh quốc tế đã từng đến giúp sức hoặc tham chiến ở Việt Nam. Sẽ có 10 bài vị cho chiến binh của 10 quốc gia cũng sẽ được cầu siêu ở Đại lễ. Đại sứ quán các nước này sẽ được mời đến dự Đại lễ, và đến mồng 2/8 sau khi lễ cầu siêu kết thúc, các đại sứ quán tự rước bài vị đó về, tùy ý muốn của họ mà họ có thể thờ tại đại sứ quán hoặc đem về nước.

 

LERUOC_24.jpg

 

LERUOC_25.jpg

 

LERUOC_26.jpg

 

LERUOC_27.jpg

 

LERUOC_28.jpg

 

LERUOC_29.jpg

 

LERUOC_30.jpg

 

LERUOC_32.jpg

 

LERUOC_33.jpg

 

LERUOC_34.jpg

 

TT. Thích Minh Hiền cho chúng tôi biết, các hoạt động biểu diễn văn nghệ nằm trong khuôn khổ Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội bao gồm 3 Chương trình chính: trình diễn nhạc giao hưởng “Diệu Pháp Âm” tại Nhà hát lớn TP.Hà Nội vào tối 2/8; Chương trình Ca múa nhạc “Hương sen màu nhiệm” có kèm theo thuyết pháp tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội vào ngày 31/7; Ca múa nhạc đại chúng và oanh vũ ca của thanh thiếu niên Phật tử thủ đô sẽ được tổ chức tại 3 địa điểm (Công viên Thiên đường Bảo Sơn, Cung văn hóa thiếu nhi Hà Nội, Nhà văn hóa Hà Đông). Tất cả các chương trình biểu diễn đều không bán vé, mà ngót 1 vạn giấy mời đã phát tận tay các đại biểu.

 

Đặc biệt, chương trình “Hương sen màu nhiệm” với 11 sáng tác với chủ đề Phật giáo, bên cạnh 2 nhạc phẩm “Chắp tay hoa” do ca sĩ Mỹ Linh biểu diễn và “Lạy Phật con về” do ca sĩ Khánh Linh biểu diễn đã rất thành công từ nhiều năm qua, thì lần này có tới 9 tác phẩm mới được biểu diễn lần đầu tiên. Đó là các nhạc phẩm: “Thế Tôn ca” sáng tác của nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng sẽ được biểu diễn bởi dàn hợp xướng 50 nhạc công; bài ca trù “Sáng đạo trong đời” (Thúy Đạt biểu diễn); bài hát “ Việt Nam đạo Phật sáng niềm tin” (Thúy Thúy biểu diễn); bài hát “Nam mô bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật” được biểu diễn bởi Trọng Tấn; Màn biểu diễn Trống Thượng đường; hợp xướng “Sám hối mười phương”; cùng các nhạc phầm “Việt Nam tổ quốc thiêng liêng”, “Ngàn năm hùng tráng Thăng Long” và kết thúc là hợp xướng “Vang vọng ngàn năm”.

 

 

Bài, ảnh Chu Minh Khôi  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Chu Minh Khôi ) frontpage Tue, 27 Jul 2010 15:48:34 +0000
MẸ http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6437-me.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6437-me.html    
altBuổi sáng, sau khi ra biển về, ở nhà với mẹ. Hạnh phúc là giây phút này…phải tự nhận biết và  im lặng tận hưởng, vì luôn luôn có sẵn bên đời, tìm đâu xa. Hạnh phúc chẳng đâu xa để loay hoay tìm kiếm ngoài kia.

Có khi suốt một kiếp nhân sinh, hạnh phúc luôn luôn nở nụ cười chào mời, chờ đón trong mỗi một sát-na của đời người.

Biết quên đi, tỉnh thức những khi lạc chốn…gặp người để chỉ thấy nghe những điều  vô bổ, phiền não. Hạnh phúc đến lặng lẽ trong buổi sớm mai hít thở công phu trên bãi cỏ mượt mà. Hạnh phúc được thả mình buông thư nhìn ngắm trời xanh trong vắt, bềnh bồng ngoài xa khơi thấm mùi biển mặn, hát ca một mình cho hải âu lượn cánh nghiêng mình nhìn xuống.

Hạnh phúc khi cuối đời được ở gần mẹ già, nhìn nụ cười mai sớm, nét chau mày tha thứ khi chờ đợi chiều hôm, nghe tiếng thở đều an giấc qua đêm thanh vắng.

Hạnh phúc…làm sao…mà nói sao cho xiết… Thôi, hãy tỉnh lặng mỉm cười, nhìn ngắm, lắng nghe, cảm nhận. Hạnh phúc của người, của mình và tạ ơn trên hằng ngày còn cho mình tỉnh thức để luôn nhận ra hạnh phúc để quên bớt khổ đau.

Thế giới ngày một hổn mang…Con người ngày càng vô cảm…Nhưng bên cạnh những điều xấu ác, may thay cho những người còn MẸ quanh đời để trên cỏi trần gian này vẫn còn chút mong manh kính nhớ, an ủy, nương nhờ, thờ phụng để mỗi mùa Vu Lan còn được cài một bông hồng  nhỏ  diệu kỳ trên áo.

Mong thay./

alt                                               Nhật Thuận – Nguyễn Đăng Hòa

 

 

 

1. Im Lặng

Mong thay một chút bình an,
Cho đời dễ chịu lỡ mang kiếp người.
Hỗn mang trong cỏi đười ươi,
Tóc râu nhẵn nhụi, lông đuôi mọc dài!
Cũng xe ngựa, cũng lầu đài,
Cũng áo mão, cũng bi hài nói thưa!
Hỏi rằng đã học hay chưa?
Đười ươi im lặng, nói thưa con người./-
2. Nhạc Kitaro Giữa Đêm

Âm thanh khi có khi không
Khi khoan khi nhặt mênh mang miệt mài
Lên non xuống bể chia hai
Đông-Tây-Nam-Bắc khứ lai lối nào?
Trầm hùng bão biển thét gào
Róc rách nguồn suối đi vào sắc-không
Lặng lờ vắng bặt vô ngôn
Vỡ òa một tiếng, nội công thượng thừa./-


3. Cảm Ơn
               ( Tặng hiền thê)
Cảm ơn những tháng ngày xưa
Anh nghe em nói như chưa bao giờ
Bao giờ anh cũng ngu ngơ
Ngu ngơ, không nói, khù khờ cảm ơn./-


4. Thạch Sàng Bãi Bụt
  (Tặng nhiếp ảnh gia N. M. Dũng & thạch thất Bãi Bụt ngày xưa)

Nằm tựa thạch sàng Nguyễn Mỹ Dũng
Đầu gối mây, chân mây trắng bay
Sóng vỗ rì rào ru dưới lũng
Bóng cây dày phủ mát, ngàn tay
…..
Thạch thất im lìm vắng không chủ
Mình ta ngồi tựa núi lim dim
Bên kia Đà Nẵng đời có đủ
Chỉ thiếu an bình, bướm với hoa./-


5. Trăng Ngày Xưa
Lạ gì, cũng một chỗ nằm
Sao thao thức mãi trăng rằm còn đâu
Một mình tỉnh tọa canh thâu
Nghe thu lành lạnh nghe sầu vọng dâng
Ngày xưa như đã có lần
Cũng ghềnh thác nọ cùng vầng trăng treo
Núi cao biển rộng lưng đèo
Ngày xưa như đã trôi vèo mất tăm./-

 

Nhật Thuận – Nguyễn Đăng Hòa

]]>
tcanhco@yahoo.com (Nhật Thuận – Nguyễn Đăng Hòa) frontpage Mon, 26 Jul 2010 14:27:57 +0000
Tuyển tập thơ Mặc Giang: Hoa Đạo Pháp 01-10 http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6436-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-10.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6436-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-10.html  

01.  Chùa tôi

02.  Nụ Hồng cho em

03.  Sắc – Không, mỉm nụ vô cùng

04.  Tôi chỉ là một Ông Thầy Tu

05.  Bài ca sỏi đá

06.  Xin cho em Một Đóa Nhiệm Mầu

07.  Một nụ cười vang

08.  Ta đi, một cõi phù sinh hiện về

09.  Biết rồi, thì tích tịch tình tang

10.  Khôn chết ! dại chết, biết sống

 

Chùa tôi

Mồng 8 tháng Chạp, Vía Phật Thành Đạo,

Nhớ lại chùa xưa, quê cũ  - Ngày 10-01-2003

 

            Chùa tôi nho nhỏ bên làng

Bên dòng sông quyện bên hàng thông xanh

          Có tre mấy lũy yên lành

Có chim ca hót trên cành líu lo

          Có con đường đất quanh co

Có người đưa đẩy con đò lại qua

          Có mưa có nắng chan hòa

Có trăng có gió mặn mà tình quê

          Có đầm sen nở sum suê

Dân làng xin hái đem về cúng dâng

          Tương chao dưa muối thanh bần

Dân làng san sẻ góp phần chia nhau

          Chùa tôi cửa trước cửa sau

Mỗi lần Hội lớn kéo nhau ra vào

          Lời kinh tiếng mõ thanh tao

Tiếng chuông ngân vọng rạt rào hồn quê

          Có ve réo rắt trưa hè

Có cây phượng vĩ chở che oi nồng

          Chùa tôi có kiểng có bông

Xanh vàng đỏ trắng điểm hồng tô son

          Có hàng ghế đá rêu phong

Có hòn non bộ nằm trong sân chùa

          Chùa tôi quanh quẩn bốn mùa

Cùng dân làng sống hơn thua không màn

          Thương yêu thân thiện hòa vang

Có ân có nghĩa chứa chan tình người

          Chia nhau câu hát tiếng cười

Chia nhau sướng khổ đẹp tươi dân làng

            Chùa tôi còn đó âm vang

Tôi xa lâu lắm còn mang nặng tins

          Tôi mang một chút xinh xinh

Tôi thương tôi nhớ một mình tôi thôi

          Chùa tôi còn có quê tôi

Quê tôi còn có chùa tôi muôn đời

          Đưa hồn về chốn xa xôi

Sờ lên đôi má lệ rơi hai hàng

          Cho tôi xin được cưu mang

Dù cho một chút hành trang trong đời

          Thuyền ơi ! Sao mãi xa khơi

Xin ngưng mái đẩy cho tôi trở về

          Trở về thăm lại chùa quê

Thăm trăng thăm gió thăm quê thăm làng

          Hay trăng còn đợi trăng ngàn ?

Ước mong còn đợi miên man chưa tròn

          Khó hơn xuống biển lên non

Khi xa mới biết mỏi mòn tháng năm

          Gió ơi ! còn nhớ ly tăm

Mây ơi ! còn nhớ dặm băng chưa về

          Ra đi một mảnh tình quê

Chỉ xin một chuyến trở về mà thôi

          Không ngờ một chuyến chia phôi

Trở thành một chuyến nửa đời phân đôi

          Rêu mờ mấy lớp lên ngôi

Trăng mờ mấy lớp dặm soi bên đường

          Chùa tôi tôi nhớ tôi thương

Quê tôi tôi nhớ vấn vương đêm dài

          Một đi cửa đóng then cài

Một đi lối cũ dấu hài dặm băng

          Vi vu thông gọi lời ngàn

Nao nao nước chảy miên man mịt mờ.

 

Nụ hồng cho em

Tháng 6 -2002

 

Đừng tìm về quá khứ

Đừng kiếm cái đã qua

Quá khứ không còn nữa

Đã qua biến mất rồi

 

Muốn làm người hạnh phúc

Phải là người biết sống

Sống làm người tỉnh thức

Cực Lạc vốn là đây

 

An vui trong hiện tại

Là đã có quá khứ

Là đã biết tương lai

Dòng ý thức không hai

         

Qua dòng sông ý thức

Qua mấy nẻo luân hồi

Và bốn loài sinh tử

Chung cùng chỉ một thôi

 

Tung lên khung trời rộng

Thu ngắn nẻo đường về

Không từ trong cái có

Có nào khác với không

 

Em có biết gì không ?

Tôi sẵn có bên người

Em có nghe gì không ?

Em còn mãi trong tôi !

 

Tôi là em tất cả

Em là tôi nhiệm mầu

Đâu còn tan hợp nữa

Muôn ngàn, hiện hữu thôi

         

Tôi mãi là nhịp cầu

Bắc đôi bờ sinh tử

Tôi mãi là thuyền từ

Đưa đón mọi người qua

 

Tôi nguyện cõi ta bà

Là Tây Phương Cực Lạc

Tôi nguyện bãi tha ma

Là dòng sông tươi mát

         

Chúng sanh hay Hiền Thánh

Địa ngục hay thiên đường

Gian tà hay chân chánh

Quy hướng chỉ một phương

 

Tam đồ hay sáu nẻo

Ánh sáng hay u minh

Là trò chơi lắt lẻo

Làm khổ mọi sinh linh

         

Hỡi mười phương ba cõi

Hỡi muôn kiếp u hoài

Bao trầm luân khoắc khoải

Sao cứ mãi lạc loài

 

Nguyện hay là vô nguyện

Vô nguyện tức nguyện rồi

Cửa tam vô tịch diệt

Chơn thường chơn lạc thôi

         

Vô ngôn tức không lời

Tôi có nói gì đâu

Núi cao, cao ngất mãi

Biển thẳm, thẳm thật sâu

 

Tôi sụp lạy cúi đầu

Xin kết một đài sen

Chắp tay dâng khắp cõi

Gởi cho em nụ hồng

 

Nụ hồng hai cõi sắc không

Sắc không hai cõi nụ hồng cho em.

 

Sắc Không Mỉm Nụ Vô Cùng

Bài nầy tôi viết vào dịp Tết Tây 2003,

Trong lúc đang thăm viếng một ngôi chùa nhỏ,

nghe tiếng tụng kinh của một vị Thầy, và quý Phật tử

trong buổi lễ hàng tuần của ngôi chùa này.

 

Tôi nằm nghe từ nơi chùa nhỏ

Pháp âm vi diệu của Phật Đà

Nghe như Hội Linh Sơn còn đó

Bóng thời gian năm tháng không xa

Ngày xưa Đức Phật

Dưới cội Bồ Đề

Lục thông chứng đắc

Chân lý trổ hoa

Hoa chân lý hiện sinh trên lộ trình muôn nẻo

Pháp huyền vi có mặt từ nhịp bước vạn đường

Đức Thích Ca

Đã đón nhận từ hai ngàn năm trăm năm trước

Tôi mỉm cười

dong ruổi mấy chục thế kỷ sau

Giải thoát là gì ?

Sinh tử là gì  ?

Nếu không sinh làm sao có tử ?

Không luân hồi nói giải thoát mà chi ?

Có với không, thật ra chỉ một chữ

Không với có, nhận ra chỉ một lời

Chữ với lời tôi nói để mà chơi

Hèn chi Ba trăm hội thuyết kinh

mà chưa từng lên tiếng

Phật với chúng sinh

Phàm với Thánh

Tôi với người

Thật ra như một nụ cười

Nụ cười vụt tắt trên môi điểm hồng

Điểm hồng hai chữ có không

Có không rũ mặt điểm hồng còn nguyên

Sông xưa bến cũ con thuyền

Trời xanh mây trắng chim chuyền xa đưa

Đã không thì mấy cũng vừa

Có thì một điểm cũng thừa mà thôi

Ô kìa mây gió lên ngôi

Cỡi trên sóng bạc rụng rời trăng sao

Vượt từng không, phớt hồng mao

Xa in dấu ngọc cây đào trước sân

Hèn chi Đức Thích Ca bảo

Ta chưa từng sinh ra

Ta chưa nhập niết bàn

Tam vô từ đó tôi mang

Tứ đức rũ sạch trên đàng tôi đi

Tôi đi từ chỗ không đi

Luân hồi không đến ngại gì có không

Tôi đi pháp giới rỗng không

Tôi về vạn hữu hằng còn hiện ra

Tôi đi không cửa không nhà

Tôi về lầu các phong ba rêu mờ

Thì ra Đức Phật

Nói chữ Pháp thân

Ngàn sao vụt tắt

Hiện bóng phù vân

Mười phương thế giới ba ngàn

Chân lông nguyên vẹn chưa tràn phải không

Nhẹ hơn một áng mây hồng

Vô chung vô thỉ cũng đồng thế thôi

Biển sông nào khác núi đồi

Tử sinh còn ngắn hơn hồi chuông ngân

Tay cầm hạt chuỗi chưa lần

Long Hoa đã hiện, Linh Sơn chưa tàn

Ngược dòng thời gian

Đứng trên đồi vô thỉ

Vạn hữu mênh mang

Lưu tận đáy vô chung

Sắc, Không mỉm nụ vô cùng !

 

Tôi Chỉ Là

MỘT ÔNG THẦY TU

Trọng Đông 2003

 

Tôi chỉ là một ông Thầy tu

Với tiếng chuông tiếng mõ thâm u   

Tránh khỏi những mây mù thấp cao danh lợi

Chức vụ, địa vị, quyền uy không màng tới

Bát phong phe phẩy tựa gió thoảng mây bay

Tương chao dưa muối cỡi theo tháng với ngày

Vẫn tự tại đơn sơ như từ ngày tôi có mặt

Tôi chỉ là một ông Thầy tu, quê mùa cạn cợt

Phủ lớp nâu sồng áo vải xa xưa

Tránh những tranh chấp, xảo thuật hơn thua

Thong dong rảo bước giữa bốn mùa

Chân đạp đất, đầu nhìn cao giữa trời xanh mây trắng

Lột xác trinh nguyên, gội mình mưa nắng

Góp nhặt ba rừng giáo lý, trắng tay

Đức Phật ngồi yên, bất động, không lay !

Thánh Tổ bặt hình, không vang, không tiếng !

Vũ trụ càn khôn, không cùng không nguyện

Nghe, biết, thấy, làm, vô tác vô tâm

Bước chân đi giữa gió mát trăng rằm

Đếm lại được mấy đồi xanh ngọn cỏ ?

Tôi chỉ là một ông Thầy tu, nhỏ nhoi kham khổ

Góp nhặt lá vàng trên những con đường sỏi đá quanh co

Đói ăn, khát uống, mệt nghỉ, ngáy kho kho

Kinh luân trống rỗng, lúa thóc thủng bồ

Đưa không nhận, đẩy không cho

Đường không đến, nẻo không đi, không thêm không bớt

Chim hót, bướm bay, ếch nhái ọt ẹt, chật ních đồng gò

Chưa làm loang lổ trên hành tinh xanh rách nát

Tôi chỉ là một ông Thầy tu, lạnh co nóng quạt

Dọ giẫm, lần mò lối cũ tích xưa

Nhìn những thềm hoang rêu phủ dư thừa

Nhòa bóng thời gian trải dài thế kỷ

Đâu là những vàng son ! uy nghi tuyệt mỹ !!!

Đâu là những cơ ngơi ! đồ sộ huy hoàng !!!

Còn không loang lổ còn không ?

Còn không loang lổ chất chồng phong sương ?

Ô kìa ? Phật Giáo - Quê Hương

Biển dâu mấy độ, tang thương mấy lần ?

Đưa tay vá lại phù vân

Đan tâm vá lại phong trần biển dâu

Tôi chỉ là một ông Thầy tu, tóc bạc mái đầu

Những sợi đen nhiều xen kẽ điểm sương, nên trắng

Tôi đi trên những con đường quê trống vắng

Nghe tâm tư trĩu nặng

Giang sơn gấm vóc năm ngàn năm

Gia tài Phật Giáo hai ngàn năm

Bóng tối thủng dần, đôi mắt chăm chăm

Màn đêm chợt tắt, hừng đông ló dạng

Tôi chỉ là một ông Thầy tu, đôi tay chống nạn

Đỡ vòm trời oan nghiệt phủ quê hương

Đẩy vô minh dày xéo làng quê, thành thị, phố phường

Cho Phật Giáo với Quê Hương

Đầy sức sống trong tình thương dịu ngọt

Tôi chỉ là một ông Thầy tu, cà thò cà thọt

Trông thật khù khờ, hiền giả quá ngu

Lặng tìm từ cõi thâm u

Lòa lên ánh chớp mây mù trần gian

Lặng tìm từ cõi mơ màng

Vẽ lên dấu ngọc leo thang trở về

Lặng tìm từ cõi u mê

Rung chuông đánh thức, đã về hay chưa ?

Gật gù tôi dạ tôi thưa

Đời tôi ư hữ !!! Thầy Chùa thế thôi !!!

 

Bài Ca SỎI ĐÁ

  * 12-2003 *

 

Tôi bước đi bốn biển là nhà

Tôi bước đi là lá là hoa

Chân khua nhẹ bài ca sỏi đá

Tôi bước đi mưa nắng chan hòa

Tôi bước đi ngọc nhểu châu sa

Chân lay động sương pha tuyết giá

Lúa chín trĩu trên đầu lá mạ

Bóng chiều ngưng trên nắng mai vàng

Thuyền muộn màng dừng chuyến đò ngang

Đưa khách cuối bên bờ sông vắng

Đêm về, nhẹ rơi giọt nắng

Ngày lên, nhẹ bóng hoàng hôn

Bước về bên nẻo cô thôn

Ửng hồng nhà tranh bếp lửa

Tôi bước đi trời cao điểm tựa

Tôi bước đi đất rộng tương lân

Trời xanh không vướng đầu trần

Đất màu chẳng vướng bước chân dặm dài

Tôi bước đi nhạc trổi thiên thai

Sờ ảnh tượng thần tiên mở cửa

Tôi bước đi lối cũ chưa cài

Đường vô tận thập thò không đóng

Cành lá nhỏ giọt sương còn đọng

Biển trùng khơi đã cạn lâu rồi

Trùng trùng vạn hữu lên ngôi

Chập chùng lân thể leo đồi phiêu du 

Tôi bước đi mây mù vén lối

Nhạc đêm khuya bừng trổi vang vang

Muỗi mòng chào đón hai hàng

Đưa tay vốc bóng trăng vàng lung linh

Tôi đi ngóng gió đầu ghềnh

Tôi đi cát bụi mông mênh

Chận sóng từ xa biển động

Tôi đi trời đất chênh vênh

Tôi đi đánh thức bình minh

Sức sống hồi sinh hoa mộng

Cụ già hằn sâu nghe ngóng

Em thơ đưa vói tầm tay

Mẹ quê cằn khô mơ vọng

Hoa cau thức trắng đêm ngày

Tôi bước đi trời đất ngủ say

Tôi bước đi sóng nước chưa lay

Chim ngủ trên cây

Mây ngủ trên ngàn

Tôi bước đi xuân đến đông tàn

Tôi bước đi hạ cuối thu sang

Bốn mùa tương sinh là hoa là lá

Tôi bước đi bài ca sỏi đá

Khua âm vang khúc nhạc lên đường

Ngân tình dài muôn vạn yêu thương

Nắng sớm mai chiều

Ngọn cỏ vương vương.

 

Xin Cho Em

Một Đóa Nhiệm Mầu

Thơ Nhạc * 03-01-2004 *

 

Xin cho em một đóa hoa hồng

Xin cho em một đóa hoa tâm

Hoa chân lý nở vạn tình thương

 

Xin cho em một đóa nhiệm mầu

Xin cho em một đóa minh châu

Rừng giác ngộ, vườn hoa từ bi

 

Hoa vẫn nở trên đường cứu khổ

Hoa vẫn nở trên đường tự độ

Mà con người hờ hững không hay

 

Em có biết từ lâu lạc lối

Em có biết từ lâu lạc loài

Sáu nẻo luân hồi mòn mỏi xưa nay

 

Em có biết đêm dài tăm tối

Em có biết xa hẳn đường về

Sinh tử bốn loài đau khổ đắng cay

 

Một ngày tu nở đóa hoa hồng

Một ngày tu nở đóa hoa tâm

Đã từ lâu vùi lấp xa xăm

 

Một ngày tu nở đóa ưu đàm

Một ngày tu rạng ánh đạo vàng

Đạo cứu đời từ đó em mang

 

Một ngày tu em bước lên thuyền

Thuyền đạo mầu cắt đứt vạn duyên

Thuyền từ bi về bến thanh lương

 

Một ngày tu em bước lên thuyền

Chuyên chở người từ khắp muôn phương

Đến bờ bến đạo vàng yêu thương

 

Xin cho em một đóa hoa hồng

Xin cho em một đóa hoa tâm

Hoa từ bi nở khắp muôn phương

 

Xin cho em một đóa hoa hồng

Xin cho em một đóa hoa tâm

Hoa từ bi thấm nhuận muôn phương.

 

Một Nụ Cười Vang

Tết Giáp Thân 2004

 

Ta hỏi ngày mai ta ở đâu

Băng trong vũ trụ vượt tinh cầu

Trăng sao úp mở, thôi chao động

Thương hải tang điền khép biển dâu

 

Ta hỏi ngày mai có trở về

Đường xưa lối cũ bước lê thê

Bóng em tựa cửa, chờ lâu lắm

Chợt tỉnh hồn ai lỗi ước thề

 

Ta hỏi ngày mai chớ dại khờ

Trần gian tay trắng nẻo bơ vơ

Lang thang khắp chốn chìm sinh tử

Em đứng buồn trông, khách hừng hờ

 

Ta hỏi ngày mai mấy nhịp cầu

Sông dài mấy khúc cạn hay sâu

Đôi bờ mấp mé bên dòng nước

Ta dắt tay em bước nhiệm mầu

 

Ta chẻ thời gian chẳng có gì

Dọc đường trổi nhạc bước chân đi

Ru em giấc ngủ, yên không động

Ta đã là em thật diệu kỳ

 

Ta cắt không gian thử mấy chiều

Một vòm trống rỗng tợ cô liêu

Đẩy đưa dung chứa cho cùng khắp

Chẳng chút bớt thêm chẳng ít nhiều

 

Chớ hỏi làm chi bóng nguyệt tàn

Thời gian theo gió gởi mênh mang

Phút giây nắm bắt trùm chung thỉ

Tiếng vỗ bàn tay nhịp khúc vang

 

Chớ hỏi ngày mai đã đến chưa

Hôm qua còn đó tự bao giờ

Hôm nay gói trọn ba thời nữa

Hiển hiện nguyên hình bóng dáng xưa

 

Chớ hỏi làm chi khách vắng nhà

Đường đi vạn lý có đâu xa

Bước chân dong ruổi chưa mòn mỏi

Nở nụ cười vang, ta với ta.

 

Ta Đi, Một Cõi Phù Sinh Hiện Về

* Xuân Giáp Thân 2004 *

 

            Người vào hoa tạng người chơi

Ta vào sinh tử cho đời bớt đau

          Người vào một cõi nhiệm mầu

Ta vào ba cõi bắc cầu lại qua

          Người thương cây cỏ lá hoa

Ta thương bốn loại trong nhà thê lương

          Người thương diệu hữu chơn thường

Ta thương muôn vật trên đường phù sinh

          Người hòa âm điệu kệ kinh

Ta hòa âm điệu tang tình chiều đông

          Người hòa tịch tịnh mênh mông

Ta hòa tình tự trên dòng nổi trôi

          Người vui thanh vắng núi đồi

Ta chia ai oán lở bồi nhân gian

          Người vui huyền diệu mây ngàn

Ta chia trầm thống lang thang không đường

          Người chơi trong cõi thanh lương

Ta chơi nhân ảnh nghê thường hợp tan

          Người chơi dưới ánh trăng vàng

Ta chơi bóng nguyệt mênh mang ao hồ

          Người xa phố thị thành đô

Ta vào đồng nội bên bờ ruộng xanh

          Người reo châu ngọc long lanh

Ta reo gió gọi bên cành thùy dương

          Người reo cam lộ pháp vương

Ta reo tiếng gọi tình thương con người

          Người reo một đóa hoa cười

Ta reo muôn đóa thắm tươi nhân tình

          Người vào tự thể quang minh

Ta vào thực chất như mình với ta

          Người về thăm lại quê nhà

Ta đi rung cõi ta bà ngấn sương

          Người về thăm lại cố hương

Ta đi trên khắp nẻo đường tử sinh

          Người đi nguyên vẹn bóng hình

Ta đi, một cõi phù sinh hiện về

          Hai chiều chạy dọc bờ đê

Dòng sông chuyển hóa chưa hề tồn sinh

          Cây đa còn đứng đầu đình

Cành mai trước ngõ nghiêng mình trổ bông.

 

Biết Rồi Thì Tích Tịch Tình Tang

   * Xuân Giáp Thân 2004 *

 

Này nhé, mùa xuân đang ở đâu ?

Cho hoa ươm nhụy vấn vương sầu

Xuân đến rồi đi hoa rơi rụng

Từng cánh nhạt phai đổi sắc màu

 

Như thế thì xuân có nghĩa gì

Để hoa tan tác mỗi xuân suy

Đến chưa khoe sắc đà tàn úa

Thà chẳng có xuân, lỡ mộng thì 

 

Còn hạ đeo mang những bức nồng

Cội cằn sỏi đá, lá khô bông

Trưa bừng nóng nực kêu oi ả

Đêm đến ngây ngây bảo quá hầm

 

Đi vào mùa hạ luống khô khan

Đồng cháy cỏ khô nắng chói chang

Nước cạn sông mòn xoi đất nẻ

Xuân tàn hoa héo hạ không kham

 

Cất bước vào thu coi thử sao

Cây trơ xác lá gió rì rào

Trăng sao mờ nhạt thu hiu hắt

Ray rứt hồn ai sóng rạt rào

 

Ngẩn ngơ chiếc lá rụng mùa thu

Chiếc đã sang ngang chiếc gật gù

Gió tấp muôn bề tơi tấp mãi

Buồn không chiếc lá rụng thâm u

 

Lẻn bước vào đông thăm chút nào

Đêm đông lành lạnh thấy buồn sao

Một mình trơ trọi đêm đông lạnh

Trống vắng còn hơn nỗi vắng teo

 

Đợi chờ chi nữa những đêm đông

Vốn biết vào đông thật lạnh lùng

Hơi ấm tàn nhanh trong giá buốt

Gởi lòng tê tái những đêm đông

 

Thời tiết tự nhiên của đất trời

Nắng mưa nóng lạnh đến từng nơi

Nếu không chuyển hóa thì than trách

Chuyển hóa thì than hỡi đất trời

 

Cứ mỗi một năm có bốn mùa

Bốn mùa tuần tự chẳng hơn thua

Xuân sang hạ đến thu đông lại

Cho trọn một năm với bốn mùa

 

Mỗi mùa thay đổi mới dễ thương

Ươm mơ sự sống mộng bình thường

Bốn mùa tương tức nhồi sinh lực

Khá biết nhau nghe mới tỏ tường

 

Bốn mùa cho hết cõi nhân gian

Nặng nhẹ nhau chi lắm bẽ bàng

Há biết bốn mùa thay đổi mãi

Biết rồi thì tích tịch tình tang.

 

Khôn Chết ! Dại Chết ! Biết Sống !

Tháng 02 - 2004. 

 

             Làm trăng sáng tỏa khắp trời

Làm sao lấp lánh tuyệt vời bao la

          Không như ánh hỏa châu pha

Thì như đôm đốm gần xa lập lòe

          Không như cây lá sum suê

Thì làm hoa dại mân mê lối mòn

          Không cao cây cả núi non

Thì làm cây nhỏ bên hòn đá xanh

          Không như mấy lũy tre xanh

Thì làm ngọn trúc xinh xinh đầu làng

          Không như man mác mây ngàn

Thì làm vành mống vắt ngang chân trời

          Không như tàu lớn ra khơi

Thì như thuyền nhỏ đưa người qua sông

          Không thanh như tiếng chuông đồng

Thì như chim Lạc chim Hồng kêu chơi

          Không vang dậy sóng dậy trời

Thì kêu nho nhỏ cho người đủ nghe

          Không mơ thành lũy đắp be

Thì làm hàng dậu chở che hai chiều

          Không sang gấm vóc mỹ miều

Thì thanh thì bạch nâng niu nhẹ nhàng

          Không như đường rộng thênh thang

Thì làm lối nhỏ dọc ngang đi về

          Nhục vinh, thành bại, khen chê

Hư danh, giả tướng, ê chề nhân gian

          Việc gì mang lại bình an

Đừng gây ai oán, đừng quàng khổ đau

          Đó là mới thật thâm sâu

Tiểu nhân, quân tử, trước sau khác gì

          Trăm năm một cuộc cười khì

Cười như tùng bách xanh xì trăm năm.

 

Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

thnhattan@yahoo.com.au

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Mặc Giang) frontpage Mon, 26 Jul 2010 14:20:16 +0000
Tuyển tập thơ Mặc Giang: Hoa Đạo Pháp 01-9 http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6435-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-9.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6435-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-9.html  

01.  Hoa Đồng Nội

02.  Hoa Không Tên

03.  Hoa Tự Tôn

04.  Hoa Tủi Thân

05.  Hoa Mặc Cảm

06.  Kết Vòng Tay Hoa

07.  Kết một Đài Sen

08.  Những cánh Hoa Rừng

09.  Hoa Vũ Trụ

10.  Xuân Hoa bốn mùa

 

Hoa Ðồng Nội

Tháng 10 – 2007

 

Xin tặng em một bông hoa đồng nội

Em ươm mơ trên hoa nội cỏ đồng

Chào ngày lên, đem ánh nắng ra hong

Ðón đêm đến, khi hoàng hôn buông xuống

 

Hoa Ðồng Nội, nở ngày mùa đến muộn

Tỏa hương lành từng vụ sống ấm êm

Khi chậm tay, khi hối hả, nhanh lên

Cùng chia sẻ giọt mồ hôi, cơm áo

 

Em có mặt, khi đất trời giông bão

Em an nhiên, khi mưa thuận gió hòa

Bởi vì em, vốn là một bông hoa

Từ đồng nội mang sắc hương thơm ngát

 

Hoa Ðồng Nội, cất tiếng reo ca hát

Tiếng nhặc khoan, đồng vọng tiếng hò đưa

Ðẹp thanh thiên, ôi, biết nói sao vừa

Như cỏ non hứng ngàn hạt sương trắng

 

Vầng đông hiện, em mỉm cười gió nắng

Hoàng hôn về, em nán đợi chiều hôm

Ngày ngày lên rảo nhẹ bước chân êm

Đêm đêm xuống vẳng nghe niềm xao xuyến

 

Đêm ơi đêm, sao thời gian dài quá

Ngày ơi ngày, hãy mở cửa đêm mơ

Kẻo chìm sâu, trống vắng đến dại khờ

Trời u uẩn, tiếc hoa đồng cỏ nội.

 

Hoa Không Tên

Tháng 10 – 2007

 

Xin tặng em, một bông hoa không tên không tuổi

Xin tặng anh, một bông hoa không tuổi không tên

Ðể nhìn đời bằng nỗi nhớ tìm quên

Ðể thương đời bằng tìm quên gởi nhớ

 

Ðóa hoa đó, em đã mang từ thuở

Vừa sinh ra, cất tiếng khóc chào đời

Rồi theo em, từng tiếng nói, câu cười

Chia sẻ những buồn vui, ngọt bùi, gian khó

 

Ðóa hoa đó, anh đã mang từ thuở

Bước vào đời trên mọi nẻo dọc ngang

Khi núi thét mưa rừng, khi sóng vỗ trường giang

Và thôi thúc tiếng nam nhi, đội trời, đạp đất

 

Tôi có mãi bên anh, trải qua nhiều dấu ngoặt

Tôi có mãi bên em, nâng đỡ bước chân mềm

Có nhiều khi, tôi thức trắng thâu đêm

Cùng bùi ngọt, canh tàn, trăng sao khóc

 

Tôi đứng bên anh, đồi cao đỉnh dốc

Tôi đứng bên em, đèo cả mênh mông

Ðể lắng nghe cái giá buốt mùa đông

Và lắng nghe cái oi nồng nắng hạ

 

Hoa Không Tên, ai mua, tôi không bán

Hoa Không Tên, ai bán, tôi không mua

Em, là đóa trinh nguyên, có sẵn bốn mùa

Ðể trao tặng cõi trần ai thống khổ

 

Không có tôi, nhưng em luôn vẫn nhớ

Không có tôi, nhưng anh mãi không quên

Bởi vì tôi, là một đóa không tên

Khi cảm nhận, có mặt nhau mãi mãi.

 

Hoa Tự Tôn

Tháng 10 – 2007

 

Hoa Tự Tôn, bím đời, ba hoa quá

Tự cho mình cao nhất, chẳng còn ai

Rồi đong đưa ngất ngưỡng ngồi trên đài

Đeo tự hào, tự kiêu, cống cao, ngã mạn

 

Hoa Tự Tôn, bím đời, sao quá đáng

Không hiểu câu, thiên hạ biết bao người

Nhưng người ta không đãi mép khua môi

Vì thẩm thấu, “cao nhơn tấc hữu cao nhơn trị”

 

Hãy nhìn xem, con ếch nằm đáy giếng

Rống thật to, rồi uệch uệch, oang oang

Ðâu biết rằng vo tròn trong nắp vung

Làm sao thấy trời cao và biển rộng

 

Hoa Tự Tôn, chết không còn đất sống

Huống chi đời, tinh tế lắm đó nghe

Ðừng mục hạ vô nhơn

Ðừng mặt đá mày dày

Không lẽ nói toạc ra

Thắng được người đã khó

Thắng được mình mới hay

Vậy mà từ xưa nay

Cứ oang oang đáy giếng

 

Hoa Tự Tôn, nói ra, là hết chuyện

Nên ở đời, biết sống, mới đáng khen

Ðừng đợi khi người ta vén bức rèm

Thì mặt mũi, còn đâu, nhìn thiên hạ

 

Hoa Tự Tôn, trên bờ cây khép lá

Báo cho người xấu xí cõi trần gian

Hễ gieo gì, thì nghiệp dĩ phải mang

Ðừng cứ mãi mành thưa che mắt thánh

 

Hoa Tự Tôn, Hoa Tự Tôn, muôn cánh

Xấu xí ơi, xấu xí ơi, nặng mùi

Hãy tỉnh lòng và vứt bỏ đi thôi

Biết bao tiếng cười chê, sao không biết ???

 

Hoa Tủi Thân

Tháng 10 – 2007

 

Hoa Tủi Thân xếp cánh sầu, khóc nắng

Dáng buồn buồn khép lá mộng, ru mưa

Ðêm tối tăm, ủ dột, đã dài chưa

Kéo lê thê, biết bao giờ được sáng

 

Hoa Tủi Thân đeo mảnh đời bất hạnh

Nở trong vườn muôn sắc của trần gian

Ðể những ai mang thân phận bẽ bàng

Vẫn còn có một bông hoa an ủi

 

Hoa Tủi Thân trên dọc đường lầm lũi

Khách lữ hành lững thững bước chân đi

Cánh hoa kia, có tên gọi là chi

Sao ủm thủm giống đời ta quá nhĩ

 

Người với ta, phải chăng, là tri kỷ

Ta với người, nào hẳn, kẻ tri âm

Thôi từ nay, làm đôi bạn tương lân

Cùng chia sẻ vui buồn trong nhân thế

 

Cuộc đời, là một bản trường ca, em nhé

Không cần đàn mà trổi khúc ngân vang

Khi đau thương, khi hạnh phúc kéo màn

Ðại nhạc hội, ai không là ca sĩ

 

Hát không cùng, ôi, bài hát tuyệt mỹ

Ca không cùng, ôi, bài ca tuyệt vời

Hát du dương cho tiếng hát đong đời

Ca réo rắt cho lời ca đồng vọng

 

Hoa Tủi Thân không bao giờ ai oán

Ðau buồn chi, trần thế biết bao người

Vốn đa mang tiếng khóc thay tiếng cười

Người ta sống, thì ta đây phải sống

 

Ðời, không phải lúc nào cũng hoa mộng

Ðời, không phải lúc nào cũng hoa mơ

Hạnh phúc, khổ đau, có sẵn tự bao giờ

Cùng hiện hữu, mới trở thành trần thế

 

Hoa Tủi Thân, xin tặng người bất hạnh

Xin tặng người may mắn cõi nhân gian

Trong cuộc đời đã biết bao lần mang

Ðừng quên tôi, mỗi khi lâm cảnh ngộ

 

Tôi tin chắc thế nào em vẫn nhớ

Tôi tin chắc làm sao anh sẽ quên

Biết bao lần đứng trên mỏm chênh vênh

Ðã mang tôi, Hoa Tủi Thân dai dẳng ???

 

Hoa Mặc Cảm

Tháng 10 – 2007

 

Này em hỡi, đeo chi Hoa Mặc Cảm

Này anh hỡi, mang chi đóa tự ti

Trên trường đời muôn nẻo cứ bước đi

Góc buồn thảm nhét bên lề cuộc sống

 

Hoa Mặc Cảm, không nhoẻn cười cao vọng

Không khinh đời, tự mãn, nở kiêu sa

Ai không từng đã lâm cảnh nhiêu khê

Ðừng ngồi đó mà than thân trách phận

 

Chính tôi đây, nở trên đầu ghềnh ráng

Rơi tận cùng hố thẳm của thương đau

Thất bại rồi, thì ngồi dậy, đứng lên, ngẩng đầu

Hoa Mặc Cảm đeo chơi trong giây lát

 

Tôi vẫn đứng trên đồi cao, ca hát

Tôi vẫn đứng dưới đáy vực, ngân vang

Sống ở đời, thì ngại gì trần gian

Trời đất rộng, khép mình chi cửa hẹp

 

Có thất vọng, mới có niềm hy vọng

Có bại thành, mới thấm những chua cay

Khi ra đời, ta đã trắng đôi tay

Thế thì nay, ngại gì hai tay trắng

 

Hoa Mặc Cảm, nghe trái sầu trĩu nặng

Chín nỗi niềm, khô héo cảnh trần ai

Từng nấc thang, bước lên nẻo thiên thai

Trả cái giá cuộc đời cần phải trả

 

Lúa mộng vàng trên đầu xanh lá mạ

Hoa nhoẻn cười từ phân bón ươm cây

Mặc cảm chi mà sầu mộng vơi đầy

Sông có khúc, đời người, ai không lúc

 

Hãy đưa tay vén bức màn héo hắt

Mở khung trời lồng lộng bước chân đi

Hoa Mặc Cảm sẽ lên tiếng thầm thì

Ðời là thế, có gì mà than thở !!!

 

Kết Vòng Tay Hoa

Tháng 10 – 2007

 

Kìa xem, cá lội trên đèo

Chim bay dưới nước, thuyền chèo trên non

          Kìa xem, sắt nhạt hơn son

Cong ngay hơn thẳng, méo tròn hơn vuông

          Ðố ai, ngậm trái bồ hòn

Mà không biết đắng, da mòn thịt thau

          Ðố ai, gông cũi đeo đầu

Mà không ô nhục con tàu trần ai

          “Thức đêm, mới biết đêm dài

Tối tăm, mới biết lối cài dặm băng

          Lên ngàn, thử hỏi cung trăng

Cây đa, Chú Cuội, Chị Hằng, đi đâu

          Rụng rơi, chín mấy trái sầu

Tang thương nát mấy biển dâu, nghiêng bờ

          Khom lưng đem đổ cơ đồ

Tiền nhân ơi hỡi, đáy mồ sao yên

          Sục sôi đến cả hoàng tuyền

Rung rinh đến cả hồn thiêng năm ngàn

          Nhìn trông, gạch lót trên đàng

Bắc cầu nối nhịp, bắc thang leo đèo

          Bắc thừng, nối cáp, dây treo

Cá tung tăng lội, chim vèo bay cao

          Thuyền xưa chở một bến nào

Sông sâu biển rộng ra vào mênh mông

          Vuông tròn trả lại sắt son

Trinh nguyên muôn thuở, kết Vòng Tay Hoa.

 

Kết một Đài Sen

Tháng 12 – 2007

 

Một ngày mai em nhé

Ta sẽ nói em nghe

Nhìn sông nước đây này

Nghe gì không sóng vỗ

 

Dừng tâm tư, bỏ ngõ

Cái gì vỗ, nói đi

Mở miệng, nện ba hèo

Ngậm câm, khư ba trượng

 

Nhìn thêm kia, lá phướng

Phất phơ trước gió lồng

Hỏi có gió hay không

Gió lộng hay phướng lộng

 

Và nhìn đây, nắm tuyết

Cái gì đóng tuyết băng

Mỉm cười, không nói năng

Như nụ hoa hàm tiếu

 

Hoa cười, ai có hiểu

Em cười, em hiểu hoa

Là đã kết nên tòa

Nở đài sen bát ngát.

 

Những Cánh Hoa Rừng

Tháng 3 – 2008

 

Giữa núi rừng có những bông hoa kỳ lạ

Nở thắm tươi, màu sắc tuyệt vời

Mỗi cánh hoa, có một nụ cười

Tô nét đẹp cho ngàn cây xanh lá

 

Sáng tinh mơ óng ánh làn sương nhẹ

Từng cánh hoa đón nắng đợi ngày lên

Nhoẻn nụ hoa như nét đẹp thần tiên

Thoáng hương bay, thơm núi rừng lộng gió

 

Vầng đông hiện, giọt sương sa, bỏ ngỏ

Từng cánh hoa, trĩu xuống, nhụy phô hình

Nhô lưng chừng, trên đồi núi nguyên trinh

Giữa thiên nhiên mở khung trời diễm ảo

 

Mỗi chiều về khép nụ mơ nho nhỏ

Đỡ nắng vàng, vén nhẹ ánh hoàng hôn

Mây lửng lơ, treo chót đỉnh chập chờn

Gió ngưng đọng, phủ màn đêm buông xuống

 

Những bông hoa kỳ lạ

Diễm tuyệt giữa núi rừng

Cho ngàn cây xanh lá

Cho nắng gió mưa rừng

 

Những bông hoa kỳ lạ

Bên dốc đá lưng đồi

Trời xanh vờn sắc thể

Mây trắng ngập ngừng trôi

 

Giữa núi rừng có những bông hoa kỳ lạ

Những bông hoa đẹp nhất của loài hoa

Những bông hoa đẹp nhất kết tòa

Hoa giữa núi rừng, bồng lai hạ giới.

 

Hoa Vũ Trụ

Tháng 4 – 2008

 

Hoa vũ trụ nở muôn ngàn tinh thể

Nở hằng sa vô số vạn tinh cầu

Xoay vô cùng ngàn xưa đến ngàn sau

Từ vô thỉ đến vô chung miên viễn

 

Hoa vũ trụ nở muôn ngàn vạn hữu

Bao hình hài vóc dáng của sinh linh

Bao kệch thô vi tế thật tài tình

Rồi kết nối lưu truyền sinh sôi mãi

 

Hoa vũ trụ nở muôn ngàn sinh thái

Sống vô cùng trong nhiễm thể sinh môi

Dù thời gian có vật đổi sao dời

Vẫn sinh tồn giữa mọi dòng biến chuyển

 

Hoa vũ trụ nở muôn ngàn kinh tuyến

Với muôn ngàn vĩ tuyến kết hư vô

Đồi núi, biển sông, đồng ruộng, ao hồ

Trời đất, trăng sao, ngân hà, thiên thể

 

Hoa vũ trụ nở muôn ngàn dương hệ

Mỗi thái dương cuốn hút bảo hòa nhau

Có ngày đêm sáng tối vút con tàu

Đi đi mãi trên vành hoa vũ trụ

 

Hoa vũ trụ đẹp vô cùng tuyệt thế

Tạo muôn loài rồi tự nở sinh sôi

Tạo muôn vật rồi tự biến đắp bồi

Sống sống mãi trên vành hoa vũ trụ.

 

Xuân Hoa bốn mùa

Tháng 4 – 2008

 

Xuân chưa đến, bởi đông dài rét buốt

Khép nụ hoa xếp lá trải đông băng

Mỉm cười, trông xuân diễm ảo xa xăm

Ta thách đố thử đông dài lạnh giá 

 

Xuân chưa đến, bởi hạ nồng oi ả

Xếp cành khô, ve réo gọi, kêu sầu

Mỉm cười trông, xuân nhân thế bao lâu

Ta thách đố, thử hạ nồng mấy độ

 

Xuân chưa đến, bởi thu tàn chín nụ

Lá vàng rơi tan tác bụi nắng mưa

Mỉm cười, trông thu tím đã vừa chưa

Ta thách đố, thử thu buồn mấy nẻo

 

Mỗi mùa đến, xuân chưa hề khô héo

Khi đúng thời, xuân thổi mộng ru bông

Bởi trần gian, vốn ôm ấp hoài mong

Nên không nhận, hương thơm xuân tự thể

 

Xuân có sẵn trong bốn mùa như thế

Không đông tàn, hạ trắng với thu phong

Không sầu vương lệ đá kiếm diêu bông

Ôm vọng tưởng tìm đâu bong bóng nước

 

Xuân bốn mùa nở trên ngàn diễm phúc

Vượt thời gian, ươm hương sắc trong lành

Vượt không gian, mỉm nụ mới tinh anh

Xuân tự thể trong hồn ai biết sống.

 

Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

thnhattan@yahoo.com.au

alt

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Mặc Giang ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 14:17:41 +0000
Tuyển tập thơ Mặc Giang: Hoa Đạo Pháp 01-8 http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6434-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-8.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6434-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-8.html  

01.  Hoa Vô Thường bất biến

02.  Hoa Không Sắc

03.  Hoa Từ Tâm

04.  Điểm nụ Không Hoa

05.  Hoa Rộng Lượng

06.  Hoa Dấn Thân

07.  Hoa Thân Thiện

08.  Hoa Nhân Ái

09.  Hoa Nhân Sinh

10.  Hoa Tình Thương

 

 

Hoa Vô Thường bất biến

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Vô Thường, hiển sinh dòng huyễn hóa

Tặng cuộc đời nhìn ngắm đóa ngân sương

Dù ra đi trên muôn hướng ngàn phương

Như ánh chớp, tia pha, bọt bèo, bào ảnh

 

Hoa Vô Thường, một đóa hoa không cánh

Gắn thực chơn thành muôn cánh phù vân

Mọi hiện hữu trong cuộc sống hồng trần

Như dòng chảy trùng trùng nhân duyên khởi

 

Hoa Vô Thường trổ bông từ vô thỉ

Ðến vô chung vẫn kết nụ phù hoa

Vẽ chân như thật tánh kết nên tòa

Như, như huyễn giữa muôn ngàn không sắc

 

Lật cánh hoa mang hình hài không sắc

Biến vô thường thành một đóa sắc không

Bóng hình thế núi, bóng dáng dòng sông

Nhìn bào ảnh, không còn sông núi nữa

 

Tự ngàn xưa, dòng huyễn sinh đã thế

Ðến ngàn sau, trổi muôn khúc hợp tan

Lắng tai nghe tiếng gảy của cung đàn

Không gảy nữa, tiếng đàn đâu cho biết

 

Lắng tai nghe trên cung bật còn mất

Tiếng đàn kia lại lên tiếng cung đàn

Ngân ngân vang theo nhịp khúc thời gian

Hoa Vô Thường vẫn còn đây, bất biến.

 

Hoa Không Sắc

Tháng 9 – 2007 

 

Xin tặng em một bông Hoa Không Sắc

Em mang đi trên mọi nẻo trường đời

Thấy gì không từ trong đó em ơi

Mọi không sắc hiện lên màu huyễn hóa

 

Ánh nhật lên vầng đông dần sáng tỏa

Hoàng hôn về ảnh hiện kết vầng trăng

Trùng dương kia kết một đóa hải đăng

Thuyền viễn xứ, đường về theo chỉ hướng

 

Nhìn qua sắc, một bóng hình có tướng

Nhìn qua không, hình tướng tự phan duyên

Lật lại qua, hai mặt của đồng tiền

Cả hai mặt, dường như không phải trái

 

Ðồng tiền mất, cái nào là phải trái

Hỏi áng mây, ai vẽ đóa phù vân

Hỏi bụi bay, ai vẽ đóa phong trần

Em diễm phúc mỉm cười Hoa Không Sắc

 

Hôm nay, em mang hình hài không sắc

Ngày mai, em ẩn hiện bóng sắc không

Như càn khôn, như bọt sóng, tương đồng

Em có mặt giữa muôn ngàn hiện hữu

 

Cho nên, xin tặng em một bông Hoa Không Sắc

Cho nên, xin tặng người một bóng dáng sắc không

Và mỉm cười trên muôn hướng ngàn phương

Khi cần có, sẽ hiện hình muôn thể.

 

Hoa Từ Tâm

Tháng 9 – 2007

 

Xin tặng em một bông hoa rạng rỡ

Nở trong lòng thành một đóa Từ Tâm

Thanh thiên hơn bát ngát của trăng rằm

Tỏa hương sắc thương yêu khắp cùng nhân thế

 

Hoa Từ Tâm, không cần ai đặt để

Tự nở ra từ nét đẹp tâm hồn

Hương tình thương chan chứa cả tấm lòng

Bay ngào ngạt hương yêu hòa điệu sống

 

Hoa Từ Tâm trổ bông trên đồng cạn

Biết mỉm cười nở rộ dưới đồng sâu

Tỏa hương bi mọi ngỏ ngách thương đau

Tỏa hương từ đến mọi nơi trầm thống

 

Hoa Từ Tâm, không cần cầu, bái vọng

Không ngã nhân, danh tướng, vị thân sơ

Tự xưa nay, mang sắc đẹp tinh mơ

Khắp nhân loại, đều ngợi ca trân quý

 

Trong cuộc đời, hỏi hoa nào tuyệt mỹ

Xin trả lời, là một đóa từ tâm

Có từ tâm, em mới có bi tâm

Tình nhân loại, cần tình thương để sống

 

Xin tặng em, một bông hoa chỉ hướng

Xin tặng người, một bông hoa để đi

Cả trần gian, sẽ trân quý tuyệt kỳ

Hoa Từ Tâm, cứu cho đời bớt khổ.

 

Ðiểm nụ Không Hoa

Tháng 10 – 2007

 

Ðem ghép chữ mà thành thơ mới lạ

Ðem ghép từ mà thành ngữ mới hay

Còn riêng tôi, không chứa một mảy may

Nắm cái không, nên tôi tha hồ bắt

 

Bẻ đi một điểm quặt

Ðã đánh mất chỗ cong

Cuốn xoáy đi một vòng

Ðã ngửa nghiêng nhật nguyệt

 

Ai bảo đó là biển băng, giá tuyết

Ta đốt lên một đóm lửa có không

Băng giá kia băng trinh, nhẹ hơn mảnh lông hồng

Cột chặt và treo lơ lửng mấy tầng vũ trụ

 

Ai bảo kia là bát nạn, tam đồ khổ

Ta đốt lên vạn hạnh đẹp như mơ

Vô số sinh linh trầm thống mong chờ

Sao lại ngại đường đi không có nẻo

 

Gắn trên cành khô héo

Một điểm nụ không hoa

Khắp pháp giới sáng lòa

Nụ không hoa rạng rỡ.

 

Hoa Rộng Lượng

Tháng 10 – 2007

 

Hoa Rộng Lượng núng lòng người nhỏ hẹp

Mở rộng ra cho đẹp lối nhân từ

Tội tình chi mà đóng cửa ngục tù

Sẽ ngọp thở trong căn hầm ích kỷ

 

Hoa Rộng Lượng nở nguồn tâm của ý

Vị nhân tình, vị nhân thế, vị tha

Ðường thênh thang lộng hương sắc châu pha

Thơm bát ngát trên hành trình cao quý

 

Khắc một triện son, treo thiện mỹ

Gắn một dấu ấn, lộng tấm gương

Không gì hơn tiếng nói tình thương

Trao nhân thế đèn tâm sáng tỏa

 

Hoa Rộng Lượng, xin em nâng một đóa

Hoa Nhân Từ, xin chị mở vòng tay

Xin người người, hãy mở rộng hôm nay

Ðể ngày mai, đầy lòng vàng chan chứa

 

Nhân thế, không còn những nơi đói khổ

Trần gian, không còn ngõ tối hẩm hiu

Vì đâu đâu cũng có nhịp cầu kiều

Bắc qua sông giàu nghèo reo tiếng hát

 

Hoa Rộng Lượng là cung đàn tiếng nhạc

Là lời ca cao vút tiếng tình thương

Là nhịp cầu bắc muôn hướng ngàn phương

Cùng hòa tấu vạn lời ca nhân ái.

 

Hoa Dấn Thân

Tháng 10 – 2007

 

Hoa Dấn Thân, hiến cho đời phụng sự

Tặng cho người giàu tâm lực cưu mang

Tặng cho ai có những tấm lòng vàng

Cho sức sống bình minh reo gió nắng

 

Hoa Dấn Thân, mọc trên rừng hoang vắng 

Nở trong đầm, dưới hố thẳm thâm u

Giữa đồng khô, băng suối nhỏ, ao tù

Vào sông lớn, hát trời cao biển rộng

 

Hoa Dấn Thân, đức trượng phu gối mộng

Hạnh quân tử làm đức độ kê đầu

Ðêm không trăng, nhờ ánh chớp hỏa châu

Đêm tăm tối, nhờ bàn tay tiếp lửa

 

Em đã có, xin em làm thêm nữa

Anh đã có, xin anh cứ miệt mài

Nếu chỉ sống riêng mình, không biết sống cho ai

Cũng mệt mỏi, cũng già, và ngày mai cũng chết

 

Chết là lẽ thường tình, ai ai cũng chết

Sống, không biết sống cho ai, sống cũng dư thừa

Nếu biết sống, một ngày trọn vẹn, đẹp như mơ

Không biết sống, dù có trăm năm, thêm chật đất

 

Hoa Dấn Thân, xin người người mạnh bước

Một bàn tay, kết nối vạn bàn tay

Một bước chân, kết nối vạn bước chân

Trao bông hoa dấn thân và phụng hiến.

 

Hoa Thân Thiện

Tháng 10 – 2007 

 

Hoa Thân Thiện, lòng người không ngăn cách

Không khép khung, đóng kín cổng, cao tường

Không hàng rào, hàng giậu vượt quá tầm

Mắt nhắm mở, nhiều gai đâm mách xé

 

Hoa Thân Thiện, hát câu hò khe khẽ

Tình tương thân, tương ái, vạn lời ca

Tình ấm êm chan chứa khắp mọi nhà

Nếu ai ai cũng có lòng rộng mở

 

Hoa Thân Thiện tỏa mùi hương biết thở

Ðể hai chiều không bít lối, nghẽn tim

Thở không ra, mạch máu lại tăng lên

Tràn lên óc và bầm gan, tím mặt

 

Hoa Thân Thiện, xóa tan đi rắng mắc

Mở đôi đàng kết nối lại thân thương

Mà lâu nay cắt đứt bỏ bên đường

Thật uổng phí những tình thân đánh mất

 

Hoa Thân Thiện, thật bình thường, chơn chất

Vốn gần nhau và có mặt bên nhau

Như miếng trầu, lại có thêm miếng cau

Cộng chút vôi, ôi mặn mà hết ý

 

Hoa Thân Thiện nở trên đầu sông Vị

Xuống sông Thương vang vọng vạn lời ca

Tình thân thương chan chứa đến mọi nhà

Tay bắt, mặt mừng, hòa nhau chung sống.

 

Hoa Nhân Ái

Tháng 10 – 2007

 

Hoa Nhân Ái cho lòng người thêm đẹp

Biết tương kính, tương yêu, tương ái, tương thân,

Biết tương hoan, tương hỷ, tương nhượng, tương lân

Tương càng lớn thì nhân càng cao quý

 

Hoa Nhân Ái, trao cái nhìn thiện mỹ

Biển trần ai sẽ trổ đóa tin yêu

Biển gian truân sẽ đơm nụ mỹ miều

Xây dựng lại những hoang tàn đổ nát

 

Hoa Nhân Ái, em cất cao tiếng hát

Anh hòa ca theo điệp khúc chân tình

Người người vui, reo ánh sáng bình minh

Cơn gió mát mang óng vàng nắng mới

 

Cùng hân hoan trên đồi cao dịu vợi

Cùng sẻ chia trên môi thắm hoa cười

Chim reo mừng cùng ca hát vui tươi

Người người trổi, khúc tình ca nhân ái

 

Gởi ngăn cách đi ra ngoài quan ải

Gởi tỵ hiềm xuống hố thẳm chìm sâu

Bởi mây mù nhân ngã phủ ngập đầu

Ðã đánh mất tình thân thương nhân ái

 

Kể từ nay, xin đừng ai ái ngại

Hãy cắt cành, hoa nhân ái trao nhau

Người với người, hết sỏi, đá, chì, thau

Chỉ còn lại màu hoàng kim thân mến.

 

Hoa Nhân Sinh

Tháng 10 – 2007

 

Hoa Nhân Sinh, ươm dòng đời và sự sống

Cho người người cùng reo khúc hòa ca

Cho người người cùng kết trái đơm hoa

Cùng trân trọng tình người là hơn hết

 

Hoa Nhân Sinh mọc trên những tỳ vết

Những hận thù, những ai oán làm phân

Hoa Nhân Sinh hòa nhân ái nảy mầm

Từ ũng thối tạo thành cây trái ngọt

 

Diệt hờn căm theo chiều dài chất ngất

Diệt hơn thua theo lịch sử đẳng đeo

Chiến tranh, khủng bố, đối trả, quẳng xuống đèo

Kỳ thị, chủng tộc, màu da, treo gió thổi

 

Xương tan, thịt nát, máu rơi,

là ô nhục tồi tàn muôn thuở

Tranh tối, tranh sáng, gườm nhau, 

Không phải là văn minh, tiến bộ, con người

Hoa Nhân Sinh, trồng trong vườn hoa nhân loại xinh tươi

Khắp thế giới, vút cao tiếng hát hòa bình thánh thiện

 

Tặng cho nhau Hoa Nhân Sinh kiều diễm

Tặng cho nhau Tình Nhân Loại bao la

Tình anh em trong bốn biển một nhà

Cùng ca hát trên đồi cao thế kỷ.

 

Hoa Tình Thương

Tháng 10 – 2007

 

Hoa Tình Thương trên phiêu trầm phù thế

Xoa dịu người đau khổ cõi trần gian

Sống hẩm hiu, đầy cay đắng ngập tràn

Ðánh đổi cả cuộc đời không trả nổi

 

Hoa Tình Thương nở những nơi tăm tối

Xóa bóng đen, mang chút sáng hiện về

Ðể dòng đời, thôi ác mộng trong mê

Bừng tỉnh dậy, da gà còn sởn ốc

 

Hoa Tình Thương trổ bông, thơm ngào ngạt

Cho người người chung sức sống thăng hoa

Một bông hoa thành muôn vạn đóa hoa

Không khô cứng trên pháo đài yêu ghét

 

Hoa Tình Thương, thắp lòng người nến ngọc

Gieo cam lồ dịu ngọt, ngát hương thơm

Chan tình người, xẻ manh áo, chén cơm

Khơi bếp lửa sưởi hồng cơn ấm lạnh

 

Em bé nghèo được miếng quà, miếng bánh

Trẻ cơ cùng được bút mực, sách đèn

Nước văn minh, đừng ủ vật chất, lên men

Nước chậm tiến, đừng vắt cần lao, chết đói

 

Hoa Tình Thương, hết đạn bom, hận thù, lửa khói

Nghe lương tâm, nhìn nước mắt biết đau

Nghe trái tim, khóc da nát thịt thau

Vì sự sống, cùng khai thông dị biệt

 

Hoa Tình Thương, tương thân tha thiết

Hoa Tình Thương, tương ái mặn nồng

Nước khác nguồn, trôi muôn nẻo, kéo về sông

Năm đại dương, năm đại lục, mọi màu da

Ðồng thăng hoa tiệm tiến.

 

Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

thnhattan@yahoo.com.au 

alt

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Mặc Giang ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 14:15:56 +0000
Tuyển tập thơ Mặc Giang: Hoa Đạo Pháp 01-7 http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6433-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-7.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6433-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-7.html  

01.  Hoa Chánh Pháp

02.  Hương thơm giải thoát

03.  Hoa Phật Pháp

04.  Hoa Giác Ngộ

05.  Vạn đóa hoa

06.  Hoa Chánh Đạo

07.  Hoa Vô Lượng Tâm

08.  Hoa Bồ Đề Tâm

09.  Hoa Tu Tập

10.  Hoa Giải Thoát

 

 

Hoa Chánh Pháp

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Chánh Pháp nở trong vườn giác ngộ

Tỏa hương thơm thấu triệt giữa chánh tà

Cho chúng sanh khắp đại địa ta bà

Dung tam thế, nhiếp mười phương, ba cõi

 

Hoa Chánh Pháp vẫn muôn đời chiếu rọi

Xóa tan đi bóng dáng của vô minh

Diệt mê si, mê hoặc, đến mê tình

Ðừng đánh lận ma cường hay pháp nhược

 

Hoa Chánh Pháp, không có cường có nhược

Không có đường mượn Phật nói chuyện ma

Không có phương mượn chánh lấp nẻo tà

Phật là Phật, ma là ma, rõ mặt

 

Hoa Chánh Pháp, không đi ngang về tắc

Không bẻ cong, không đi ngược về xuôi

Dù hằng sa, cũng biết rõ mười mươi

Nào có nghĩa một hai, lòa nhân thế

 

Dùng đuốc tuệ chiếu muôn ngàn vi tế

Dùng chánh tâm quét sạch mọi tà tâm

Không thân sơ, không vị nể, sụp hầm

Hoa Chánh Pháp bừng hương thơm pháp giới.

 

Hương thơm giải thoát

Tháng 9 – 2007

 

Em hãy trồng khu vườn Hoa Giác Ngộ

Anh hãy gieo hạt giống Ðạo Từ Bi

Ðường Tứ Thánh, an lành, dắt nhau đi

Hỡi nhân sinh, khép khung trời nhỏ hẹp

 

Hãy vượt qua bức tường thành cưỡng ép

Hãy băng qua đáy hố thẳm tỵ hiềm

Quét sạch đi bờ đố kỵ, nhỏ nhen

Mở đại lộ nhân từ reo chánh đạo

 

Tiếng sân si, không trở thành giông bão

Tiếng oán cừu, không thành sóng phân tranh

Lửa vô minh, cùng dập tắt tơ mành

Thì nhân thế sẽ hòa bình miên viễn

 

Ðường tu tập cùng nhau đi tiệm tiến

Ðạo nhiệm mầu cùng hạ thủ công phu

Tự xưa nay, bởi ta là rùa mù

Chìm biển khổ, bộng cây xa mút nẻo

 

Giữa Mê - Ngộ, một âm ba tích tắc

Giữa Thánh - Phàm, ngắn ngủi một lằn ranh

Hãy nhìn kia, bừng một đóa tinh anh

Em và anh đã vun trồng từ đó

 

Em rảo bước qua vườn Hoa Giác Ngộ

Anh rong chơi trên đại lộ từ bi

Cuộc đời ta sẽ chuyển hóa huyền vi

Trao nhân thế mùi hương thơm giải thoát.

 

Hoa Phật Pháp

Tháng 9- 2007

 

Hoa Phật Pháp gieo trên vườn nhân thế

Cho người người gặt hái đóa từ bi

Vượt trùng dương, băng giới tuyến phân ly

Thơm bát ngát hương tin yêu, sự sống

 

Hoa Phật Pháp đi vào nơi điểm nóng

Sẽ xóa tan những bức xúc oán cừu

Những hơn thua tranh chấp gởi thiên thu

Biết nhìn nhau cảm thông tình nhân loại

 

Hoa Phật Pháp đi vào nơi lửa khói

Tiếng hoan ca reo khúc hát hòa bình

Bom đạn tàn theo dấu vết chiến chinh

Chan tình tự đơm bông hòa điệu sống

 

Hoa Phật Pháp băng qua mọi giới tuyến

Không phân chia lãnh thổ, phong tục, chủng tộc, quốc gia

Vượt trường thành vạn lý giàu nghèo, vật chất, trầm kha

Các màu da, chung vuờn hoa nhân loại

 

Không còn đâu là điểm nóng điểm lạnh

Không còn đâu là biên giới tang thương

Cùng dựng xây, trang trải đóa thanh lương

Hương dịu ngọt ấm lòng đêm giá lạnh

 

Phải thế không em, trao cho nhau lành mạnh

Phải thế không anh, trao cho nhau thăng hoa

Hoa Phật Pháp, nâng hai tay, kết tòa

Lòng nhân thế kể từ nay, hướng thượng

 

Cả thế giới, hãy cùng nhau quy hướng

Cả nhân loại, hãy cùng nhau tin yêu

Mỉm cười nhau, trao tặng đóa yêu kiều

Cõi trần gian bừng bông Hoa Phật Pháp.

 

Hoa Giác Ngộ

Tháng 7 – 2007

 

Hoa Giác Ngộ kết sáu thời tu tập

Hoa Hành Trì quyết hạ thủ công phu

Tu đến khi chỉ còn một chữ NHƯ

Cũng dứt bỏ bước lên bờ bỉ ngạn

 

Hoa Giác Ngộ trổ lên rồi, bừng sáng

Dứt trầm luân khổ ải tự xưa nay

Không có Ðông, mà cũng không có Tây

Không có Nam, mà cũng không có Bắc

 

Phật tánh, không phân chia : màu da, chủng tộc

Phật tâm, không mắc kẹt : cao thấp, nghèo giàu

Phật từ, không mắc cạn : bến cát, bờ lau

Phật quang, khắp mười phương phổ chiếu

 

Hoa Giác Ngộ, ngát hương hoa hàm tiếu

Mỗi chúng sanh là một đóa vô ưu

Dung ba thời, chuyển ba thế, truyền lưu

Cùng xuất xử, cộng nhập Tỳ Lô Tánh Hải

 

Hoa Giác Ngộ du thuyền vô quái ngại

Ðộ chúng sanh khắp pháp giới mười phương

Ðèn trí tuệ soi sáng vạn nẻo đường

Ðánh bật gốc mọi trần sa phiền não

 

Hoa Giác Ngộ trổ bông đường thánh đạo

Ðạt chơn thường, chứng đạo lý thường chơn

Chứng đạo ca, tô thêm một điểm son

Hòa hương sắc nhiệm mầu vô thượng giác.

 

Vạn Ðóa Hoa

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Diệu Liên, em trồng đầm ba cõi

Hoa Hạnh Nguyền, em gieo ao sáu đường

Hoa Từ Bi, em rải trời đau thương

Hoa Bồ Ðề, em ươm đất phiền não

 

Hoa Chân Lý trổ bông bờ huyễn ảo

Hoa Chân Như kết nụ bến diêm phù

Hoa Minh Châu tỏa ngọc chốn thâm u

Hoa Bất Hoại ngát đôi bờ không sắc

 

Hoa Thanh Tịnh mọc trên đất bất tịnh

Hoa Ưu Ðàm ngát tỏa nẻo vô minh

Hoa Kim Cương trổi ngọc chốn điêu linh

Hoa Bất Thối thơm hương trời điên đảo

 

Hoa Tín Tâm, em ươm ngôi Tam Bảo

Hoa Tín Nguyện, em kết cõi Lạc Bang

Hoa Tín Hành, em dệt khắp đạo tràng

Hoa Vạn Hạnh, em xây đường lục độ

 

Hoa Nguyện Từ, em lên đường cứu khổ

Hoa Nguyện Bi, em xoa dịu thương đau

Hoa Nguyện Trí, em kết hạt minh châu

Hoa Nguyện Huệ, em rạng soi pháp giới

 

Chúng sanh khổ, mang tâm nguyền tự độ

Chúng sanh đau, mang tâm nguyện độ tha

Một bông hoa kết nối Vạn Ðóa Hoa

Hoa Bất Diệt chuyển mười phương tam thế.

 

Hoa Chánh Ðạo

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Chánh Ðạo, thơm mùi hương chơn thật

Khách lữ hành biết đúng hướng mà đi

Tránh phù trầm mê hoặc, dù một ly

Sẽ lầm lạc ngàn xa hơn vạn dặm

 

Hoa Chánh Ðạo, tỏa hương thơm tĩnh lặng

Không vẽ tô, sơn phết đủ sắc màu

Ðạo càng tô, càng sai lệch chìm sâu

Như rùa mù còn ăn thêm bánh vẽ

 

Hoa Chánh Ðạo, không nương quyền cậy thế

Không sa mù để đánh lận con đen

Có tội không, nghiệt ngã con dế mèn

Núp bóng đêm mơ màng phiêu lưu ký

 

Hoa Chánh Ðạo, chận trên đầu của ý

Ðẩy bất chân, bất chánh, hết đường đi

Biết nhận chân đạo lý bất tư nghì

Ðường bát chánh trổ bông Hoa Chánh Ðạo

 

Hương pháp thân uyên áo

Tỏa pháp Phật nhiệm mầu

Tu tập không vị cầu

Mới thường, lạc, ngã, tịnh

 

Hoa Chánh Ðạo, cao ngần Linh Sơn đỉnh

Tỏa sắc hương cao cả lý chơn thường

Bồ đề tòa, điều ngự Ðấng Pháp Vương

Chúng sanh nguyện, kết đài vô thượng giác.

 

Hoa Vô Lượng Tâm

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Vô Lượng Tâm nở trên đường lục độ

Cứu chúng sanh vô lượng số hàm linh

Ðã từ lâu chìm khổ hải cực hình

Quên đi mất con đường về quê cũ

 

Hoa Vô Lượng Tâm ươm nhụy hương hội tụ

Tỏa thanh lương đi muôn hướng phân kỳ

Trải trần gian nhuần ánh đạo từ bi

Lòng nhân thế thấm mưa nguồn pháp vũ

 

Một sinh linh còn lầm đường lạc lối

Hạnh độ tha còn nhủ bóng từ ân

Một sinh linh còn nay lựa mai lần

Nguyện cứu đời còn dang tay dìu dắt

 

Ðây là con đường tắt

Ðây là con đường dài

Pháp thượng thừa ngàn muôn hướng, không hai

Tùy trình độ, căn cơ mà chỉ hướng

 

Ðây là tánh là tướng

Ðây là nhân là duyên

Khi nhận chân được chân lý diệu huyền

Dung tất cả để trở thành quy nhất

 

Hoa Vô Lượng Tâm, tỏa hương nghiêm mật

Khách lữ hành hưởng đúng vị khai tâm

Quyết hành trì y như pháp thậm thâm

Sẽ hiển lộ trong ngôi nhà giải thoát.

 

Hoa Bồ Ðề Tâm

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Bồ Ðề Tâm, nở trên phiền não

Tỏa hương lành ngào ngạt khắp mười phương

Ðưa chúng sanh về bờ bến thanh lương

Rong bốn biển du thuyền reo bát nhã

 

Hoa Bồ Ðề Tâm, ngàn cây xanh lá

Ðẹp tâm hoa gieo rắt ánh đạo vàng

Chiếu muôn phương ngời sáng bóng thiều quang

Khắp trần gian không còn đâu tăm tối

 

Hoa Bồ Ðề Tâm, nụ hoa biết nói

Ðây đạo mầu giác ngộ, Ðấng Từ Bi

Nếu biết tu, đạo lý, quả vô nghì

Ðường giải thoát, ai tu đều được chứng

 

Hoa Bồ Ðề Tâm, mười phương Thánh Chúng

Ðến hồng trần lục đạo kiếp phàm nhân

Nở tâm hoa, người đó sẽ dự phần

Nhập hoa tạng huyền môn vô thượng giác

 

Hoa Bồ Ðề Tâm, hương bay ngào ngạt

Ðuốc tuệ rạng ngời, năm sắc hào quang

Khắp chúng sanh hòa reo ánh đạo vàng

Vì nghiệp đạo, bồ đề tâm bất thoái.

 

Hoa Tu Tập

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Tu Tập xóa tan ba nghiệp chướng

Tỏa sắc hương vượt thoát khỏi tam đồ

Rải nhụy vàng tươi thắm mảnh tàn khô

Ðeo đẳng mãi, nát tan bao cuộc lữ

 

Hoa Tu Tập phá tường thành hùng cứ

Ðập vỡ toang những ốc đảo lao tù

Ðánh tan tành cái bản ngã thâm u

Ðã muôn kiếp đọa đày trong ngục tối

 

Hoa Tu Tập nở trên đồi vời vợi

Ðổ tỵ hiềm, ích kỷ xuống vực sâu

Rải công danh, phú quý chảy qua cầu

Trổ dấu ngọc trên hành trình hoằng hóa

 

Hoa Tu Tập chuyển dòng đời hết khổ

Nở từ tâm, ban đức độ, tin yêu

Một người tu, kết muôn đóa diễm kiều

Vạn người tu, kết lạc bang pháp giới

 

Hoa Tu Tập xóa tan đi bão thổi

Xây an lành trước sóng vỗ triều dâng

Một đóa hoa, vạn thọ sẽ thơm hương

Muôn đóa hoa, ngạt ngào reo nhân thế

 

Hoa Tu Tập nở trong vườn giác ngộ

Mỗi nhân sinh nương ánh đạo từ bi

Khắp nhân gian cùng dẫn dắt nhau đi

Trái đất này đâu còn ta bà nữa.

 

Hoa Giải Thoát

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Giải Thoát ngát mười phương pháp giới

Cho chúng sanh qui ngưỡng đạo từ bi

Ba cõi sáu loài biết hướng mà đi

Ðã lầm lạc, trầm luân từ vô thỉ

 

Hoa Giải Thoát tỏa hương chân thiện mỹ

Mọi chúng sanh trên khắp cõi trần gian

Xin chắp tay về dưới ánh đạo vàng

Ðêm tăm tối rạng soi đèn trí tuệ

 

Chúng sanh khổ lặn hụp trong bốn bể

Nước mắt nhiều hơn bốn biển đại dương

Ðem khổ đau vùi dập bến tang thương

Bãi nương dâu lấp điền tang hải biến

 

Tham sân si, bậc thầy của đạo diễn

Ðeo tam đồ, làm con rối hát ca

Thì làm sao không thống nỗi ta bà

Lại trách cứ than thầm cho duyên kiếp

 

Biến sinh linh thành tác nhân tội nghiệp

Biến muôn loài nô lệ những tiền khiên

Dây oán trái kết chặt sợi não phiền

Không tỉnh ngộ, muôn đời đeo đẳng mãi

 

Hoa Giải Thoát, em ơi vô quái ngại

Tỏa hương lành mầu nhiệm lắm, người ơi

Một bước đi, im bặt hết tăm hơi

Diệt bóng dáng luân hồi trong ba cõi

 

Hoa Giải Thoát tỏa vô sinh vô tử

Tỏa hương lành, vi diệu tướng pháp thân

Như trăng ngàn trong vắt ánh tường vân

Dung pháp giới, không còn đâu ngằn mé

 

Trao cho nhau niềm tin yêu tuyệt thế

Hương từ bi, hoa giải thoát nhiệm mầu

Sáng trong ngần ánh ngọc tỏa minh châu

Bóng từ quang soi khắp cùng đại thể.

 

Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

thnhattan@yahoo.com.au

alt

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Mặc Giang ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 14:13:28 +0000
Tuyển tập thơ Mặc Giang: Hoa Đạo Pháp 01-6 http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6432-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-6.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6432-tuyen-tap-tho-mac-giang-hoa-dao-phap-01-6.html  

01.  Hoa nở giữa rừng hoang

02.  Hoa Chân Lý

03.  Hoa Bất Diệt

04.  Hoa Vũ Trụ

05.  Hoa Đạo Pháp

06.  Hoa Vô Thường

07.  Hoa Tạng trổ bông

08.  Hoa Diễm Hằng mỉm nụ

09.  Hoa Chơn Thường

10.  Hoa Từ Bi Hỷ Xả

 

Hoa nở giữa rừng hoang

             Tháng 5-2005

 

Ai có nghe cõi trần gian đau khổ

Ai có nghe người nhân thế mỉm cười

Trên rừng hoang có những đóa hoa tươi

Mọc xen kẽ giữa cỏ cây hoang dại

 

Đời đau khổ bỡi phù du thành bại

Đời còn vui bỡi dạo bước nhân gian

Đem tin yêu đắp vá những bẽ bàng

Mang hy vọng gắn hàn trên đổ nát

 

Trong tiếng khổ vẫn còn nghe tiếng hát

Trong niềm đau vẫn vang vọng lời ca

Để nhân sinh sống nổi cảnh ta bà

Cho con người vượt nhiều phen gió bụi

 

Thác róc rách trên đèo heo hóc núi

Nước khơi nguồn chìm nổi giữa lòng khe

Áo gấm kia lại còn bọc vải the

Còn gai bố lại chai sần rách vá

 

Đường khổ ải hãy trèo lên dốc đá

Nhặt tiêu điều cho hết những tàn khô

Khơi rộng thêm cho thư thả ao hồ

Để giao tiếp với suối nguồn sông biển

 

Đất bao la cản ngăn chi giới tuyến

Trời bao la chia cắt chi tầng không

Hãy nhìn kia cái giá buốt mùa đông

Vẫn còn ấm lửa hồng trong nắng hạ.

 

Hoa Chân Lý

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Chân Lý nở trên dòng bất nhị

Ðưa muôn loài về tánh thể nhất nguyên

Ðể nhận chân, lý vô thượng diệu huyền

Luôn hiện hữu, giữa đôi bờ không sắc

 

Hoa Chân Lý tỏa thường hằng bất diệt

Nở an nhiên cho vạn hữu tồn sinh

Một là hai, hai là một, nguyên trinh

Không biến hoại trên hành trình còn mất

 

Hoa Chân Lý vượt trụ thành đắc thất

Kim cương tòa bừng tỏa ánh minh châu

Tỏa ngũ sắc thanh thiên mọi nhịp cầu

Dung tất cả trên dòng sông tam thế

 

Không kẹt giữa rừng vô minh nghẹt thở

Không vướng vào biển sinh tử trầm mê

Ngàn năm trước, vẫn là núi Tào Khê

Ngàn năm sau, vẫn là sơn Linh Thứu

 

Hoa Chân Lý, em ơi, đừng có hỏi

Hoa Ưu Ðàm, em ơi, thật huyền vi

Nhận ra rồi, em cứ bước chân đi

Giác hữu tình, cùng hòa reo tiếng hát

 

Ngọn bát phong, tan hoang bên bờ cát

Lửa tam đồ, xơ xác cạnh bờ lau

Hoa Chân Lý trăng trắng như hoa cau

Thơm bát ngát trên đường về quê cũ.

 

Hoa Bất Diệt

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Bất Diệt nở trên dòng sinh diệt

Cỡi vô thường để tỏa đóa vô sanh

Biển trần gian, hiện hữu nét tinh anh

Ta bà khổ, bừng minh châu muôn thuở

 

Hoa Bất Diệt ngàn đời, ta vẫn nhớ

Tỏa chơn thường, vạn thuở, ta không quên

Trên lộ trình Bồ Tát đạo, thênh thênh

Ðưa chúng sinh bước lên đường Tứ Thánh

 

Hoa Bất Diệt vào tam đồ giá lạnh

Cửa tam vô, bừng ánh đạo từ bi

Ngân tiếng chuông đạo lý bất tư nghì

Tan tất cả biển trầm luân thống khổ

 

Này em hỡi, ta biết nhau từ đó

Này em hỡi, ta còn nhau muôn đời

Như mây trời, cỡi sóng bạc rong chơi

Như trùng dương, du thuyền, reo bát nhã

 

Một là một, ta còn đây tất cả

Ðường quy nhất, ta có mất gì đâu

Hoa Bất Diệt chính là đóa minh châu

Tâm như như, vốn thường hằng miên viễn

 

Vẫy chào nghe, leo lên đò vĩ tuyến

Không còn đau, tiếng vỗ khóc ly tan

Hoa Bất Diệt ngợi ca ánh đạo vàng

Tỏa bát ngát khắp mười phương ba cõi.

 

Hoa vũ trụ

Tháng 9 – 2007

 

Hoa vũ trụ nở ra vầng nhật nguyệt

Ðể Thái dương xoay chuyển có đêm ngày

Tạo sự sống hiện sinh trái đất này

Con người và vạn vật chung nhau hòa điệu

 

Hoa vũ trụ thắp vầng trăng vi diệu

Ðể đêm đêm bừng tỏa ánh trăng ngàn

Tạo an lành trang trải khắp trần gian

Chứ nếu không, nửa dòng đời khép lại

 

Hoa vũ trụ nở hằng sa tinh tú

Ðể bảo hòa vô hạn cõi thái hư

Một ánh sao mờ, không có chỗ dư

Một ánh sao băng, không hề biến mất

 

Ta vén tay, đỡ vành hoa vũ trụ

Xoay và nhìn từng cánh thắm càn khôn

Từ li ti đến biến hóa vô cùng

Như Hoa Tạng trùng trùng nhân duyên khởi

 

Nơi ta đi, không đâu là chỗ tới

Nơi ta đến, không đâu chẳng nẻo về

Như đi trên thềm vũ trụ nở hoa

Nhìn sắc thể đi qua từng cánh mở.

 

Hoa Ðạo Pháp

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Ðạo Pháp nở trên dòng sinh diệt

Tỏa hương từ khắp ba nẻo sáu đường

Tỏa hương bi khắp pháp giới mười phương

Cho vạn hữu kết cành dương cam lộ

 

Hoa Ðạo Pháp đã hiển sinh từ độ

Khi đất trời thành trụ thuở hồng hoang

Khách lữ hành lưu lại những điểm son

Ðường vô tận không nhạt nhòa dấu vết

 

Mỗi nhân sinh đi qua dòng không sắc

Mỗi bóng hình tan tụ bước tử sinh

Vẫn còn mang mãi mãi nét nguyên trinh

Chân tánh thể không phôi pha hư huyễn

 

Hoa Ðạo Pháp vượt muôn ngàn giới tuyến

Tỏa đạo vàng thắm nhuận khắp muôn phương

Tỏa từ bi chan sức sống tình thương

Cho vạn loại xóa tan bờ ngân ngã

 

Hoa Ðạo Pháp đơm bông thuyền bát nhã

Ðưa chúng sinh vượt biển khổ trầm luân

Cứu chúng sinh vì tam độc quên mình

Ðáo bỉ ngạn ngời minh châu rực sáng

 

Hoa Ðạo Pháp, muôn đời luôn tỏ rạng

Qua ba thời, ngát hương đạo từ bi

Cỡi vô thường, thắp đuốc lên mà đi

Dòng sinh tử, ngát hương Hoa Ðạo Pháp.

 

Hoa Vô Thường

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Vô Thường nở trên dòng nhân thế

Ðể tặng người đang sống cõi trần gian

Ngắm nhụy hương tan hợp - hợp tan

Bay phảng phất đi qua bờ không sắc

 

Hoa Vô Thường nở trên dòng sinh diệt

Tặng nhân gian hiểu chân lý cuộc đời

Ðã đắm chìm trong ba cõi nổi trôi

Ði đi mãi trên sáu đường hư huyễn

 

Hoa Vô Thường nở trên bờ vĩ tuyến

Tặng nhân sinh qua khúc rẽ đò ngang

Bên này bờ là dòng sống mênh mang

Bên kia bờ là phương trời ly khách

 

Hoa Vô Thường luôn luôn chuyển mạch

Tỏa đổi thay từng một sát na

Tỏa mất còn từng một âm ba

Kết hòa hóa trước muôn ngàn hiện hữu

 

Xin tặng cho anh đóa Vô Thường tuyệt mỹ

Xin tặng cho em đóa Vô Thường tinh anh

Xin tặng cho người đóa Vô Thường thiên thanh

Ði, đi khắp trên ba đường sáu nẻo.

 

Hoa Tạng trổ bông

Tháng 9 – 2007

 

Ði đâu, không bằng quê nhà

Với cơm dưa muối, với cà dầm tương

Ði đâu, không bằng quê hương

Có người thân, với tình thương quê mùa

Không cần ai bán ai mua

Không xua Nắng Hạ, không lùa Gió Ðông

Không Xuân cầu sắc cạnh hồng

Không Thu tím ngắt theo dòng buông trôi

Không treo nhân ảnh đãi bôi

Không tô nhân ngã lở bồi trần gian

Ði đâu, dù có trăng vàng

Nhưng trăng không bước trên ngàn rong chơi

Ði đâu, dù có mưa rơi

Nhưng không tí tách ngỏ lời thùy dương

Ði đâu, dù rộng muôn đường

Nhưng không rung nhịp vấn vương dặm dài

Nhìn góc biển, có thiên nhai

Nhìn hải giác, có phương đài riêng ta

Chẳng hôm nay

Chẳng hôm qua

Chẳng ngay mai

Vắt vảnh thiên thư

Vũ trụ không chỗ dư

Hư vô không chỗ trống

Búng ngón tay, cuối đỉnh đồi đồng vọng

Bặt âm vang, tịch lắng chốn vĩnh băng

Ta nghe tiếng diễm hằng

Ngân pháp âm bất tuyệt

Ta nghe vô sinh vô diệt

Reo tiếng hát núi Tỳ Lô

Thấy âm linh ngủ kín đáy mồ

Chợt tỉnh hồn mừng vui thức dậy

Những bậc Thánh Ðức an nhiên đại định

Xuất thần trổi khúc hoan ca

Ðâu không là của ta

Căn nhà nguyên trinh nhiệm thể

Ðâu, không là chỗ đến

Ðâu, chẳng phải đường về

Nụ cười hàm tiếu nguyên sơ

Vũ trụ ngàn sao lấp lánh

Riêng ta, tự thể, bao giờ

Trùng trùng Hoa Tạng trổ bông.

 

Hoa Diễm Hằng mỉm nụ !

Tháng 9 - 2007

 

Những bông hoa trên dọc đường sỏi đá

Mỉm nụ hồng giữa cát bụi sương sa

Trải nắng mưa đong giọt đọng cánh hoa

Trĩu xuống thấp la đà phô nhụy trắng

 

Mưa tạnh hột, mây tan dần, hé nắng

Giọt mưa rơi, giọt nhiểu, giọt vương cành 

Nắng lên rồi làm giọt nhỏ tan nhanh

Cánh hoa khép vương vương hơi ươn ướt

 

Gió lay động, hoa đong đưa tha thướt

Nhoẻn cánh cười khoe sắc lộng phù vân

Hương bay bay nhòe cát bụi phong trần

Nổi hương sắc giữa hoa đồng cỏ nội

 

Có bông hoa mỉm cười bên bờ suối

Có bông hoa đeo vách núi cheo leo

Có bông hoa reo gió nắng lưng đèo

Và bông hoa rực thành đô phố thị  

 

Khi sinh thái hiện hình từ vô thỉ

Khi phù sinh khởi động thuở hồng hoang

Tiếng BIG BANG lồng theo tiếng Ửng Hồng

Ðã báo hiệu hoa cười reo vạn thể

 

Cho dù di hành không nhiễm thể

Cho dù độc mộc giữa muôn phương

Xuyên trục Hoành, xoáy trục Tung

Hoa Diễm Hằng vẫn mỉm cười chuyển hóa.

 

Hoa Chơn Thường

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Chơn Thường nở trên dòng huyễn hóa

Tỏa đạo vàng trang trải khắp mười phương

Ðưa chúng sanh về bờ bến thanh lương

Rửa tam nghiệp bằng cành dương cam lộ

 

Hoa Chơn Thường hiện hữu từ vô thỉ

Ngát hương lành vi diệu đến vô chung

Vượt hằng sa thế giới đến vô cùng

Ðể chúng sanh hưởng mùi hương diệu tánh

 

Hoa Chơn Thường nở trên đường Bát Chánh

Khắp muôn loài thấm nhuận đức từ bi

Sông vô thường vỗ sóng chuyển huyền vi

Chứng đạo ca du thuyền reo bát nhã

 

Ngã nhơn, ngã tướng, sinh vô ngã

Vô nhơn, vô tướng, diệt vô sinh

Hữu – vô, tuyệt lộ, duy huệ minh

Chư Phật bản hoài, vi sự nghiệp

 

Hoa Chơn Thường chuyển qua tay Ca Diếp

Kế thế, trao hăm tám Tổ - Tây Thiên

Một cây năm nhánh, Ðông Ðộ hoằng truyền

Tâm ứng tâm, không cần y bát nữa

 

Hoa Chơn Thường, hằng hiển sinh muôn thuở

Bừng vô ưu, qua thành trụ hoại không

Kìa xem, núi là núi, sông là sông

Nếu luận bàn, nện ba hèo vụn vỡ

 

Hoa Chơn Thường, chúng sanh luôn ghi nhớ

Nâng hai tay, ngào ngạt đóa vô tâm

Như thanh thiên bát ngát tựa trăng rằm

Bồ Tát đạo, hành trình, luôn tự chiếu

 

Hoa Chơn Thường, ôi nụ hoa hàm tiếu

Nở trong vườn giác ngộ, ngát tâm hương

Từ Hành tinh này cho đến khắp mười phương

Chơn chơn tánh, thường chơn, chơn bất thối.

 

Hoa Từ Bi Hỷ Xả

Tháng 9 – 2007

 

Hoa Từ nở cho chúng sanh an lạc

Hoa Bi nở cho chúng sanh hết đau

Hoa Hỷ ban, vượt thoát mọi tinh cầu

Hoa Xả tận, diệt tam đồ bát nạn

 

Chúng sanh khổ, như con tàu mắc cạn

Chúng sanh đau, như cầu váng long đinh

Bởi si mê nên trầm thống quên mình

Ðường sinh tử, nghiệp mang, lao vút mãi

 

Khi cô độc giữa rừng thiêng quan ải

Khi bôn ba giữa hỗn tạp quần sanh

Thiệt hơn, cao thấp, danh lợi, đua tranh

Ðầu xơ xác mấy lần thay tóc trắng

 

Hoa Từ nở, đêm đông rơi giọt nắng

Hoa Bi bừng, hạ trắng đón giọt mưa

Hoa Hỷ thơm, xuân đến khắp bốn mùa

Hoa Xả hết, cho đời không thu tím

 

Em hãy nâng Ðóa Từ Bi tâm nguyện

Em hãy trao Ðóa Hỷ Xả thanh lương

Ðưa chúng sanh về bờ bến yêu thương

Không đau khổ trên dọc đường tam thế

 

Từ nay, cuộc đời không còn đau khổ

Từ nay, cuộc đời không còn kêu thương

Tay trao tay, gieo cam lộ cành dương

Ðời hạnh phúc, không còn ai khóc nữa

 

Hoa Từ Bi là thế

Hoa Hỷ Xả là đây

Báo Phật ân, vô thượng, đức cao dày

Cứu chúng sanh, vô biên, thề nguyện độ

 

Hoa Từ Bi, đức từ bi, rạng rỡ

Hoa Hỷ Xả, đức hỷ xả, không lường

Kết từng vòng dâng lên Ðấng Pháp Vương

Khắp chúng sanh đồng chắp tay đảnh lễ.

 

Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

thnhattan@yahoo.com.au 

 

 

 

 

56.hoasen1.jpg
]]>
tcanhco@yahoo.com (Mặc Giang) frontpage Mon, 26 Jul 2010 14:11:07 +0000
Pháp lạc vô biên http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6431-phap-lac-vo-bien.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6431-phap-lac-vo-bien.html Tháng Năm vừa qua, tôi có phước duyên được một vị sư Trụ trì tại Cali mời sang chỉ dạy Oai Nghi Giới Luật cho một số tân ni sinh (tuổi đã quá 50) mới xuất gia tu học với chí hướng xuất trần “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.”

Thú thực là từ xưa tới nay, cá nhân tôi rất ngán chỉ dạy, góp ý, nhất là không dám “độ” các bậc “trưởng lão tân ni xuất gia” vì tự nhận thấy sở học sở tu của mình còn kém cỏi quá, còn quý vị cao niên kia dù sao cũng mang trên lưng cả một quá khứ oai phong lẫm liệt, chẳng ông nọ thì cũng bà kia, cho nên nể tình đồng đạo thì bấm bụng nhận lời nhưng trong lòng thì ngán ngẩm ngổn ngang trăm mối!!

Ngày đầu bước vào lớp học, nhìn trên bàn thấy có một bình hoa tươi đẹp như hoan hỉ đón chào, nhìn ngang chạm mắt vào các gương mặt nhăn nhó mệt mỏi, mắt lơ đãng thất thần, dáng ngồi không ngay ngắn… có lẽ vì bắt buộc phải “đi học khi kinh sử đã đầy một bụng,” tôi càng chua chát đến độ bật cười. Giời đất thiên địa ơi! Phật Tổ ơi! Sao người tu ở cái xứ này hiếm hoi đến thế nhỉ? Bói cả chục năm cũng không tìm ra được một đồng chân hay niên thiếu xuất gia nữa.

- “Kính mời quý vị đứng lên cùng niệm Phật!”

Nhiếp tâm vào tiếng niệm Phật, lắng tai nghe dứt hồi chuông, tôi dần lấy lại bình tâm và phát khởi lòng từ nhìn những vị “ni sinh cao niên” trước mặt. Bỗng dưng tôi chợt nhớ một câu trong Qui Sơn Cảnh Sách: “Bất giác lủng chủng lão hủ, xúc sự diện tường. Hậu học tư tuân, vô ngôn tiếp dẫn...” (Thế rồi không hiểu biết chi lại lóng cóng già yếu, gặp việc thì như đối diện với tường vách, người học sau có thưa hỏi điều gì thì cũng không biết thế nào để hướng dẫn...) và cảm thấy trong lòng dâng lên một niệm bi thương kỳ lạ. Dù sao đi nữa, ít nhất ra họ cũng đã biết quay đầu về với Phật, nương bóng từ bi, mong tìm được một chút tư lương tâm linh cho quãng đời còn lại; ít nhất ra họ cũng biết tự gieo trồng cho chính họ một hạt mầm giác ngộ. Biết nói sao đây? Thôi có cũng còn hơn không!!

Tất cả những vị tân ni sinh kia đều cư trú tại nước ngoài đã lâu năm, người ít nhất cũng đã hơn mười mấy năm trời xa quê mẹ, và hầu như tất cả cũng chưa hề về chùa lễ Phật một lần nào ngay khi còn sống tại Việt Nam. Họ nói, “Ngày xưa khi còn trẻ, chúng tôi chỉ lo quay cuồng kiếm sống, vui chơi… Tôn giáo, đối với chúng tôi, như là một thứ thuốc an thần cho người già, người bệnh.”

Và lẽ dĩ nhiên, qua thời gian sống khá lâu tại xứ người, họ cũng thích ứng và hội nhập vào nếp sống văn minh hiện đại của Âu Mỹ nhiều hơn, vì thế họ thích học giáo lý, giới luật, oai nghi, v.v… theo phương cách của thiền sư Nhất Hạnh và tỏ vẻ khó chịu, buồn ngủ khi tôi đề nghị học cuốn Giới Pháp Xuất Gia do Hòa thượng Trí Quang dịch lại từ bản Hán văn của Tổ Vân Thê, Tổ Qui Sơn hay Tổ Độc Thể.

Tôi cố thuyết phục họ học bản dịch này vì hai nguyên nhân chính:

1) Tôi rất thích và xúc động mỗi lần đọc lại những lời văn ẩn mật thâm sâu của chư Tổ ngày xưa: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu...” (Người xuất gia cất bước thì muốn vượt tới phương trời cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma phải rúng động khuất phục, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi).

2) Tôi cảm thấy như trở lại thời gian 30 năm qua, ngày tôi mới xuống tóc, hí hửng vui cười trong chiếc áo năm thân ngộ nghĩnh, và ngày ngày siêng năng say mê học thuộc lòng các thời khóa, các nghi thức cũng như vùi đầu dùi mài suy tầm áo nghĩa thâm huyền trên từng trang Kinh ngọc.

Nhớ lại...

“3 giờ rưỡi sáng. Hồi chuông thức chúng thứ nhất vang lên báo hiệu. Tất cả đại chúng trong ni viện đều thức giấc. Tôi dật dừ ngái ngủ lồm cồm bò dậy theo, quơ khăn mặt bàn chải đánh răng, vội vàng làm cho thật nhanh thật gọn các thủ tục vệ sinh cá nhân, và lật đật mặc áo tràng theo chân các sư cô khác lên chánh điện tụng kinh.

Tôi xuất gia khi còn trẻ tuổi nên sức ăn sức ngủ còn khỏe mạnh, giờ nào cũng thấy rỗng ruột, phút nào cũng có thể ngủ được, có khi đứng mà cũng ngủ được đấy; vì thế thời khóa Lăng Nghiêm buổi sáng sớm, đối với tôi, là cả một khổ nạn. Ngày đó, ôi, sao tôi ghét cái tiếng chuông thức chúng đến thế!! Tuy nhiên nói đi nói lại cũng phải tự khen thưởng cho tôi điểm mười, vì mặc dù bản tánh tôi rất lười biếng, tôi cũng đã học thuộc lòng rất mau hai thời khóa công phu sáng chiều và các nghi thức chỉ trong vòng hơn hai tuần lễ nhập chúng. Chưa hết đâu, chúng ngũ giới xuất gia như chúng tôi còn phải chấp tác mọi công việc nặng nhọc trong tự viện, và phải học cả Hán văn nữa vì ngày đó đa phần các bản kinh văn đều viết bằng Hán tự nên các tăng sĩ phải nắm vững ít nhất phần cơ bản Hán văn để có thể lãnh hội ý nghĩa câu kinh khi theo học các lớp do chư Tôn đức chỉ dạy. Tuy nhiên chỉ là những khó khăn lúc đầu thôi. Sau một, hai năm thì chúng tôi cũng đã kha khá lắm rồi và càng học càng say mê ý nghĩa của từng lời kinh câu kệ.

Tâm hồn tôi cũng dần mở rộng thăng hoa, đón nhận luồng gió giáo lý thổi mát cõi lòng u ám trì độn, làm yếu dần đi những đốm lửa tham, sân, si ngầm cháy từ bấy lâu nay; và từ đó tôi không còn cau có, rủa thầm tiếng chuông cảnh tỉnh đêm khuya nữa mà đã biết lắng lòng rưng rưng khởi bi tâm cầu nguyện cho loài ngạ quỉ hay súc sanh đang chịu đọa đày chốn A-tỳ địa ngục:

“Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,
Thiết vi u ám tất giai văn,
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhất thiết chúng sanh thành chánh giác!
Văn chung thinh, phiền não khinh,
Trí tuệ trưởng, bồ đề sanh,
Ly địa ngục, xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật, độ chúng sanh!”
Án già ra đế da tá ha! (3 lần)

(Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới, cõi thiết vi u ám thảy đều nghe, căn cảnh thanh tịnh chứng hoàn toàn, hết thảy chúng sanh thành chánh quả. Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, bồ-đề sanh, lìa địa ngục, vượt hầm lửa, nguyện thành Phật, độ chúng sanh. Án già ra đế da tá ha!)

Giọng hô đại hồng chung của vị Sư cô hương đăng ngày đó sao tuyệt vời đến thế, như chuyên chở cả một trời tình thương đến khắp vạn loài, như nhắc nhủ chúng sinh sớm thức tỉnh giấc mộng dục lạc miên trường đầy đau khổ (nhưng mà phải hô chuông theo âm Hán Việt mới hay cơ!)...

- “Mô Phật, xin sám hối quý vị, tôi đã thất niệm hồi tưởng lại ngày xưa khi mới xuất gia vào chùa như quý vị đây nên đã kể lể dông dài huyên thiên làm mất thì giờ quý vị. Thôi để đền bù lại, chúng ta hãy cùng nhau học nghi thức hàng ngày theo thiền sư Nhất Hạnh cho phù hợp...”

- “Dạ, không sao. Sư Cô cứ chỉ dạy chúng con theo ý của Sư cô. Nghe Sư cô kể lại chuyện ngày mới xuất gia, chúng con thấy vui quá và cũng buồn tủi vì chúng con đã già nua rồi mới biết Đạo,” một vị tân lão ni bùi ngùi tâm sự.
Một vị khác lên tiếng :

- “Bây giờ thì quá trễ rồi, chúng con không thể nào học được Hán văn đâu nhưng Sư cô hoan hỷ giải thích những lời dạy của chư Tổ để chúng con noi theo học hỏi được chút nào thì cũng quí lắm rồi!”

Tôi cảm động rưng rưng nước mắt nhìn những gương mặt già nua ngây thơ kia. Hình như có vầng ánh sáng tỏa chiếu rạng rỡ trên gương mặt, trong ánh mắt, trong nụ cười hóm hém hiền hòa của những người kém phước duyên hơn tôi – xuất gia qui y theo Phật khi tuổi đã về chiều.

Thôi dù sao đi nữa, có cũng còn hơn không, biết lối quay đầu trở về nương tựa Phật, Pháp, Tăng là quý lắm rồi – biết nói sao đây, thôi thì vạn sự tùy duyên.

Thế rồi, ngày qua ngày, các vị tân ni sinh kia rất siêng năng hòa theo tôi ê a tụng lại những lời dạy của chư Tổ. Trông họ rất dễ thương như trẻ thơ vậy. Có lẽ họ, cũng như tôi, đã và đang trở về thuở hồn nhiên chân thật trong sáng của mình!

Chúng tôi cùng học hỏi trao đổi với nhau thật vui, thật ấm áp tình thầy trò huynh đệ, và cũng đã nghẹn ngào ray rứt như nhau khi đọc bài Sám Qui Mạng:

“Qui mạng thập phương Điều Ngự Sư,
Diễn dương thanh tịnh vi diệu pháp,
Tam thừa tứ quả giải thoát Tăng,
Nguyện tứ từ bi ai nhiếp thọ.

Đệ tử chúng đẳng tự vi chân tánh, uổng nhập mê lưu, tùy sinh tử dĩ phiêu trầm, trục sắc thanh nhi tham nhiễm, thập triền thập sử, tích thành hữu lậu chi nhân, lục căn lục trần, vọng tác vô biên chi tội... phi mao đới giác, phụ trái hàm oan...” (Quay về kính ngưỡng mười phương các Đấng Điều Ngự, cả Pháp Phật nhiệm mầu thanh tịnh và các bậc Thánh Tăng chứng qủa La Hán Vô Sanh, cúi nguyện xin từ bi gia hộ cho chúng con. Lũ chúng con đây, trái ngược bản tâm, ngu xuẩn luân hồi trôi lăn theo dòng si ám, rong ruỗi tham lam đắm nhiễm chạy theo âm thanh bóng sắc, nên mười sợi dây phiền não trói buộc, mười thứ lôi kéo khiến sai, cấu kết chất chồng thành mầm nhân đọa lạc, sáu căn sáu trần, huyễn hoặc tạo tác ra vô biên tội lỗi... nên phải mang lông mọc sừng, đền trả lại các tội nghiệp đã gây ra...)

Ôi, từng lời nhắc nhủ dạy răn của chư Tổ nghe sao khẩn thiết ngậm ngùi, thấm thía tận cùng xương tủy. Từng chữ, từng câu, từng lời của chư Tổ truyền dạy cho chúng ta là tất cả sự chứng nghiệm tâm linh, là tất cả quá trình gian nan hành trì tu học, là tất cả sự phấn đấu kiên cường vượt qua mọi cám dỗ lợi danh, mọi thành lũy bản ngã cốt yếu đạt cho bằng được giác ngộ tự tâm. Đúng vậy, nếu không thì không những uổng kiếp sống thừa mà còn phải mang lông đội sừng đền trả lại cơm áo của đàn na tín thí.

Lớp học của chúng tôi đã kết thúc sau ba tuần lễ trong niềm pháp lạc. Ai nấy đều hoan hỷ và hứa hẹn sẽ cùng nhau cố gắng tu học theo lời Phật Tổ đồng thời rất mong sẽ có ngày gặp lại để trao đổi Phật pháp sách tấn nhau. Trải qua kinh nghiệm chỉ dạy lần này, quan kiến cá nhân tôi cũng đã thay đổi ít nhiều. Tôi nhìn cuộc đời, nhìn mọi người với sự cảm thông sâu sắc hơn, với từ tâm hơn, hoan hỷ hơn. Tôi sẽ tùy duyên uyển chuyển linh động hơn, bớt cứng ngắc cố chấp hơn trong từng trường hợp để giúp người giúp mình thêm phần lợi lạc hữu ích.

Thêm một người tu, bớt được một kẻ si mê tội lỗi.

Thêm một ngôi chùa, bớt được một ngục tù tra khảo đọa đày.

Nguyện cầu thế giới thanh bình, chúng sanh an lạc.

 

Thích nữ Minh Tâm

Nguồn Tập San Pháp Luân 39

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích nữ Minh Tâm ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:59:00 +0000
Tính âm nhạc trong ca khúc “Tống biệt” của Hoằng Nhất đại sư http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6430-tinh-am-nhac-trong-ca-khuc-tong-biet-cua-hoang-nhat-dai-su.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6430-tinh-am-nhac-trong-ca-khuc-tong-biet-cua-hoang-nhat-dai-su.html Có lẽ với tầng lớp tu sĩ, khi nói đến âm nhạc tưởng chừng như là điều xa lạ, thế nhưng đối với người biết thưởng thức, am hiểu thì âm nhạc là nghệ thuật, một loại nghệ thuật biểu đạt âm thanh, biểu đạt lời lẽ của con người đối với con người, với bạn bè chí hữu, với tình yêu cuộc sống. Hơn nữa, âm nhạc còn là tiếng lòng muốn nói thay lời biệt ly hay sự đoàn viên. Do vậy, túp lều nhỏ ven đường, cùng con đường làng quen thuộc là nhân chứng cho sự “Tống biệt” mà Đại sư Hoằng Nhất đã sáng tác khi tiễn bạn chí hữu vào trận tuyến.

Tất cả mọi cuộc tiễn đưa điều không thể hẹn ngày tao ngộ, vì trong thời loạn lạc, mỗi sự tiễn đưa như là sự vĩnh biệt. Vì thế, Đại sư Hoằng Nhất không phải ngẫu nhiên mà viết lời ca từ xúc động lòng người đến thế. Có lẽ với Ngài bạn hữu là tri âm! Tri âm trong cuộc đời không phải chỉ là sự hiện hữu mà là sự cảm nhận cái hay cái đẹp trên tinh thần nhân văn, tri âm tri kỷ không phải ai cũng có được, tri âm tri kỷ bắt nguồn từ câu chuyện Bá Nha - Tử Kỳ. Bá Nha là người đánh đàn tài giỏi. Tử Kỳ chỉ là người câu cá. Nhưng chỉ có Tử Kỳ mới thấu hiểu tài đánh đàn của Bá Nha. Khi Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn và nói rằng trên đời này chẳng còn ai nghe được tiếng đàn của ông ta nữa. Sau này Bá Nha quay lại khúc sông thì Tử Kỳ đã chết ba năm rồi.

Ngoài những tính nhân văn ấy, âm nhạc còn là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Âm nhạc không chỉ là một hình thức giải trí tiêu khiển, nó còn có thể chia sẻ với chúng ta rất nhiều điều, giải quyết những khó khăn trong cuộc sống, vơi đi những hờn giận vu vơ, đưa người về dĩ vãng, tìm lại tuổi thơ xưa, nghe lòng bồi hồi, xao xuyến với tình yêu quê mẹ, với nắng ấm quê cha, với những người đã sớm rời xa Tổ quốc mà chưa được một lần về lại chốn xưa, khát vọng ấy đã khiến con người dùng âm nhạc để biểu đạt thay cho sự khát khao đồng thời đã làm sống dậy lòng tự hào dân tộc, khát vọng tìm về chân lý… Ngay từ thời thượng cổ, âm nhạc đã được ra đời cùng với đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất. Kể từ đấy, âm nhạc đã không ngừng được phát triển và hoàn thiện cùng năm tháng. Quả thật, nó có sức ảnh hưởng lớn đến con người, đến sự hình thành và phát triển nhân cách nơi mỗi người. Tất cả các loại hình nghệ thuật khác đều phản ánh cuộc sống hiện thực. Còn nét đặc thù riêng của âm nhạc là phản ánh hiện thực cuộc sống một cách ước lệ và trừu tượng. Âm nhạc mô tả sự vật, hiện tượng và chuyển tải tư tưởng cuộc sống con người. Có người hỏi Đại sư Hoằng Nhất rằng: Ngài là một người xuất gia đầu Phật sao lại có những tình cảm sướt mướt như vậy? Nhưng điều đơn giản và dễ hiểu đó là Ngài đã thể hiện rõ tính nhân văn trong cuộc sống của mình. Trước khi xuất gia, như trên đã nói, Ngài là một vị tài hoa, yêu thơ mến nhạc, nhưng với một người văn nghệ sĩ, ít nhiều ý chí cũng thoát phàm, Ngài đã sáng tác bài ca “Tống biệt” với một tâm hồn hoàn toàn xúc động trước cảnh sắc cổ kính của thiên nhiên, một phong cảnh hùng vĩ bao la, bạc ngàn đồi núi và ẩn tàng sâu trong những ngọn núi hùng vĩ kia là những mái chùa cổ kính, Ngài mượn thiên nhiên để biểu đạt lòng người, vì cảnh sắc và âm thanh là một loại sức mạnh có nhiều sự cuốn hút, ở đâu con người cũng nghe thấy âm thanh. Âm thanh trong tự nhiên: tiếng gió thổi, tiếng lá cây xào xạc, tiếng gà gáy, tiếng chim hót. tiếng suối chảy, nước reo, tiềng tù và, tiếng gọi nhau í ới cúa những chú mục đồng lùa trâu trở về làng khi bóng hoàng hôn đã dần khuất … Đặc biệt với bài “Tống biệt” Đại sư Hoằng Nhất mượn mái liều nhỏ ven đường, cùng con đường làng cổ kính bên thảm cỏ thơm xanh biết tận chân trời, dưới rặng núi Nhạn Đãng, hòa cùng cơn gió muộn màng thổi qua như nâng âm thanh vi vút của hàng dương liễu quyện với tiếng lòng của kẻ ở người đi:

“Trường đình ngoại, cổ đạo biên
Phương thảo bích liên thiên
Vãn phong phù liễu địch thanh tàn
Tịch dương sơn ngoại sơn
Thiên chi nhai, địa chi giác
Tri giao bán linh lạc
Nhất hộc trọc tửu tận dư hoan
Kim tiêu biệt mộng hàn.”[1] 

Ngài diễn tả cảnh người ra đi khi bóng hoàng hôn dần dần lặn xuống sau rặng núi, nơi chân trời góc biển kia, mấy kẻ tri ân có nhớ mình. Một bình rượu đơn sơ của kẻ trần thế đêm nay sẽ biệt ly bao ước mộng mà không biết ngày tao ngộ. Cách hỏi như tự phản vấn, cũng là tự nhắc mình có nhớ tri âm chăng! Một cách hỏi vô cùng ý tứ và sâu sắc có lẽ Ngài tự hỏi lòng mình chứ không phải hỏi người bạn sắp giã biệt! Xem ra, Ngài quả là vị tài hoa trong lĩnh vực thi, thơ , nhạc, họa. Một tâm hồn yêu cảnh mến người. Quả thật, với Ngài âm nhạc như một sự gởi gắm tâm hồn. Đồng cảm với những tâm hồn yêu thơ mến nhạc, thế hệ sau Ngài như Trịnh Công Sơn, cũng mượn âm nhạc thay cho sự nhắn nhủ con người bằng hai chữ “vô thường” đang từng sát na canh cánh bên chúng ta. Nói thế không có nghĩa là chúng ta không quan tâm đến cảnh vật hay tình người vì cho sự vật là vô thường mà là tỏ rõ cội nguồn của vô thường, của từng sự vật, từng thời cuộc. Không chỉ thế, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương lại gởi tâm tư vào tác phẩm “Đêm Đông” như lời chia xẻ với những người tha phương, không có cơ hội trở về nơi chôn nhau cắt rốn. “đêm đông có ai thấu tình cô lữ đêm đông không nhà”.

Đứng ở góc độ thế gian nhìn nhận thì bài “Tống biệt” có vẻ như phảng phất âm hưởng của một con người tài hoa lãng tử, một tình cảm luyến lưu có phần chấp thủ; nhưng đứng ở góc độ xuất thế thì lời lẽ của bài “Tống biệt” hoàn toàn mang tính nhân văn, sâu đậm tình người, cái chân lý sâu mầu của sự giải thoát nó không ở cảnh giới cao siêu nào cả mà là ngay trong những lời lẽ bình dị của cuộc sống thường nhật. Nếu đại sư Hoằng Nhất mãi mang tâm hồn luyến lưu thì sao Ngài có thể nói “một hủ rượu đơn sơ được làm từ sản phẩm của những người nông dân sẽ là nhân chứng cho việc tiễn đưa vĩnh viễn cái ảo giác mơ tưởng ngày tao ngộ hàn huyên”? Hơn nữa, một người tài trí và có căn duyên sâu dày với đạo Phật, ắt hẳn Ngài không lạ gì cái lý “Vô thường”. Một sự vô thường trong gang tấc thì làm sao có chuyện mộng hàn huyên. Thế nhưng ca từ trong bài nhạc, nếu chúng ta tinh ý sẽ thấy ngay Ngài muốn ám chỉ nỗi vô thường gang tấc trong cuộc thế không hẹn cùng người, biệt ly hôm nay biết là biệt ly, còn chuyện mai sau có hội tụ hay không là chuyện của ngày mai. Điều này thấy rõ cái quan trọng của âm nhạc là sự đánh giá thực tại trên quan điểm mỹ học, có nghĩa là đánh giá các sự vật, hiện tượng nhưng không phụ thuộc vào cách nhìn nhận thực tiễn, thực dụng về đối tượng ấy. Ví như khi ngắm nhìn cảnh mặt trời mọc, chúng ta thích ngắm nhìn nó vì nó đẹp chứ hoàn toàn không có ý nghĩ là mặt trời sẽ cung cấp năng lượng cho chúng ta, mặt trời sẽ sưởi ấm cho ta… Cách đánh giá trên quan điểm mỹ học là một cách đánh giá “vô tư”. Cách nhìn nhận sự vật đưa Ngài đến sáng tác âm nhạc là trên tinh thần mỹ học, hoàn toàn thoát khỏi sự vướng mắc của phàm tình. Nay nhắc đến Ngài không phải chỉ nói riêng đến âm nhạc mà là âm nhạc không có nghĩa là vắng mặt đối với tầng lớp xuất gia. Điều này cho thấy, khi xưa đức Phật còn tại thế, các vị Thánh đệ tử cũng dùng âm nhạc để ca tụng công hạnh của Phật bằng hình thức dùng âm nhạc như một sự ca tụng, cụ thể trong Đại Chánh Tạng, các tác phẩm: “Âm nhạc văn học tín ngưỡng Di Lặc Tịnh độ”, “Âm nhạc văn học Thiền tông Đôn Hoàng” và “Âm nhạc văn học khái thuật Mật giáo Đôn Hoàng”… Trong số các loại được nêu ra trên, đặc biệt tác phẩm “Đôn Hoàng thi ca”, “Đôn Hoàng biến văn” là một loại văn thể có nói có xướng, được phổ cập trong tín ngưỡng Tịnh độ Phật giáo.

Ngày ngay, không ít các nhà khoa học nghiên cứu lĩnh vực âm nhạc và họ đã vận dụng âm nhạc trong quá trình trị liệu đối với bệnh nhân và cho thấy hiệu quả vô cùng khả quan, cho nên y học cũng gọi là “Âm nhạc trị liệu”. Xem ra, Đại sư Hoằng Nhất cũng là một vị y sư, Ngài không chỉ để lại cho đất nước Trung Hoa sự tự hào về một nhân vật văn, thi, từ, phú, một tay thư pháp có hạng về chữ Triện. Các tác phẩm của Ngài nay được coi là món gia bảo quý hiếm. Sư thông thạo thư pháp thời Lục Triều, từng xuất dương qua Nhật học chuyên ngành mỹ thuật tại trường Thượng Dã, đồng thời nghiên cứu âm nhạc, sáng lập Xuân Liễu kịch xã, mở phong trào vận động tân kịch nghệ ở Trung Hoa. Sau đó Ngài về nước, dạy tại Thiên Tân Công Nghiệp Học Ðường, rồi đến Thượng Hải làm chủ bút báo Thái Bình Dương, mượn thư, họa, văn tự để tuyên truyền chống Nhật. Trong thời gian này, Sư cũng dạy về hội họa, âm nhạc tại trường sư phạm Triết Giang. Qua những lần tiếp xúc với Tổ Ấn Quang, cơ duyên tiền kiếp đã nảy nầm hội ngộ, cùng sự ngưỡng mộ sâu xa phong thái của một vị Cao Tăng đức hạnh. Đã khiến Ngài một con người hết sức nghệ sĩ, hào phóng, vứt bỏ tất cả những phù hoa, danh lợi thế tục, xuất gia đầu Phật vào năm 1918 tại chùa Linh Ẩn (Hàng Châu), được ban pháp danh là Diễn Âm, hiệu Hoằng Nhất và Ngài phát nguyện trọn đời tinh nghiêm trì giới.

Xã hội ngày nay không ngừng phát triển, âm nhạc cũng đồng hành với con người để xoa dịu những khủng khoảng tinh thần sau những phút giây mỏi mệt vì công việc. Do vậy có thể nói tính âm nhạc trong ca khúc “Tống Bệt” thật sự có ích khi chúng liễu triệt được nội dung của ca từ, và có cái nhìn mỹ quan mang tính nhân văn đối với mọi sự vật hiện tượng; thì dù là tu sĩ hay nhạc sĩ đều có thể dùng âm nhạc đưa con người đến với chân thiện, giúp họ thoát khỏi sự trói buộc chấp trước đối với các pháp. Pháp thiện hay bất thiện đều do nhãn quan của con người mà sanh, bản chất thật của các pháp là thanh tịnh vô nhiễm, không hề bị nhốm màu đau khổ. Do vậy, ca khúc “Tống biệt” tùy theo góc độ nhận thức của mỗi con người mà nó trở thành bất hủ với thời gian, mang đậm tính nhân văn và giàu giá trị đạo đức. Với Ngài Hoằng Nhất, những năm tháng rau dưa đạm bạc, cũng là thời gian Ngài dốc toàn tâm lực nghiên tầm giáo lý sâu mầu của đạo Phật và Ngài đã để lại cho hậu thế những tác phẩm kinh điển đồ sộ như: Di Ðà Nghĩa Sớ Hiệt Lục, Tứ Phần Luật Tỳ Kheo Giới Tướng Biểu Ký, Thanh Lương Ca Tập, Hoa Nghiêm Liên Tập, Giới Bản Yết Ma Tùy Giảng Biệt Lục, Tứ Phần Hàm Chú Giới Bản Giảng Nghĩa, Nam Sơn Ðạo Tổ Lược Phổ v.v… Tất cả được xếp vào Hoằng Nhất Ðại Sư Pháp Tập. Không ngờ, ngoài những tác phẩm kinh điển lưu lại cho hậu học, Ngài lưu lại một tác phẩm âm nhạc bất hủ đối với đất nước Trung Hoa, và đã được bảo tồn như là tác phẩm có giá trị vượt không gian và thời gian, với câu từ bất hủ trong lòng người Trung Hoa cho đến ngày nay. Nơi ngọn núi Nhạn Đãng, tỉnh Triết Giang, ai ai cũng nhớ đến ca khúc Tống biệt như sự hiện hữu của Đại sư Hoằng Nhất. một con người hoàn thiện trong mọi lĩnh vực đạo đời.

Chú thích:
1. Nguyên văn: “长亭外 古道边,芳草碧连天,晚风拂柳笛声残,夕阳山外山,天之涯 地之角,知交半零落,一斛浊酒尽余欢,今宵别梦寒.”
Tư liệu tham khảo:
- Âm nhạc “Phật giáo Đôn Hoàng” của Lý Tiểu Vinh, thành viên nghiên cứu Đôn Hoàng học, xuất bản năm 2005.
- Tiểu sử Đại sư Hoằng Nhất

 

Thích Nữ Huệ Như

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Nữ Huệ Như ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:55:14 +0000
Viết cho gió núi mây ngàn http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6429-viet-cho-gio-nui-may-ngan.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6429-viet-cho-gio-nui-may-ngan.html Tuyệt vời lắm vườn hoa trăm hương sắc
Này hoa hồng, nọ hoa lý, hoa mai
Mỗi thứ hoa, mỗi mùi hương mỗi sắc
Sắc hương tàn nhưng vẻ đẹp không phai.

Dù lạc loài ở rừng sâu núi thẳm
Dù được trồng trong chậu kiểng vườn hoa
Hoa vẫn nở vẫn tàn theo năm tháng
Vẫn khoe màu trong tịch lặng bao la.

10. Hoa Moc Lan tai Son CocCó những loài hoa không tên không tuổi
Tận miền xa không một dấu chân người
Hay dưới nắng cháy da trong miền đá sỏi
Sống âm thầm quên bẵng tháng ngày trôi

Qua những ngày mưa sa gió dậy
Dưới nắng hồng hoa rực rỡ như xưa
Hay những chiều giông mịt mù cát bụi
Hoa héo tàn theo cánh gió phất phơ.

Dưới nắng hồng êm ả
Hay mưa gió vô tình
Mỗi loài hoa vẫn nở
Theo vóc dáng riêng mình.

Gió sớm mưa chiều, đêm sương ngày nắng
Mây trưa che đỡ nóng ánh mặt trời
Gió đông về mằn mặn nước biển khơi
Mang ấm áp trong những chiều đông lạnh.

Và trăng thanh và sao trời lấp lánh
Xua bóng đêm cho giấc ngủ yên lành
Một sáng nào sương từng giọt long lanh
Đã trang điểm màu hoa thêm óng ả.

Mây ngàn gió núi
Trăng sao đất trời
Chưa một lần đòi hỏi:
Hãy nở giống ta thôi!

Bởi vì hoa không phải là mây gió
Nên trăng sao thắp sáng lối đi về
Vì hoa dại còn chen trong bờ cỏ
Nên cánh đồng hương lúa ngát đường quê.

Người ta muốn hoa Mai là hoa Cúc
Nên đêm đông cát bụi dậy mịt mù
Người ta muốn hoa này thành hoa khác
Nên đường về lớp lớp nẻo thêm u.

Không ai bắt hoa Hồng thành hoa Lý
Không ai mong hoa Cúc thành hoa Mai
Thì muôn đời giữa trời đất ấy
Mỗi loài hoa mỗi vóc dáng tuyệt vời.

Dù có bắt hoa Hồng thành hoa Lý
Dù đặt đên cho loài hoa dại không tên
Hoa vẫn nở âm thầm không tiếng nói
Mỗi loài hoa mỗi Vẻ Đẹp Ngàn Năm

Một lời này xin gởi cho tất cả
Cho mây ngàn và gió núi trăng sao
Hãy để cho mỗi loài hoa tự nở
Trần gian này đẹp đẽ biết dường bao

Ngoài kia loài hoa dại
Nở trắng trước sân nhà
Đầy trời hoa nắng nở
Trong tịch lặng bao la.

 

Thầy Thông Hội

.

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Thông Hội) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:52:48 +0000
Giảng giải kinh Chuyển Hóa Bạo Động và Sợ Hãi (phần 2) http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/bien-khoa-dai-tang/6428-giang-giai-kinh-chuyen-hoa-bao-dong-va-so-hai-phan-2.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/bien-khoa-dai-tang/6428-giang-giai-kinh-chuyen-hoa-bao-dong-va-so-hai-phan-2.html Đây là một trong những giây phút hạnh phúc của đại chúng. Hôm nay chúng ta học tiếp Kinh Duy Lâu Lặc Vương, Kinh thứ 16 của Nghĩa Túc Kinh.

Bài kệ 6

Thế diệc hữu tất mạc thọ                       世 亦 有 悉 莫 受
Tà loạn bổn xả mạc y                            邪 亂 本 捨 莫 依
Dục khả yểm nhất thiết độ                     欲 可 厭 一 切 度
Học tị khổ việt tự thành                         學 避 苦 越 自 成
Trong hệ lụy của cuộc đời, mình đừng để cho tự thân vướng vấn vào bất cứ một hệ lụy nào. Những gốc rễ của tà loạn phải được cắt đứt. Phải buông bỏ, đừng nương vào chúng nữa. Nếu buông bỏ được tà dục thì ta có thể vượt qua mọi khổ nạn. Kẻ hành giả phải vượt ra khỏi cái vòng khổ nạn thì mới thành tựu được sự nghiệp giải thoát cho chính mình.
alt
Con đang trở về giây phút hiện tại với mỗi bước chân chánh niệm
 

Thế diệc hữu tất mạc thọ: Trong hệ lụy của cuộc đời, mình đừng để cho tự thân vương vấn vào bất cứ một hệ lụy nào.

Hữu là có, thế diệc hữu là trong cuộc đời có những hệ lụy. Mạc là đừng có, mạc thọ là đừng vướng mắc vào một trong những hệ lụy, những cái cột mình, giam hãm, đè nén mình. Tất là tất cả, tất mạc thọ là đừng nhận chịu, đừng vướng víu vào những hệ lụy đó.

Tà loạn bổn xả mạc y: Những gốc rễ của tà loạn, mình phải biết cắt đứt. Bổn là gốc rễ.
Tà là không thẳng, xiên một bên. Loạn là bất an. Xả là buông bỏ, mạc là đừng có, y là nương vào. Những gì có tính cách bất chính (tà), không bình an (loạn) thì mình phải thấy được gốc rễ của nó. Thấy được gốc rễ rồi thì phải nhổ nó lên, phải xả bỏ. Có thể trong quá khứ mình đã dựa lên cái không đáng dựa. Đó là tinh thần vô trú, không nương tựa vào những cái không đáng nương tựa.

Dục khả yểm nhất thiết độ:
Nếu buông bỏ được tà dục thì ta có thể vượt qua mọi khổ nạn.
Yểm là buông bỏ được, là biết chán. Nếu chưa biết chán thì mình cứ tiếp tục ôm lấy nó. Ví dụ như mỗi lần ăn vào một món nào đó thì mình bị đau bụng. Cho đến một ngày thấy món đó mình chán và mình được giải thoát. Nhất thiết là tất cả. Nhất thiết độ là khi mình đã nhàm chán đối tượng đam mê đó thì mình có thể vượt qua được tất cả.

Học tị khổ việt tự thành: Kẻ hành giả phải vượt qua khỏi cái vòng khổ nạn thì mới thành tựu được sự nghiệp giải thoát cho chính mình.
Học là sự thực tập (training, practice). Trong đạo Phật chữ học (śikśa) là sự luyện tập chứ không phải mở sách ra đọc. Tị là vượt ra khỏi. Quốc hiệu Việt Nam  越 南 có nghĩa là vượt lên. Mình thực tập để vượt ra khỏi cái vòng khổ nạn. Việt là vượt lên (overcome, transcending).

Ngày xưa có hàng trăm bộ tộc Việt gọi là Bách Việt  百 越 và bộ tộc Việt ở miền nam gọi là Nam Việt. Bây giờ ở Trung Quốc có nhiều giống Việt, nhưng không phải Nam Việt mà là Mân Việt.

Mình phải thực tập như thế nào để tránh và vượt thoát được vòng khổ nạn thì mình mới tự mình thành tựu được tuệ giác. Thành (realisation) là thành tựu được cái mình mong muốn tức là đạt tới tuệ giác. Tu là để đạt tới tuệ giác.

Bài kệ 7

Trú chí thành mạc vọng cử                        住 至 誠 莫 妄 舉
Trì trực hành không lưỡng thiệt                  持 直 行 空 兩 舌
Diệt nhuế hỏa hoại tán tham                     滅 恚 火 壞 散 貪
Xả não giải hiệt kiến độ                            捨 惱 解 黠 見 度

Kẻ hành giả chân chính phải có tâm dạ chí thành, đừng tự hành động dựa trên vọng tưởng, cứ đường thẳng mà đi, không nói lưỡi hai chiều. Phải biết dập tắt ngọn lửa của sự hờn giận, biết cách làm tan vỡ khối tham vọng của mình. Nếu biết cởi bỏ được những ràng buộc của phiền não thì mình có thể bắt đầu thấy được bến bờ của giải thoát.

Trú chí thành mạc vọng cử: Chí thành là thực sự tin tưởng vào một cái gì đó, mình đem hết trái tim đặt vào đó. Thành là thành thật với chính mình, thành thật đi tới mức độ cao nhất là chí thành. Làm việc gì cũng phải có tâm niệm chí thành thì mới thành công được. Tu cũng phải có tâm niệm chí thành. Mạc là đừng, vọng là sai lầm, cử là hành động. Mạc vọng cử là đừng hành động dựa trên vọng tưởng, đừng vọng động, đừng hành động căn cứ trên tri giác sai lầm. Theo tri giác sai lầm mà hành động sẽ đưa tới đổ vỡ, hứng chịu khổ đau.

Trì trực hành không lưỡng thiệt: Cứ đường thẳng mà đi, không nói lưỡi hai chiều. Trực là thẳng, hành là đi, trì trực hành là nắm lấy con đường thẳng mà đi. Không lưỡng thiệt là không nói hai lời khác nhau.

Ở xóm Hạ có câu đối: Nhất Hạnh vô nhị ngữ. Có nghĩa là một hành động mà không có hai lời khác nhau tức là thầy Nhất Hạnh không nói lưỡi hai chiều, không nói hai lời. Đó là câu đối các Phật tử Hồng Kông tặng cho tôi: Đi con đường thẳng, không nói hai lời khác nhau, không nay nói thế này mai nói thế khác.

Diệt nhuế hỏa hoại tán tham: Phải biết dập tắt ngọn lửa của sự giận hờn, phải biết cách làm tan vỡ khối tham vọng trong lòng mình.
Diệt nhuế hỏa là làm hư đi, làm tan nát đi, dập tắt đi ngọn lửa của hận thù. Đó là một hiệu lệnh. Trong con người của mình có ngọn lửa của hận thù và trong con người của người kia cũng có ngọn lửa của hận thù. Ngọn lửa ấy có mặt nơi người khủng bố lẫn nơi người đang tìm cách tiêu diệt khủng bố. Ngọn lửa ấy là mũi dao nhọn, cắm  chặt trong trái tim hai bên.

Chúng ta đã học trong những bài trước: Khi mình nhận ra sự có mặt của mũi dao nhọn trong mình và lấy nó ra được thì mình mới khoẻ. Khoẻ rồi thì mình mới có thể giúp cho người kia lấy mũi dao nhọn của họ ra. Đó là phương cách đối trị với khủng bố. Mình không thể nào đối trị được với khủng bố bằng gươm súng, bom đạn. Diệt nhuế hỏa là một hiệu lệnh dập tắt ngọn lửa của hận thù. Ngọn lửa hận thù trong lòng người kia đang làm cho thế giới rung rinh, điên đảo. Nhưng trong chính mình cũng có ngọn lửa của hận thù, của sự ghét bỏ, kỳ thị. Mình cũng có mũi dao nhọn trong lòng. Vì mình chưa lấy ra được mũi dao nhọn trong tâm mình nên mình chưa có khả năng giúp người kia lấy ra mũi dao nhọn trong tâm họ. Vấn đề đầu tiên là mình phải lấy mũi dao nhọn trong tâm mình ra trước. Người kia có thể  là người Taliban, có thể là người Mỹ.

Theo giáo lý này, người Mỹ có thể giúp được người Taliban và người Taliban có thể giúp được người Mỹ. Người nào lấy được mũi dao nhọn trong tim mình ra trước thì người đó có khả năng giúp được người kia.

Trước hết mình phải coi người kia là anh em của mình và mình không được giết nhau. Kế đó, mình đặt câu hỏi và đem hết lòng hết dạ để trả lời:

“Ta có thể làm được gì để giúp người kia lấy mũi dao nhọn ra khỏi trái tim của họ?“

Mình biết rất rõ, muốn giúp được người kia thì trước hết mình phải lấy mũi dao nhọn ra khỏi trái tim của mình. Lấy mũi dao nhọn ra có nghĩa là dập tắt ngọn lửa của hận thù. Mình phải quán chiếu, mình phải có phương pháp mới làm được việc đó, không phải cứ muốn dập tắt ngọn lửa của hận thù là mình có thể làm được. Mình phải hoại tán tham tức làm tan vỡ ra cái khối tham vọng trong con người mình. Chính mình cũng có tham vọng trong lòng, tham vọng đi theo với hận thù và hận thù đi theo với sợ hãi. Mình còn tham vọng mà mình trách người ta tham vọng. Mình có hận thù, mình muốn tiêu diệt người ta mà nói người ta có hận thù, muốn tiêu diệt mình. Mình có sự sợ hãi nơi mình và người kia cũng có sự sợ hãi nơi họ. Mình và người kia đều có những hành động, lời nói và suy nghĩ trên căn bản của sự sợ hãi. Hai bên rất giống nhau, bên khủng bố (terrorist) và bên chống khủng bố (anti-terorist) đều có cái giống nhau. Hai bên đều sống trong lo lắng, khổ đau và sợ hãi

Xả não giải hiệt kiến độ: Xả là cởi bỏ, não là những phiền não (affliction) như hận thù, tham vọng. Làm sao lấy ra được khối hận thù và tham vọng trong con người mình. Giải là cởi trói. Có sợi dây hận thù, tham vọng, sợ hãi đang trói mình. Chữ hiệt có hai nghĩa: trước hết hiệt có nghĩa là vững chắc và thứ hai hiệt là thông minh, khôn khéo. Độ là đi qua (paramita). Với sự vững chãi, thông minh, khôn khéo đó, từ từ mình thấy được bến bờ bên kia.

Cả hai bên đều đang ở bờ bên này, người khủng bố và người chống khủng bố đều đang ở bên bờ của khổ đau, của hận thù, của sợ hãi và tham vọng. Làm sao mình có thể đi qua được bờ bên kia, bờ không có hận thù, không có khổ đau, tham vọng và đưa được người kia cùng qua với mình? Người mà mình coi là kẻ thù, người mà mình gọi là American hay gọi là Taliban đều đi qua một lần với mình? Câu trả lời là mình phải mở thêm một con đường, vạch ra một lối đi. Mở thêm rộng lớn con đường. Con đường từ bờ bên này sang bờ bên kia là con đường tháo bỏ những phiền não trong đó có tham vọng và hận thù.

Kiến độ là thấy được bến bờ của giải thoát, nếu cởi bỏ được sợi dây phiền não đang giăng mắc trong lòng thì mình có thể vững chãi, thông minh thấy được bến bờ của giải thoát. Nhuế  là sự giận dữ, hận thù, tham là tham vọng. Hận thù và tham vọng là hai năng lượng có tính cách công phá, tàn hoại, tiêu hủy. Nó là hai trong những tâm hành độc hại mà mỗi người trong chúng ta đều có, người có nhiều người có ít.

Nhưng trong chúng ta cũng có tâm hành gọi là vô tham ngược lại với tâm hành tham. Vô tham là một chữ khác của generosity tức khả năng có thể ban phát ân đức. Khi trong lòng có tâm vô tham thì mình có sự thảnh thơi, giải thoát tại vì tham vọng là một sợi dây cột kéo mình. Bị sợi dây tham vọng cột kéo thì mình không có tự do. Không bị sợi dây tham vọng cột kéo thì mình thấy rất thảnh thơi, đi cũng hạnh phúc, ngồi cũng hạnh phúc, làm gì cũng hạnh phúc. Đó là tâm niệm vô tham.

Có những lúc bị tâm niệm tham trấn ngự, mình thấy khổ nhưng khi trong lòng không có tham, mình thấy khoẻ. Theo phương pháp quán niệm của mình thì khi có tâm tham mình phải biết tâm tham đang có, sự ham muốn đang có trong mình:

-    Thở vào tôi biết cái ham muốn, cái thèm khát đang có trong tôi. Nó đang làm tôi khổ.

Đó là chánh niệm. Khi có sự ham muốn, sự thèm khát, người hành giả phải thở và biết rằng: Đang có sự ham muốn và thèm khát trong tôi, vì vậy nên tôi đang khổ. Mình không cần phải đánh phá, tiêu diệt nó liền lập tức. Trước hết mình phải chấp nhận nó, nhận diện nó và mình khoan hành động:

-    Thở vào tôi biết tâm niệm thèm khát, ham muốn đang có trong tôi. Tôi đang thở và ôm ấp nó.

Tự nhiên có sự thay đổi trong tâm mình, cái ham muốn còn đó nhưng mình bắt đầu có một ít an lạc tại vì mình có chánh niệm. Chánh niệm làm cho tình cảnh thay đổi, chánh niệm là Bụt. Bụt đã tới với mình rồi và Bụt đang cùng mình chăm sóc cho cái tự thân của mình:

-    Bụt ơi, con đang thở vào, con thấy trong con có sự thèm khát, có sự ham muốn làm cho con khổ. Bụt ngồi đây với con đi!

Hai thầy trò ngồi thở thì tự nhiên mình thấy khoẻ dù cho tham vọng và thèm muốn chưa bị tiêu diệt.

Khi không có tham vọng và thèm khát mình cũng nhận diện:

-    Bụt ơi, trong giây phút này con không có thèm khát và ham muốn, con khoẻ quá! Bụt mừng cho con đi!

Khi có tham mình nhận diện có tham, khi có vô tham mình nhận diện có vô tham và khi nhận diện có vô tham thì hạnh phúc tới liền lập tức. Khi có sự hận thù, giận dữ, mình phải thực tập:

-    Thở vào, thở ra, tôi nhận diện có sự hận thù, có sự giận dữ trong tôi. Nó đang làm tôi đau khổ, tôi đang bị đốt cháy bởi ngọn lửa của hận thù, giận dữ. Bụt ơi, con đang giận và đang khổ, Bụt thở với con để con bớt khổ đi.

Mình thở với Bụt, thở với thầy và mình nhận diện được sự giận hờn, sự bực bội của mình thì tự nhiên mình bớt khổ. Và cứ như vậy mình đi tới, mình không cần phải đánh lộn, không cần phải tạo ra khung cảnh chiến trường ở trong tâm mình tại vì cái giận, cái hận thù kia cũng là mình. Mình không được đánh phá nó, mình không được bạo hành đối với nó. Mình phải thở và chăm sóc nó:

-    Cái giận của tôi ơi, cái bực bội của tôi ơi, tôi biết anh có đó. Tôi đang thở và tôi sẽ chăm sóc cho anh.

Đó gọi là nhận diện đơn thuần, ôm ấp hận thù của mình thì sẽ đỡ khổ liền lập tức. Khi không có hận thù, mình nhận diện không có hận thù:

-    Thở vào, tôi không thấy có hận thù, giận dữ trong tôi. Sướng quá đi! Bụt ơi, con đang thở vào và con thấy trong con, bây giờ đây trong giây phút này không có hận thù, không có giận dữ. Bụt vui với con không?

Đó là giây phút hạnh phúc! Mình có những giây phút như vậy trong ngày, tại sao mình không nhận diện nó để mình có hạnh phúc? Mình đi tìm hạnh phúc ở nơi nào nữa? Sự thật là mảnh đất tâm của mình rất lớn, hạt giống của hận thù, tham vọng và sợ hãi nằm ở dưới và nếu nó nằm yên thì phía trên có sự bình an. Phía trên là ý, phía dưới là tàng tức là chỗ cất giữ.

tangthuc


Những hạt giống của tham, của vô tham, của nhuế, của vô nhuế, v.v.. có ở phía dưới. Khi hạt giống tham đi lên trên thì mình khổ, khi hạt giống vô tham đi lên thì mình hạnh phúc. Phương pháp thực tập của mình là đừng để hạt giống của tham đi lên. Mình làm thế nào để nó ngủ yên phía dưới, nó cứ ngủ yên như vậy tháng này sang tháng khác, năm này sang năm kia thì từ từ nó sẽ nhỏ yếu lại. Mỗi ngày mình mời hạt giống vô tham lên chơi thì càng ngày hạt giống này càng lớn mạnh. Hạt giống tham và hạt giống vô tham đi đôi với nhau, hễ hạt giống vô tham lớn lên thì hạt giống tham nhỏ lại. Hạt giống hận thù và hạt giống từ bi có liên hệ với nhau. Khi mình có tình thương thì tình thương được phát hiện thường xuyên trên bề mặt ý thức và nó có cơ hội lớn lên ở dưới tàng thức. Hạt giống của tình thương lớn lên thì hạt giống của hận thù từ từ nhỏ lại. Phương pháp tu tập này là chánh tinh tấn, là tứ chánh cần. Muốn cho một hạt giống không lớn lên được thì phải tìm cách đừng cho nó phát hiện lên và làm cho hạt giống ngược lại càng ngày càng lớn lên.

Tất cả chúng ta, người nào cũng có hạt giống của ham muốn và của sợ hãi. Hồi còn ở trong bụng mẹ chúng ta không phải làm gì, khỏi phải lo lắng gì. Mẹ thở cho mình, ăn cho mình, ngủ cho mình. Trong vòng chín tháng mười ngày đó mình được ở trong một môi trường, một cung điện rất êm ấm, không có lo lắng, không có sợ hãi, không có mong cầu. Cung điện đó, tiếng Việt gọi là tử cung, tức cung điện của đứa con. Mình được ở trong cung điện rất ấm, rất bình yên và rất mềm, mềm hơn bất cứ một tấm nệm nào tại vì đó là một tấm nệm bằng nước. Nhưng đến khi mình ra đời thì hoàn cảnh thay đổi một cách rất đột ngột, mình lìa khỏi chỗ ấm áp đó và ra ở một chỗ cứng hơn. Dù người ta có dùng bông gòn, nệm hay vải cũng không thể nào mềm bằng khung cảnh trong tử cung.

Trước hết người ta lấy kéo cắt dây rốn của mình. Rất tội nghiệp, mình chưa biết gì cả mà bây giờ phải tự túc, mình phải tự thở lấy. Mẹ không thở cho mình nữa, khi mới sinh ra mình phải tập thở hơi thở đầu tiên. Mình phải tập thở vào, chưa ai dạy cho mình thở vào. Nếu không thở thì mình chết, cho nên giờ phút sinh ra là giờ phút thập tử nhất sinh, giờ phút rất nguy hiểm. Giờ phút đó là giờ phút nguy hiểm cho cả mẹ lẫn con. Đứa bé phải thở được hơi thở đầu, nó chưa biết thở như mình. Thở vào rất khó, muốn thở vào thì phải làm cho thông các chất nước trong phổi và trong cuống phổi. Nếu đứa bé không hắt hơi để thải chất loãng đó ra thì nó không thể thở được hơi thở đầu tiên. Nó phải làm thế nào để hắt hơi, thải những chất loãng trong phổi ra thì mới thở vào được. Đó là giây phút rất quan trọng, đó là giây phút sống chết và tâm niệm sợ chết phát sinh ra trong giây phút đó. Đứa bé có bản năng tìm đủ mọi cách để hắt hơi và thở hơi thở đầu tiên. Cố nhiên việc đó không dễ chịu nên em bé khóc oa oa tại vì nó phải vận dụng hết sức của mình để sống sót. Đó không phải là một giây phút hạnh phúc, đó là giây phút khổ đau. Em bé khóc biểu lộ sự sợ hãi, sự đau khổ; nhưng người lớn rất mừng vì đứa con đã được sinh ra rồi.

Lúc đó mình thấy rất rõ tâm hành sợ hãi được phát sinh, nỗi niềm sợ hãi đó khá lớn. Nhưng đồng thời với tâm hành sợ hãi có tâm hành hy vọng, cái ham muốn làm thế nào để sống sót, cái ý chí muốn sống sót. Hai tâm hành sinh ra một lần, sự sợ hãi và cái ước muốn. Tuy gọi là hai nhưng hai tâm hành là một, được phát sinh lúc mình mới sinh ra. Em bé thở vào, thở ra được rồi, bà mụ đặt em bé vào nôi êm rồi nhưng nỗi sợ hãi và sự ước muốn đó vẫn còn.

Ngày xưa mình không phải làm gì, mẹ uống cho mình, ăn cho mình, thở cho mình. Bây giờ cuống rốn đã bị cắt rồi, mình bắt đầu thấy đói, thấy lạnh. Mình nghe bước chân của ai đó đi tới và người ta đặt vào miệng mình một bình sữa. Mình cảm thấy dễ chịu, mình mấp máy hai môi và bắt đầu mút, mình cảm thấy khoẻ. Tâm tư của mình ghi nhận lại tất cả những kinh nghiệm đó. Khi đói mình có sự ham muốn, sự trông chờ. Nằm trong nôi mình cứ chờ bước chân người kia, người kia có thể là bà mẹ hay là cô y tá, bước chân đó rất quen thuộc.

Em bé học rất mau. Em bé là cái máy tính rất nhạy cảm, nó biết rằng, khi nghe âm thanh của bước chân là sẽ có sữa và có mền đắp lên và nó nằm trông chờ những âm thanh, những giọt sữa. Đôi khi cũng có những tiếng ru làm cho nó bớt khổ và nó ngủ được.

Khi mới sinh ra em bé không có khả năng gì hết. Nó có hai tay, hai chân, nhưng hai tay của nó không làm được gì, hai chân của nó cũng không đi được. Nó hoàn toàn bất lực, phải có một người nào khác lo cho nó, cho nên ngay lúc đó nó đã bắt đầu có tình yêu rồi. Ta rất cần một người để chăm sóc cho ta. Tình yêu của anh, tình yêu của chị phát sinh từ giây phút đó.

Nếu bây giờ mình đi lang thang kiếm một người bạn đời thì đó chẳng qua là sự tiếp nối của ước mơ hồi còn bé thơ mà thôi. Nếu bây giờ mình cảm thấy đơn độc khó có thể sống một mình, mình đi tìm một người để sống đời lứa đôi thì việc đó không phải là cái gì mới đâu. Nó là sự tiếp nối của ngày xưa: Một mình, mình không thể sống còn được, mình cần phải có một người chăm sóc cho mình. Người đó ngày xưa là mẹ, bây giờ người đó là em hay là anh. Sự thật là như vậy. Ước muốn của mình bây giờ chẳng qua là sự tiếp nối của ước muốn ngày xưa. Sự sợ hãi, niềm hy vọng của mình bây giờ chẳng qua là sự tiếp nối của sự sợ hãi, sự mong chờ ngày xưa. Mình mong muốn được sống sót, mong muốn có một người lo cho mình tại vì mình bất lực không làm gì được. Dù cho mình lớn lên 20 tuổi, 30 tuổi, mình có thể tự một mình sống được nhưng cái mong muốn kia, cái cảm tưởng một mình mình không thể sống còn, nó vẫn còn. Vì vậy mình phải đi tìm một người, ít nhất là một người, để lo cho mình.

Tất cả những điều đó mình phải quán chiếu. Mình phải thấy sự phát sinh, sự trưởng thành của những tâm hành, trong đó có tâm hành sợ hãi, tâm hành lo lắng, tâm hành giận dữ. Tuy em bé đang còn nhỏ, nó chỉ mới có mấy ngày, mấy tuần thôi nhưng nó học rất mau. Nó biết cách làm thế nào để có một ít quyền lực, bắt người ta phục vụ cho nó. Nó khóc, nó la, nó ré, nó đạp, tất cả đều là chiến thuật của nó. Mình tưởng nụ cười của nó rất thiên thần nhưng đôi khi đó cũng là nụ cười ngoại giao, tại vì khi mẹ thấy nó cười thì mê quá, nó muốn gì mẹ cũng cho hết. Em bé khôn lắm, nó dùng đủ mọi cách để đạt được ước muốn.

Mình đã như vậy từ hồi còn nhỏ nên khi lớn lên mình cứ tiếp tục như vậy, mình lẫy, mình hờn với người kia. Đó chẳng qua là sự tiếp nối của ngày xưa. Mình quán chiếu để thấy tâm hành đó phát sinh như thế nào, trưởng thành như thế nào và chuyển hóa như thế nào? Mình phải thấy được sự hận thù, sự giận dữ của mình đi đôi với tham vọng và hy vọng của mình, hy vọng được sống sót. Muốn sống sót thì phải đi tiêu diệt người kia tại vì người kia có thể là một mối đe dọa cho mình. Hai tâm hành dính với nhau, tham vọng và hận thù, nên trong Kinh đã đưa hai cái đi với nhau (nhuế, tham). Tâm hành thứ ba là tâm hành sợ hãi. Để chuyển hóa bộ ba tâm hành tham vọng, hận thù và sợ hãi mình cũng có bộ ba tâm hành vô tham, từ và bi. Nếu có từ và có bi mình sẽ chuyển hóa được tâm hành hận thù, giận dữ. Mình phải tập như thế nào để chế tác được năng lượng từ và bi tại vì từ và bi là phương thuốc đối trị hận thù. Mình tu tập như thế nào để đem lại từ và bi. Mình biết rất rõ, trong tàng thức của mình có hận thù, có lo lắng, nhưng cũng có hạt giống của từ và bi dù hạt giống đó đang còn rất nhỏ. Nếu biết cách tưới tẩm, nuôi nấng thì hạt giống đó sẽ càng ngày càng lớn. Khi từ bi lớn lên, mình dùng năng lượng đó quán chiếu thì sẽ thay đổi, chuyển hóa được sự hận thù.

Trong kho tàng văn học A Tỳ Đạt Ma mình học được rất nhiều phương pháp thực tập để làm phát sinh ra tâm niệm từ và bi. Khi có năng lượng từ và bi mình chuyển hóa được sự hận thù, sự sợ hãi trong mình rất dễ dàng. Trong mình có một tâm hành gọi là niệm tức chánh niệm, trái tim của sự thực tập tại Làng Mai. Niệm là đem tâm để ý tới một mục tiêu, nhận diện nó. Duy trì niệm cho vững chãi, lâu bền thì mình chế tác được định tức sự tập trung. Có niệm và định rồi thì thế nào mình cũng có một cái thấy, cái thấy ấy gọi là tuệ.

Trong tâm của mình có những đường đi nẻo về. Bây giờ khoa học thần kinh có nói tới nẻo đi, nẻo về của các tế bào thần kinh gọi là neuro-pathway. Có những nẻo đi của thần kinh mà mình đi quen rồi, hễ đụng vào đó thì nó dẫn mình tới chỗ kia rất mau. Ví dụ như khi mở tờ báo ra mình thấy một quảng cáo, quảng cáo đó đánh động tới sự thèm muốn của mình. Tiếp xúc với hình ảnh trong quảng cáo, con đường của thần kinh dẫn mình đi tới sự ham muốn. Khi ham muốn nẩy lên thì con người mình bất an, mình đi tìm cách để thỏa mãn sự ham muốn đó. Mình đã đi ngang qua một neuro-pathway rất mau chóng. Trong quá khứ mình đã đi qua con đường thần kinh đó rồi và mình bị kích thích.

Có một tâm hành gọi là tác ý, tâm của mình chú ý vào cái gì đó thì gọi là tác ý. Khi tác ý về những đối tượng của dục hay của sân thì nó đưa mình đi qua neuro-pathway tới cái sân rất mau. Mình chỉ cần nghe một câu, thấy một cái thì sự hận thù trong mình đùng đùng nổi dậy. Đạo Phật gọi đó là phi như lý tác ý (inappropriated attention). Khi tâm mình để vào những cái có tác dụng lợi lạc, như tiếng chuông chẳng hạn thì gọi là như lý tác ý (appropriated attention). Khi có tiếng chuông mình để ý tới tiếng chuông và duy trì ý thức của mình với tiếng chuông, tiếng chuông giúp mình nhớ phải thở và làm lắng dịu lại cơ thể. Con đường thần kinh đi từ tác ý tới chánh niệm, từ chánh niệm tới định, từ định tới tuệ và từ tuệ tới hạnh phúc và giải thoát.

Có người nghe tiếng chuông nhưng không để ý, tiếng chuông đối với họ không có giá trị gì cả. Họ tới chùa nghe tiếng chuông lia lịa nhưng không thực tập, chỉ để ý tới đi gặp người này, người kia để nói chuyện. Nhưng có người tới chùa, tuy ở chùa đông người như vậy nhưng nghe tiếng chuông thì tự nhiên họ dừng lại, thực tập như lý tác ý, để lòng theo tiếng chuông:
Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe
Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm

Tự nhiên thân tâm của họ lắng dịu lại, họ duy trì sự lắng dịu đó. Niệm đưa tới sự lắng dịu, sự tập trung và họ bắt đầu thấy: “Sướng quá! Mình đang ở trong chùa, mình đang được gặp thầy, mình đang có tăng thân. Mình có cơ hội để sống những giây phút hạnh phúc.” Con đường của thần kinh này đi từ tác ý tới niệm, tới định, tới tuệ và tới hạnh phúc, an lạc. Đó là nhờ tác ý đúng gọi là như lý tác ý tiếng Phạn là yoniso-manaskara, còn phi như lý tác ý tiếng Phạn là ayoniso-manaskara, manaskara là tác ý.

Ngược lại, nếu mình để tâm vào một đối tượng quảng cáo, đối tượng quảng cáo đó sẽ đưa mình tới tà niệm làm mình nhớ tới một giây phút hưởng thụ của ngày xưa và nó bắt đầu đốt cháy mình. Tâm mình không nghĩ tới chuyện khác, có bao nhiêu điều hay, điều đẹp xung quanh mình không nghĩ tới, mình chỉ nghĩ tới chuyện làm thế nào để đi kiếm đối tượng đó mà tiêu thụ. Tà niệm và tà định đưa tới nhận thức: Nếu không mua được cái đó, không có cái đó để tiêu thụ thì chắc là mình phải chết thôi. Vì vậy cho dù xa cách mấy, cho dù tốn bao nhiêu mình cũng đi tìm đối tượng đó để tiêu thụ và rồi mình sẽ chết vì cái đó.

Ở Việt Nam ngày xưa có người ghiền thuốc lào, hút nhiều quá bị đau phổi, thầy thuốc bảo anh phải ngưng thuốc nếu không thì bệnh của anh sẽ càng ngày càng nặng. Anh ta nghe lời, đào một cái lỗ chôn điếu cày xuống, lòng dặn lòng từ nay trở đi sẽ không hút nữa. Anh cũng có hạt giống của tuệ giác nhưng vì một mình không có bạn, không có người yểm trợ nên anh thực tập không giỏi. Một buổi tối, anh nhớ thuốc lào quá, phi như lý tác ý nhắc anh: Ngày xưa có lúc mình rít một hơi thuốc lào sao mà khoái quá, sao mà đã quá, thế là đêm anh tới đào ống điếu lên và hút trở lại.


Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên


Những người nghiện ma túy cũng vậy, họ rất muốn bỏ ma túy nhưng không bỏ được vì họ không có tăng thân, không có đủ tuệ giác.

Người yêu của mình là điếu thuốc lào, mình sống với người đó lên xuống, chìm nổi mà mình cũng không bỏ được. Người kia làm mình lên xuống, khổ đau, hệ lụy quá nhiều mà mình không bỏ được. Đó là do thiếu tuệ giác, thiếu tăng thân. Phương pháp của đạo Bụt là phải khám phá ra những con đường tâm và làm cho con đường đó trở thành dễ đi. Người chưa tu chưa có con đường của thần kinh rõ ràng, tu được một hai ngày thì họ bắt đầu thấy rõ con đường mòn, hễ có như lý tác ý thế thế nào cũng có chánh niệm, từ chánh niệm đi sang chánh định, tới tuệ, tới hạnh phúc rồi đi tới từ và bi. Khi có từ và bi thì không còn sợ hãi, hận thù, tham vọng và lúc đó mình có hạnh phúc.

Ở xóm Hạ mình có một con đường, trong ngày quán niệm, tăng thân thường hay ôm bình bát đi khất thực từ nhà ăn tới thiền đường. Đi khỏi thiền đường Cam Lộ có một con đường tắt bên phía tay phải. Con đường đó ngày xưa không có, nhưng vì có nhiều người gấp gáp nên đã đi tắt cho nhanh. Bây giờ lâu ngày nó đã trở thành một con đường khá lớn. Ngày hôm qua tôi cũng đã đi qua con đường đó để ra thăm cành mai các sư cô cắm trong thiền đường bây giờ đã nở hoa rất đẹp.

Trong óc của chúng ta có những neuro-pathway chưa khai phá, nếu là người thực tập giỏi mình bắt đầu khai phá những con đường của tâm ý. Trong Kinh chỉ rất rõ: Mình đã có 52 tâm hành, trong đó tác ý là môt tâm hành, niệm là một tâm hành, định, tuệ, từ, bi đều là những tâm hành. Nếu biết ngồi quán chiếu thì mình đi từ tâm hành tác ý sang tâm hành chánh niệm, chánh niệm sang chánh định, chánh định sang tuệ và tuệ sang từ bi. Chế tác được từ bi mình sẽ làm nhỏ đi, làm yếu đi hận thù trong lòng mình. Mỗi ngày mình làm như vậy thì nẻo đi kia càng ngày càng dễ và khi mình muốn đi thì đi được rất mau. Muốn có từ bi mình chỉ cần nhấn nút là từ bi tới liền lập tức, nó đi ngang qua niệm-định-tuệ rất mau mà niệm-định-tuệ là sự tập luyện của mình.

Mình biết rất rõ, đi theo con đường cũ, con đường phi như lý tác ý, nó sẽ dẫn mình tới tà niệm, mình nghĩ nhớ tới chuyện không nên nghĩ nhớ. Mình nhớ nghĩ tới nó như nhớ điếu thuốc lào, không thể quên được, mình tìm tới chỗ chôn mà đào nó lên thôi. Mình đào lên hút rồi có sự say sưa, dằn vặt trở lại. Mỗi người chúng ta đều có tập khí, không ghiền thuốc lào thì cũng ghiền chuyện khác, mình phải biết mình đang ghiền cái gì? Mỗi khi có tà tác ý, tà niệm sẽ dẫn mình đi tới chỗ đó, chỗ mình đã tới nhiều lần rồi mà mỗi lần tới đó thì mình khổ. Vậy mà cứ ngựa theo lối cũ, mình cứ đi hoài để tiếp tục khổ từ năm này sang năm khác. Mình phải cương quyết tìm ra con đường mới, mình phải tạo ra những lối đi mới. Trong Kinh dạy rất rõ: Bắt đầu bằng như lý tác ý, mình phải tổ chức như thế nào, hễ để ý tới cái nào thì cái đó phải đưa tới niệm, tới định, tới tuệ, tới từ, tới bi. Như thế mình sẽ khỏe, sẽ giải thoát, mình sẽ không còn bị vướng mắc vào những đối tượng của sợ hãi, của hận thù, thèm khát.

Xả não giải là làm thế nào để buông bỏ, để cởi trói được những phiền não như hận thù, tham vọng và sợ hãi. Biết cách rồi thì từ từ mình thấy được con đường đi sang bên kia, con đường đó mau chứ không lâu dài đâu. Biết được phương pháp như lý tác ý mình có thể tiếp xúc với chánh niệm, chánh niệm đưa tới chánh định, chánh định đưa tới tuệ giác và tự nhiên trái tim của mình mở ra. Có từ, có bi mình thấy khoẻ, hận thù không làm gì mình được nữa, tham vọng không làm gì mình được nữa.

Lời Kinh này rất hay, rất gọn. Chúng ta rất có phước được học những Kinh như vậy. Trong một khung cảnh nhiều hận thù, mình nghe và thấy những cái tưới tẩm hạt giống hận thù trong mình. Mình sẽ đi theo đám đông và hành động trên cơ bản hận thù đó. Mình phải quán chiếu để thấy được rằng, không những mình khổ mà người kia cũng khổ, không những mình là nạn nhân của bạo động mà những người được gửi qua để giết, để đàn áp mình cũng là nạn nhân. Quán chiếu như vậy thì hận thù có thể được chuyển hóa. Họ cũng là nạn nhân của sự sợ hãi, của hận thù và tham vọng. Ngày xưa trong chiến tranh Việt Nam, tôi có viết một bài để dặn dò các đệ tử trước khi rời đất nước để đi kêu gọi vận động chấm dứt chiến tranh vào năm 1966.


"Xin hứa với tôi hôm nay
Trên đầu chúng ta có mặt trời
Và buổi trưa đứng bóng
Rằng không bao giờ em thù hận con người
Dù con người
Có đổ chụp trên đầu em
Cả ngọn núi hận thù
Tàn bạo
Dù con người dẫm lên mạng sống em
Như là dẫm lên giun dế,
Dù con người móc mật moi gan em
Đày ải em vào hang sâu tủi nhục,
Em vẫn phải nhớ lời tôi căn dặn:
Kẻ thù chúng ta không phải con người.
Xứng đáng chỉ có lòng xót thương
Vì tôi xin em đừng đòi điều kiện
Bởi không bao giờ oán hờn lên tiếng
Đối đáp được
Sự tàn bạo con người.
Có thể ngày mai
Trước khuôn mặt bạo tàn
Một mình em đối diện.
Hãy rót cái nhìn dịu hiền
Từ đôi mắt
Hãy can đảm
Dù không ai hay biết
Và nụ cười em
Hãy để nở
Trong cô đơn
Trong đau thương thống thiết
Những người yêu em
Dù lênh đênh qua ngàn trùng sinh diệt
Vẫn sẽ nhìn thấy em.
Tôi sẽ đi một mình
Đầu tôi cúi xuống
Tình yêu thương
Bỗng trở nên bất diệt
Đường xa và gập gềnh muôn dặm
Nhưng hai vầng nhật nguyệt
Sẽ vẫn còn để soi bước cho tôi
"

Tôi rời đất nước vào ngày 11 tháng 5 năm 1966 và trước khi đi, tôi để lại bài thơ này. Một trong sáu anh chị Tiếp Hiện được thọ giới lần đầu tiên tại chùa Pháp Vân, chị Nhất Chi Mai, đã tự thiêu năm 1967 để kêu gọi hòa bình. Trước khi tự thiêu chị đã chép lại bài thơ này gửi cho ba mẹ và cho chủ tịch nước miền Bắc và miền Nam.

 

(Đây là bài pháp thoại Sư Ông giảng vào ngày 11.2.2010 tại chùa Pháp Vân, Xóm Thượng, Làng Mai)

Phiên tả: Chân Giác Lưu

(langmai.org)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Nhất Hạnh) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:50:43 +0000
Bốn Giai Đoạn Của Sinh Mệnh http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6427-bon-giai-doan-cua-sinh-menh.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6427-bon-giai-doan-cua-sinh-menh.html

alt

Đạp lên lớp lá vàng dày cộm dưới chân, lắng nghe âm nhạc du dương phát ra từ chiếc máy điện thoại di động, dõi mắt nhìn ra dãy núi trùng điệp mờ sương ở nơi xa, bỗng cảm thấy lòng mình trở nên trống rỗng. Hoa tự rơi, nước tự chảy, nhìn những chiếc lá lìa cành khiến tôi càng thấm thía hơn sự ngắn ngủi giả tạm của kiếp người.

Mùa xuân là mùa xán lạn, vào mùa này cây lá đâm chồi nảy lộc, tuy lúc ấy mạng sống vẫn còn yếu ớt nhưng rất kiên cường. Bằng sức mạnh của tự thân ngày ngày nuôi lớn những chiếc lá non xanh và những cành tơ căng đầy nhựa sống.

Mùa hè là mùa oanh liệt, cây cối dùng thân cành cao to cùng vô vàng những chiếc lá kết thành bóng râm dịu mát. Tuy lúc con người đang hưởng thụ sự dịu mát đó không hề nhớ đến sự cống hiến của lá cây, nhưng chúng vẫn trước sau như một mở rộng lòng ngực ôm lấy con người, mang đến cho con người một nơi chốn tâm linh tươi mát trong lành.

Mùa thu là mùa thu hoạch, lá cây lặng lẽ ngắm nhìn con người vui mừng hớn hở, tuy phải chịu sự thương tổn nhưng chúng không hề biểu lộ ra bên ngoài dù là một tí ti, chúng hạnh phúc đu đưa thân mình chúc phúc cho con người.

Mùa đông là mùa điêu tàn lạnh giá, cây cối bắt đầu rũ sạch những lớp trần cấu trên thân, đồng thời cũng rũ trụi cả những chiếc lá trên cành, nhưng những chiếc lá kia không bao giờ có một lời oán trách. Tuy gió rất lạnh, mưa rất rét, nhưng chúng vẫn rất tự tại mang theo tâm tri ân từ trên cây nhẹ nhàng lượn vòng đáp xuống đất. Chúng hiểu rất rõ cái đẹp của sinh mệnh vừa là tĩnh nhưng cũng vừa là động, chúng biết mùa đông đã đến thì mùa xuân ắt hẳn không còn xa, ngày mai vạn vật sẽ tự nhiên trở nên tươi đẹp.

Điểm qua bốn mùa của lá cây để cảm nhận rõ hơn bốn giai đoạn của kiếp sống con người. Kỳ thực sinh mệnh của con người cũng giống như những chiếc lá trên cành, hồn nhiên tuổi ấu thơ, sướng vui thời tuổi trẻ, buồn lo độ trung niên, hạnh phúc buổi xế chiều. Trong suốt dòng chảy của sinh mệnh khiến chúng ta nhiều lần phải chịu đựng những gian nan trắc trở cũng như tận hưởng những giây phút xán lạn huy hoàng.

Thời thơ ấu là một giai đoạn hồn nhiên như tờ giấy trắng, không buồn không lo, khi chúng ta cảm nhận niềm vui, cũng là lúc chúng ta có cả một khoãng trời tuổi thơ bao la bát ngát.

Tuổi trưởng thành là một giai đoạn sung mãn giống như hoa nở mùa xuân, khi chúng ta lặng lẽ tận hưởng những phút giây đẹp nhất của đời người càng làm cho chúng ta có thêm lòng tự tin vào chính bản thân mình.

Trung niên là độ tuổi thu hoạch, biết yêu quý bản thân, biết trân trọng những người chung quanh, có một cách sống cũng như lối hành xử rất kiện toàn, đồng thời nắm chắc trong tay cả một sự nghiệp huy hoàng.

Tuổi xế chiều tuy như hoa sắp tàn, nhưng ánh hoàng hôn của mùa này càng xinh đẹp bội phần, vì lúc này chúng ta có cả một trời hạnh phúc của riêng mình. Một khoãng trời xanh cũng có thể khiến cho chúng ta tận hưởng trọn vẹn tất cả vẻ đẹp của dòng sinh mệnh buổi về chiều.

Sống cốt ở sự cảm nhận, ở sự cảm thông, ở sự cống hiến, sinh mệnh tựa như bốn mùa, bốn mùa chẳng khác nào sinh mệnh.

Bốn mùa luôn có tính ngắn ngủi tạm thời, sinh mệnh cũng thế, bốn mùa mang đến cho chúng ta một sự thật chắc chắn về sinh mệnh và chúng ta cũng mang đến cho bốn mùa một sự cảm ngộ về sinh mệnh.

Xuân đi, Hạ đến; Hạ đi, Thu đến; Thu đi, Đông đến. Bốn mùa cứ như thế mà tuần hoàn, lá rụng, sinh mệnh vẫn như nhiên; sinh mệnh tuy ngắn ngủi nhưng cũng là vĩnh hằng.

Kiếp người tựa như bốn mùa, bốn mùa chẳng khác kiếp người, chúng ta hãy lắng lòng an tịnh cùng nhau cảm nhận về bốn mùa của sinh mệnh nhé!

 

Huệ Trang (lược dịch)

(tuvienhuequang.com)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Huệ Trang) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:46:30 +0000
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Việc Tái Sinh Của Tôi Sẽ Xuất Hiện ở Một Xứ Tự Do http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-the-gioi/6426-duc-dat-lai-lat-ma-viec-tai-sinh-cua-toi-se-xuat-hien-o-mot-xu-tu-do.html http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-the-gioi/6426-duc-dat-lai-lat-ma-viec-tai-sinh-cua-toi-se-xuat-hien-o-mot-xu-tu-do.html

 

DHARAMSALA, India --  Lãnh tụ tâm linh của Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma tin rằng sự tái sinh tới đây của ngài sẽ xãy ra trong “một xứ tự do”,  Nếu biến cố Tây Tạng kéo dài mà không có một giải pháp hữu nghị chân thành.

alt“Nếu tôi qua đời như một người tị nạn và tình trạng Tây Tạng tiếp tục như thế này, thế thì một cách hợp lý (logically), sự tái sinh của tôi sẽ xãy ra trong một quốc gia tự do, bởi vì mục tiêu chính của  việc tái sinh là để tiếp tục những việc làm đã được bắt đầu trong kiếp trước của tôi.

“Và, có một cống hiến nào đấy, một sự hoàn thành với công việc đã bắt đầu trong kiếp trước của tôi.  Thế thì, đấy là một sự tái sinh chân thật,” [i]  ngài nói với Bernama trong một cuộc phỏng vấn mới đây tại trụ sở lưu vong của ngài ở Dharamsala thuộc miền Bắc Ấn Độ.

Ngài nói, nếu có những chướng ngại được tạo ra để chống lại những nhiệm vụ của Đạt Lai Lạt Ma trong tiền kiếp, thế thì “hiện thực không phải là sự tái sinh.” [ii]

Vị tu sĩ lão thành, bảy mươi lăm tuổi, tên là Tenzin Gyatso, bây giờ là Đức Đạt Lai Lạt Ma, được công nhận là người tái sinh của lãnh tụ tâm linh thứ mười ba của Tây Tạng, Thubten Gyatso.

Khôi nguyên hòa bình nói, mặc dù có những dị biệt không thể vượt qua được, áp lực chính trị mạnh mẽ từ chính quyền Bắc Kinh đối với việc tự do cho Tây Tạng, ngài sẽ tiếp tục cuộc vận động của ngài cho hàng nghìn người Tây Tạng bị đẩy khỏi quê hương của họ hơn năm thập niên qua.

Khi được hỏi có thể có một nữ nhân lãnh đạo trong hệ thống nam  giới ưu thế của Phật giáo Tây Tạng trong tương lai không, ngài nói rằng nữ nhân luôn luôn được giữ một sự quý trọng cao trong Đạo Phật, không cần phải thành kiến điều này.

“Nữ Đạt Lai Lạt Ma là có thể có bởi vì trong truyền thống Tây Tạng, trong những nữ nhân cao thượng, tái sinh trong ấy, tôi nghĩ là có truyền thống Dorjee Phagmo 700-800 năm cho sự tái sinh của nữ nhân…vì thế, không có ngụ ý tôn giáo nào cho rằng lãnh đạo tôn giáo phải là nam giới.

“Nếu những hoàn cảnh là sự tái sinh nữ nhân như thế có ảnh hưởng hơn đến mọi người, thế thì, một cách hợp lý điều ấy nên là nữ nhân,” ngài nói thế.

Nghi vấn về việc, có thể một ngày nào đấy ngài sẽ thể hiện hình thức tái sinh như một nữ nhân hay không, ngài trả lời: “Tôi không biết điều đó về phần tôi.”

Người Tây Tạng lưu vong đang vận động cho một sự tự trị chân thật đúng nghĩa đối với Bắc Kinh, với việc Đức Đạt Lai Lạt Ma đẩy mạnh “sự tiếp cận trung đạo” – một đề án ôn hòa cho một cùng tồn tại hòa bình với Trung Hoa – vì thế, ngôn ngữ cổ truyền, văn hóa và Phật giáo Tây Tạng được duy trì toàn vẹn.


[i]  Nếu có một sự tiếp tục công việc của tiền thân, thế thì đấy là sự tái sinh thật sự.

[ii]  Nếu người tái sinh không thể tiếp tục những việc đã được thực hiện trong tiến kiếp thì đấy là sự tái sinh giả mạo.

 

By P. Vijian, Bernama, July 20, 2010

Tuệ Uyển chuyển ngữ - 22/07/2010

http://www.buddhistchannel.tv/index.php?id=70,9357,0,0,1,0

]]>
tcanhco@yahoo.com (Tuệ Uyển ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:43:59 +0000
Xin đừng! http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6425-xin-dung.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6425-xin-dung.html

alt

Sự hiện hữu trên cõi đời này, dù là của bậc vua chúa hay quan dân, của một thiên tài xuất chúng hay kẻ cùng đinh hạ tiện đều bắt đầu từ một khởi điểm giống nhau, tức đều bắt đầu từ một chữ “Mẹ”. Mẹ là một kỳ quan của tạo hóa, là bản tình ca không biên giới về đức nhẫn nhục hy sinh. Tình thương yêu của mẹ chan hòa, trải rộng mà không một bút mực nào có thể tả xiết. Thế mà vẫn có những kẻ trên đời này hoặc vô tình, hoặc cố ý đã thản nhiên bước qua không giám nhìn, không thưởng thức và không cảm nhận được sự ngọt ngào như trái chín cây ấy, đợi khi trái chín sắp lìa cành mới giậc mình tiếc nuối. Nhận ra điều vô tình ấy nên một nhà thơ đã nhẹ nhàng nhắc nhở chúng ta:

“Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc,

Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không.”

Để khi đọc lên, âm hưởng của nó như kéo theo một nỗi khắc khoải, len nhẹ vào tim.

Như người ta thường nói: “Con mắt là cửa sổ của tâm hồn”, và đúng sự thật như thế. Vào một ngày đẹp trời nào đó, bạn hãy đến ngồi bên mẹ và hãy nhìn thật sâu vào đôi mắt của Người. Đôi mắt ấy giờ đây tuy đã mờ đục nhưng vẫn ánh lên nét hiền hòa trìu mến làm sao, nhất là mỗi khi Người nheo mắt cười khi thấy con chăm ngoan. Cũng đôi mắt ấy, đã từng có một thời mẹ mở tròn một cách vô tư và trong xanh như bầu trời cao để nhìn vào cuộc sống, nhưng giờ sao lại mờ đục thế kia? Vì con. Vâng, chỉ vì con.

Chỉ có mẹ mới là người đầu tiên đoán biết được tâm ý của con ngay khi con chưa đủ khả năng diễn đạt ra bằng ngôn ngữ. Khi con khát, mẹ liền cho bú. Con đói, mẹ cho ăn và khi con buồn ngủ thì mẹ lại cất tiếng ru ầu… ơ… Lời ru nghe sao mà ngọt ngào như dòng sữa mẹ vậy. Đó là một giai điệu đậm đà hương vị nhân ái, thánh thiện, hồn nhiên đằm thắm. Thật đúng như một nhà thơ Tây Phương đã ví von:

“Nếu lòng con là một khoảng trời xanh

Thì ngôi sao sáng nhất chính là tình yêu của mẹ”

Thế rồi mẹ ngày một mỏi mòn dần theo sự lớn khôn của con, và đây là lần thứ bao nhiêu đôi mắt mẹ đã hướng về chốn xa trông đợi bóng con về? Là

“Dầu cho có đi khắp quả đất tròn

Thì người trông con cũng không ai ngoài mẹ”.

Đôi mắt ấy đã chứng kiến biết bao cuộc thăng trầm đen bạc của thế gian giờ đã quá mỏi mệt, nếu là người có lương tâm thì đừng một ai trong chúng ta làm cho đôi mắt ấy phải thêm phần hoen lệ. Không phải chỉ riêng con người, mà ngay cả những loài vật lớn như con voi con hổ, nhỏ như con chim con kiến còn nghĩ tưởng đến cốt nhục tình thâm. Nếu một con vật cái bị bắt mất con thì nó sẽ cất lên những tiếng kêu bi thống xé lòng, còn con vật con đôi lúc vì nhớ mẹ mà bỏ ăn cho đến chết. Loài vật vô trí mà sống còn có tình như thế, huống chi là con người, chúng ta lại nỡ đánh mất sao?!

Có hiếu với cha mẹ không có nghĩa cần phải có mâm cao cổ đầy, sơn hào hải vị dâng lên mà hãy dâng lên Người tấm lòng kình yêu, trân trọng. Tức chúng ta hãy sống sao để trong không hổ với lương tâm, ngoài không thẹn với đất trời, sống sao để cho mắt mẹ già không phải một lần ngấn lệ vì tủi hổ về con. Chỉ một việc làm tốt nho nhỏ của ta cũng đủ làm cho mắt mẹ rạng ngời lên một chút, chỉ một sự chăm sóc ân cần phát xuất từ lòng hiếu thảo của ta cũng đủ giúp những vết chân chim trên gương mặt mẹ như bớt hằn sâu hơn. Nếu không làm được như Lão Lai, ngoài 70 tuổi mà vẫn bôi mặt làm hề để cho cha mẹ vui thì ít ra chúng ta cũng đừng nên làm những việc không tốt khiến cho cha mẹ đau lòng. Đừng vì những tham vọng cá nhân, những suy nghĩ hẹp hòi ích kỷ và cũng đừng nên mãi vùi đầu trong lợi danh mà thờ ơ thiếu sót bổn phận của một người con, và đừng bao giờ để đến lúc mất cha mẹ rồi mới ngồi đó mà hối hận, mà nuối tiếc, mà hoài vọng, mà ước mơ…

Nếu đứng trên phương diện đức tin tôn giáo thì mẹ được khoát lên mình hình tượng cao siêu hơn, như đối với Phật giáo có Mẹ Quán Âm, với Thiên Chúa giáo có Mẹ Maria, đây là nơi mà các tín đồ tin tưởng hằng được che chở mỗi khi quỳ dưới chân các Ngài thành tâm nguyện cầu. Chúng ta luôn một đời dong ruỗi mưu cầu hạnh phúc vì nghĩ nó là một cái gì đó rất trừu tượng, cao vời khó nắm bắt, nhưng thật ra, như Đức Phật dạy :

“Được cung phụng cha mẹ

Yêu thương gia đình mình

Được hành nghề thích hợp

Là hạnh phúc lớn nhất.”

Do không bao giờ bằng lòng với thực tại nên hạnh phúc ở thế gian luôn nằm ngoài tầm tay con người. Vì tuy nó vô cùng giản dị đơn sơ nhưng chỉ khi nào mất đi người ta mới cảm nhận được nó.

Sau cùng, với tâm trạng bồi hồi, khắc khoải của một kẻ luôn cảm thấy có lỗi với đấng sinh thành, nhân ngày lễ Vu-lan, tôi xin mượn lại hai câu thơ trên để nhắc nhở các anh, các chị và các em:

“Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc

Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không”

Có chăng thì hãy để những giọt nước mắt ấy rơi xuống vì lòng sung sướng, vì niềm hãnh diện khi có được một đứa con “Thành nhân chi mĩ”!

 

Thích nữ Huệ Trang (Lớp Hán Nôm Huệ Quang)

Trích: Tập san Suối Nguồn 13

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích nữ Huệ Trang ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:37:59 +0000
Danh nhân Nguyễn Trãi: sự hội tụ những tinh hoa của văn hóa Thăng Long thời Lý – Trần (Kỷ niệm 1000 http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-viet-nam/6424-danh-nhan-nguyen-trai-su-hoi-tu-nhung-tinh-hoa-cua-van-hoa-thang-long-thoi-ly--tran-ky-niem-1000.html http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-viet-nam/6424-danh-nhan-nguyen-trai-su-hoi-tu-nhung-tinh-hoa-cua-van-hoa-thang-long-thoi-ly--tran-ky-niem-1000.html Danh nhân Nguyễn Trãi: sự hội tụ những tinh hoa của văn hóa Thăng Long thời Lý – Trần (Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long và 630 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi)
image Chân dung Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi xuất thân trong một dòng tộc, nhiều đời là võ quan cao cấp dưới nhiều triều đại. Dòng họ này có truyền thống cương trực, khảng khái, khí tiết, lập trường thân dân, từng đứng về phía những người thế cô, bị hà hiếp để đấu tranh dũng cảm chống lại cường quyền và bạo lực, vì thế nhiều lần bị tai họa nặng nề với nhiều mức độ khác nhau dưới các triều đại phong kiến.

1. Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, sinh năm Canh Thân (1380) tại dinh thự của ông ngoại ở Thăng Long và mất ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (19 – 9 – 1442) bởi vụ án Lệ Chi viên oan nghiệt, thảm khốc; nguyên quán ở làng Chi Ngại (làng Ngái), huyện Phượng Nhỡn (nay là huyện Chí Linh), Hải Dương; trước đó vài đời, một chi họ Nguyễn ở Chi Ngại đã dời về định cư tại làng Ngọc Ổi, huyện Thượng Phúc, Hà Đông (sau đổi thành làng Nhị Khê, xã Quốc Tuấn, huyện Thường Tín, Hà Tây; nay thuộc Hà Nội). Làng Nhị Khê là một làng quê nằm bên tả ngạn sông Tô Lịch phía Hà Nội chảy về, trù phú, thuần nông và có nhiều nghề thủ công đặc sắc.

             Nguyễn Trãi xuất thân trong một dòng tộc, nhiều đời là võ quan cao cấp dưới nhiều triều đại. Dòng họ này có truyền thống cương trực, khảng khái, khí tiết, lập trường thân dân, từng đứng về phía những người thế cô, bị hà hiếp để đấu tranh dũng cảm chống lại cường quyền và bạo lực, vì thế nhiều lần bị tai họa nặng nề với nhiều mức độ khác nhau dưới các triều đại phong kiến. Dòng họ Nguyễn này là một đại tông, gốc ở Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn (nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Thủy tổ là Định Quốc công Nguyễn Bặc, ông đã cùng với Thái tể Đinh Điền phò tá Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân để thống nhất giang sơn, lập nên nhà Đinh (Đinh Tiên Hoàng 968 – 979). Hai vị này từng chống lại Lê Hoàn, khi Lê Hoàn (lúc còn giữ chức Thập đạo tướng quân dưới triều Đinh Tiên Hoàng đế) cùng với người tình là Dương Vân Nga có ý định soán đoạt vương triều nhà Đinh. Việc không thành, Đinh Điền bị giết tại trận, còn Nguyễn Bặc sau đó (lúc Lê Hoàn lên ngôi) bị hại và gia tộc bị vạ lây. Nguyễn Quốc, Nguyễn Nộn đều là những vị tướng tài dưới triều Lý Anh Tông, đã cùng Đoàn Thượng dấy binh chống lại phe nịnh thần Tể tướng Đỗ Anh Vũ, việc thất bại, nhiều người trong họ bị tai vạ. Ông cố (cụ nội) là Nguyễn Công Luật (giữ chức Giám quân Thiên Trường - quê hương nhà Trần) và ông nội là Nguyễn Minh Du (giữ chức Quản quân Thiết hổ - một trong năm vị tướng đứng đầu năm đội quân cấm binh bảo vệ Hoàng thành Thăng Long) đã từng đứng về phía Thái úy Trang Định vương Trần Ngạc và Thẩm hình viện sự Lê Á Phu chống lại Tể tướng kiêm Phụ chính đại thần Hồ Quý Ly chuyên quyền, lấn át vua vào cuối thế kỷ XIV (thời vãn Trần). Bị họ Hồ phản kích, ông cố bị sát hại cùng với nhiều người trong thân tộc. Riêng ông nội và ông nội thứ là Nguyễn Tác cùng hai người bác ruột là Nguyễn Sùng và Nguyễn Thư (từng là võ quan cao cấp triều Trần Phế Đế - 1377 – 1388, sau chuyển làm ở Khu mật viện triều Trần Thuận Tông - 1388 – 1397) phải chạy về Gia Miêu ngoại trang mới yên thân. Còn cha con Nguyễn Trãi vẫn bình ổn, có lẽ là nhờ uy tín và thế lực của Trần Nguyên Đán.

Ông ngoại là Chương Túc Quốc Thượng hầu Tư đồ Trần Nguyên Đán (1325 – 1390), hoàng tộc nhà Trần, ông là cháu bốn đời của Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải – con trai thứ của Trần Thái Tông, người sáng lập nhà Trần. Quan Tư đồ là người có học vấn uyên thâm, nổi tiếng thơ văn, giỏi lịch pháp, thiên văn, độn số và là người có công giúp Cung Định vương Tả Tướng quốc Trần Phủ (tức Trần Nghệ Tông 1370 – 1372, nhường ngôi cho em, và làm Thượng hoàng 1372 – 1394) tiêu diệt Dương Nhật Lễ để khôi phục nhà Trần, được phong tước hầu, giữ chức Tư đồ quyền ngang Tể tướng.        

            Thân phụ là Nguyễn Ứng Long (1355 ? – 1428 ? (1), sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh vào năm 1400 lúc ra làm quan dưới triều Hồ Quý Ly) lại không theo nghiệp võ. Ông là con rễ của Trần Nguyên Đán, từng đỗ Hoàng giáp (Đệ nhị giáp, có tài liệu ghi ông đỗ Đệ tam giáp, tức Thái học sinh) trong kỳ thi Đình năm Giáp Dần (1374), niên hiệu Long Khánh thứ 2 triều Trần Duệ Tông (1373 – 1377), nhưng triều đình không trọng dụng bổ chức quan, với lý do “con nhà thường dân mà lấy con gái hoàng tộc” như sử sách có ghi lại (2). Mãi đến khi họ Hồ soán ngôi nhà Trần, thì Nguyễn Ứng Long mới được Hồ Quý Ly ban chỉ dụ mời ra làm quan với chức Hàn lâm Học sĩ, kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám (3). Mẹ là Trần Thị Thái (1349 – 1386), con thứ ba của Trần Nguyên Đán.

            Năm 1400, Nguyễn Trãi đi thi Đình, đỗ Thái học sinh khoa thi đầu tiên dưới triều nhà Hồ, năm sau được cử giữ chức Ngự sử đài Chánh chưởng (4). Năm 1407, giặc Minh xâm lược, cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt, nhiều quan lại nhà Hồ bị giết hoặc bị bắt đưa về giam ở Trung Quốc. Riêng Nguyễn Trãi trốn thoát. Theo Đại Việt sử ký toàn thư và theo Lịch triều hiến chương loại chí, mục Nhân vật chí thì “Tổng binh Trương Phụ ép Phi Khanh viết thư gọi ông, ông bất đắc dĩ phải ra hàng. Phụ biết ông không chịu ra làm, muốn giết đi, nhưng Thượng thư Hoàng Phúc thấy mặt mũi khác thường, tha cho và giam lỏng ở thành Đông Quan” (5). Sau đó ông trốn thoát và bắt đầu mười năm tìm đường cứu nước. Lúc này có hai cuộc khởi nghĩa chống Minh của nhà Hậu Trần do Trùng Quang đế và Giản Định đế lãnh đạo, nhưng Nguyễn Trãi không theo, mãi đến năm 1918, ông mới vào Lam Sơn phò giúp Lê Lợi. Buổi đầu của cuộc khởi nghĩa, do lực yếu thế cô, có lúc đội quân khởi nghĩa bị giặc minh đánh tan tác, mỗi người một nơi. Năm 1421, ông trở lại Lam Sơn lần 2, yết kiến Bình Định vương tại Lỗi Giang, dâng Bình Ngô sách, được Lê Lợi tin dùng, đối đãi vào hàng quân sư, cùng bàn bạc việc quân cơ. Nhờ tài thao lược, chiến lược “Tâm công” cùng tài ngoại giao, tài viết thư thảo hịch mà Nguyễn Trãi đã dùng tấc lưỡi, ngòi bút của mình để dụ hàng quân giặc. Kháng chiến thành công, khi triều đình định công ban thưởng, dù công lao vào bậc nhất, nhưng ông chỉ được ban quốc tính (họ Lê), phong tước Quan phục hầu, chức Thượng thư Bộ Lại, kiêm Nhập nội Hành khiển và trông coi Môn hạ sảnh, tức những chức quan đối nội, lo việc triều đình, ở bậc hai, bậc ba trong hàng ngũ quan chức đời Lê. Nhưng sau đó không lâu bị Lê Thái Tổ nghi oan trong việc Đèo Cát Hãn nổi loạn đòi phiên trấn cát cứ, ông bị tù, còn những vị khai quốc công thần như Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn thì bị bức tử. Khi được tha thì ông bị mất gần hết chức tước, quốc tính. Gần cuối đời, có thể nói, Nguyễn Trãi gặp nhiều bi kịch, vì thế mà ông xin về Côn Sơn làm bạn với với trăng thanh gió mát, vui thú với tùng với mai, thi thoảng mới về Thăng Long khi triều đình có việc cần. Đến năm 1440, lúc này Lê Thái Tông đã trưởng thành, đã dẹp yên bè đãng Lê Sát, nhà vua triệu ông ra làm quan trở lại, dù lần này chức không cao, không to, nhưng Nguyễn Trãi vẫn hăm hở ra, chỉ vì dân vì nước và viết bài Tạ ân biểu nổi tiếng. Cũng vì trở lại lần này mà sau đó ông cùng gia tộc bị cái án oan nghiệt Lệ Chi viên thảm khốc vào tháng 9 năm 1442 !

            Có thể nói trong cuộc đời, Nguyễn Trãi đã hai lần đứng trước sự lựa chọn. Lần đầu, lúc nhà Trần đang bước dần vào tình trạng khủng hoảng, trở thành thế lực bảo thủ, và Hồ Quý Ly là đại diện cho cái mới với những cải tổ tiến bộ. Cha con Nguyễn Trãi chấp nhận Hồ Quý Ly, dẫu biết rằng chính họ Hồ là kẻ cướp ngôi vua Trần, lại là người trước đó đã từng là kẻ thù của dòng tộc họ nội mình, mà khi tổng kết cuộc chiến, trong Bình Ngô đại cáo, ông đã viết “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà; Để trong nước lòng dân oán hận.” và trong thơ chữ Hán, có lần ông đã nêu suy nghiệm của mình về sự tồn vong của lịch sử, triều đại mất là do không được lòng dân, tuy vậy, ông vẫn có lời thơ trân trọng khi viết về Hồ Quý Ly, gọi họ Hồ là anh hùng: “Họa phúc hữu môi phi nhất nhật, Anh hùng di hận kỷ thiên niên – Quan hải” (Họa phúc đều có đầu mối, đâu phải một ngày, Anh hùng để lại mối hận đến mấy ngàn năm – Đóng cửa biển). Lần sau là việc tìm đường cứu nước, tìm chân chúa mà thờ. Ông đã không theo hai cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần (1407 – 1413) mà phải nghĩ suy cân nhắc, để sau đó mới đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vào năm 1418 do Lê Lợi chủ xướng, và trở thành vị khai quốc công thần số một của triểu Hậu Lê sơ. Đây là sự lựa chọn đúng đắn, mang tinh thần rộng mở, mà chúng tôi sẽ có dịp trở lại ở phần sau.

            Đồng thời, cuộc đời của Nguyễn Trãi có hai điểm lớn đáng chú ý: Một là, Nguyễn Trãi là một thiên tài, một anh hùng dân tộc, một nhân vật toàn tài lỗi lạc và vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử trung đại Việt Nam. Hai là, ông cũng là người đã phải gánh chịu nhiều nỗi oan khiên, oan khuất, thảm khốc nhất do xã hội phong kiến gây ra đến mức hiếm có trong lịch sử dân tộc.  

2. Tìm hiểu cội nguồn của sự hình thành thiên tài Nguyễn Trãi có lẽ không ngoài những nhân tố sau:

          - Ảnh hưởng từ dòng họ với truyền thống cương trực, khảng khái, khí tiết cứng cỏi, đấu tranh chống lại cường quyền, bạo lực, chống cái xấu cái ác làm hại nước hại dân.

            - Ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng, văn hoá và học thuật cùng nhân cách của ông ngoại, của cha, nhất là tư tưởng thân dân, chăm lo cho dân.

            - Từng sống đời sống thanh bần, trong sạch giản dị ở Côn Sơn, ở Nhị Khê từ thuở thiếu thời, cũng như lúc cáo quan về Côn Sơn, sống gần gũi với nhân dân; đặc biệt là mười năm phiêu bạt tìm đường cứu nước nên ông thấu hiểu dân tình, đồng cảm những cảnh ngộ của nhân dân.

            - Tiếp thu nhiều nguồn văn hoá tư tưởng: trong kinh sách Tam giáo, nhất là Nho giáo; từ truyền thống văn hoá tư tưởng nhân dân; từ tinh hoa văn hoá thời đại Lý - Trần; từ hiện thực thời đại lịch sử; từ thực tế trải nghiệm cuộc sống của bản thân rồi dung hòa, nâng cao thành hệ tư tưởng của thời đại phục hưng dân tộc sau chiến thắng giặc Minh. Tư tưởng của Nguyễn Trãi cũng chính là tư tưởng tiêu biểu cho tư tưởng Đại Việt ở nửa đầu thế kỷ XV. Vì thế, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, tuy khái niệm này là của Nho gia nhưng quan niệm của ông có khác chút ít so với Khổng Mạnh, và hoàn toàn khác xa với Tống Nho, tư tưởng đó mang tinh thần thân dân, vì dân. Theo ông, yêu nước chính là yêu dân, thể hiện khát vọng xây dựng đất nước hoà bình, phát triển, nhân dân được ấm no, hạnh phúc, muốn “yên dân”, thì phải “trừ bạo”.

            3. Thế thì Nguyễn Trãi đã tiếp thu và thừa hưởng những gì từ tinh hoa văn hóa – tư tưởng của thời đại Lý – Trần ?

Thời đại Lý – Trần kéo dài suốt gần 5 thế kỷ, trải qua các triều đại: Ngô (939 -  965), Đinh (968 - 980), Tiền Lê (981 - 1009), Lý (1009 - 1225), Trần (1225 - 1400), Hồ (1400 - 1407), Hậu Trần (1407 - 1413), trong đó hai triều đại Lý và Trần là lâu dài nhất, tiêu biểu nhất, hình thành nền văn hóa Thăng Long ngời sáng. Đặc trưng của thời đại này mang ba nét cơ bản sau: Một là, thời đại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thống nhất cộng đồng; Hai là, thời đại phục hưng dân tộc và phát triển đất nước; Ba là, thời đại khoan giản, an lạc, nhân thứ, rộng mở và dân chủ (6). Nhờ phát triển kinh tế và phục hưng văn hóa mà thời đại này, nhân dân ta đã có một đời sống vật chất tương đối no đủ, một đời sống tinh thần tương đối dễ chịu, trong không khí dân chủ và rộng mở. GS Đặng Thai Mai đã đúc kết tinh thần của thời đại ấy với nét tiêu biểu là “tích cực”, “vui vẻ”, “dễ chịu”, “gần gũi với nhau”, “cởi mở và phong phú’, “rộng rãi và sâu sắc” (7); Còn GS Lê Trí Viễn thì nói thời đại ấy “giàu chất dân chủ và chất rộng mở” (8). Tinh thần thời đại ấy đã tạo nên nền văn hóa Thăng Long có một không hai trong lịch sử dân tộc, mà chủ thể trung tâm của thời đại này là những con người tự tin, hào hùng, dũng lỉệt, phóng khoáng, trong sáng, nhân ái, độ lượng và khoan dung. Thời đại này đã sản sinh những con người rất lạ, rất đẹp, rất đáng kính về nhân cách mà rất khó có thể gặp lại những mẫu hình con người như thế ở các giai đoạn lịch sử tiếp theo. Có được tinh thần thời đại và mẫu hình những nhân cách tuyệt vời như trên là nhờ lòng yêu nước, yêu con người, nhờ bản lĩnh kiên cường cùng ý thức độc lập tự cường của dân tộc. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Một nhân tố quan trọng khác để làm nên chất Đại Việt của văn hóa Thăng Long còn là nhờ ảnh hưởng tư tưởng từ bi, thấm đẫm tính nhân văn của nhà Phật. Chính giáo lý nhân từ của Phật giáo đã cảm hóa và ảnh hưởng đến xã hội, phong hóa, chính trị của thời đại, nên học giả Hoàng Xuân Hãn đã gọi “đó là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta” (9). Để sau này, Nguyễn Trãi đã tiếp thu, thừa hưởng và cải biến nâng cao, trở thành đỉnh điểm của văn hóa Đại Việt hồi đầu thế kỷ XV.        

4. Tư tưởng và văn chương Nguyễn Trãi là sự hội tụ những tinh hoa của văn hóa Thăng Long thời Lý – Trần

            4.1 Nguyễn Trãi không chỉ chịu ảnh hưởng từ truyền thống của dòng họ, gia đình; được tiếp thu một nền giáo dục có hệ thống và uyên bác cùng tư tưởng thân dân của ông ngoại và cha; từng sống một đời sống thanh bạch, giản dị, gần gũi nhân dân, thấu hiểu dân tình, mà ông còn thừa hưởng những truyền thống quý giá và cao đẹp của lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, còn nếu tính từ ngày đất nước giành lại độc lập sau hơn nghìn năm Bắc thuộc, thì Nguyễn Trãi là sự kết tinh những tinh hoa của thời đại, mà hai triều Lý và Trần là tiêu biểu. Hai triều đại này đã tạo nên một nền văn hoá Thăng Long rực rỡ, thể hiện một tính chất chung: CHẤT ĐẠI VIỆT (10). Ở đó, hai trục tư tưởng chính của thời đại, có truyền thống từ xa xưa của dân tộc là tư tưởng yêu nướctư tưởng nhân đạo được biểu hiện rõ nét nhất. Hai tư tưởng này phát triển theo tiến trình của lịch sử dựa trên hai cốt lõi vững chắc là tinh thần dân chủ tinh thần rộng mở. Tư tưởng Nguyễn Trãi, văn chương Nguyễn Trãi, nhất là tập thơ chữ Hán Ức Trai thi tập đã thể hiện rất rõ tính chất Đại Việt với tinh thần dân chủ rộng mở ấy của thời đại Lý - Trần. Ông đúng là sự kết tinh những gì đẹp đẽ nhất, tinh túy nhất, tinh hoa nhất của thời đại đó, có sự kết hợp với thực tiễn đất nước hồi đầu thế kỷ XV.

Tinh thần dân chủ trong tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi, cụ thể là quan niệm về dân, tư tưởng thân dân được nhà tư tưởng, nhà văn hoá Nguyễn Trãi bàn bạc sâu và kỹ trong nhiều tác phẩm thuộc loại chính luận và trữ tình như Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Chí Linh sơn phú, Lam Sơn thực lục (11), Băng Hồ di sự lục, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập nhưng ở Ức Trai thi tập thì được Nguyễn Trãi thể hiện rõ nhất, đầy đủ nhất và sâu kỹ nhất. Ông từng so sánh vua là thuyền, dân là nước như trong bài chiếu răn Thái tử. Đẩy thuyền, làm lật thuyền là dân, dân có sức mạnh như nước: Tải chu, phúc chu giả, dân dã Phúc chu, thuỷ tín, dân do thuỷ. Bài Quan hải, Nguyễn Trãi còn phát biểu quan niệm này nhưng có khác hơn. Bài thơ là sự suy nghiệm của ông về lịch sử, về sự sụp đổ của một triều đại để tìm ra nguyên nhân cơ bản của thảm hoạ mất nước là do triều đại đó không được lòng dân. Nhờ suy nghiệm này mà người đọc hôm nay hiểu rõ hơn vì sao cha con Nguyễn Trãi có quan hệ với hoàng tộc nhà Trần, lại ra làm quan cho nhà Hồ mà nhà Hồ là triều đại soán ngôi nhà Trần, làm cho lòng dân oán thán, và chính Hồ Quý Ly là người từng truy sát ông cố và ông nội cùng hai người bác ruột của Nguyễn Trãi, trong sự kiện khi các vị này đứng về phe Thái úy Trang Định vương Trần Ngạc và Thẩm hình viện sự Lê Á Phu chống lại Hồ Quý Ly, lúc họ Hồ đang là Tể tướng, kiêm phụ chính đại thần cuối triều nhà Trần, có ý chuyên quyền. Rồi nhà Hồ mất, nước mất theo, cha bị bắt, ông nghe lời cha trở về tìm cách rửa nhục cho nước, báo thù cho cha. Nguyễn Trãi dù là cháu chắt bên họ ngoại của nhà Trần, nhưng ông không tham gia hai cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh do tôn thất nhà Trần lãnh đạo. Để rồi, sau mười năm phiêu bạt, cuối cùng ông tìm đến Lam Sơn tham gia khởi nghĩa, tôn phò minh chủ Lê Lợi, và trở thành vị khai quốc công thần số một của triều Hậu Lê sơ. Việc này không chỉ là sự thể hiện tính dân chủ mà còn bộc lộ tính rộng mở nữa trong tư tưởng của Ức Trai tiên sinh. Theo Nguyễn Trãi, dân có sức mạnh vô địch và vô tận. Dân mạnh thì nước còn, nước phát triển; dân yếu thì nước yếu, có khi nước mất; không có dân thì không có nước.

Băng Hồ di sự lục tuy là bài ký rất cảm động viết về ông ngoại kính yêu, nhưng qua đó có thể thấy Nguyễn Trãi đã kế thừa truyền thống gia đình cùng tiếp thu tư tưởng thân dân, tấm lòng ưu ái vì nước vì dân của ông ngoại.

Trong  Ức Trai thi tập, Nguyễn Trãi nói nhiều về quân thân, ưu ái, tiên ưu hậu lạc, thốn tâm đan, thương sinh tại niệm có đến 21 lần trên 105 bài thơ chữ Hán (12). Tuy đó là lý thuyết của Nho gia với cương thường, trung hiếu, quân thân nhưng ông đã gộp hai đối tượng vua (nước) và dân trong một tình cảm chung là niềm ưu ái và thể hiện bằng một thái độ trách nhiệm cao đối với dân: tiên ưu.

Trong Quốc âm thi tập, nhiều câu thơ được tác giả nhắc lại như một điệp khúc ở nhiều đề mục với các từ như trung hiếu, quân thân, ơn chúa cha; thi thoảng, nhà thơ viết việc nước, ưu ái, ích dân, lòng dân; có khi trừu tượng hơn tấc son, chí cũ v.v.. Tất cả đều cùng một  nội dung với những gì mà Nguyễn Trãi đã viết trong Ức Trai thi tập.

Nói chung, đó là tấm lòng tha thiết sâu nặng của ông đối với quê hương, đất nước, nhân dân. Những bài thơ viết trong thời gian mười năm phiêu bạt tìm đường cứu nước như Loạn hậu cảm tác, Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác, Quy Côn Sơn chu trung tác, Hải khẩu dạ bạc, Ký cữu Dịch (Dị) Trai Trần công, Thanh minh, Quan hải, Thính vũ, Thần Phù hải khẩu, Thu dạ khách cảm, Tặng hữu nhân v.v.. là những bài thơ ăm ắp một nỗi niềm sâu nặng đối với nhân dân, đối với quê hương. Chẳng hạn, Loạn hậu cảm tác là sự đau thương của nhà thơ đối với nhân dân bị giặc ngoại xâm giày xéo; là niềm bi thiết cho thân phận mình muốn cứu nước cứu dân nhưng bất lực. Hải khẩu dạ bạc nhắc đến việc chưa báo ơn nước, đành ôm gối lạnh thao thức suốt năm canh. Lưu ý là trong hệ thống khái niệm của phong kiến, quốc ân tức ơn nước cũng chính là quân ân tức ơn vua. Theo ông, mệnh đề trung quân ái quốc của Nho gia chính là ái dân. Trung với vua chính là yêu nước, mà yêu nước đồng nghĩa với yêu dân, vì quốc dĩ dân vi bản (nước lấy dân làm gốc), dân vi bang bản (dân là gốc của nước). Như vậy, trung với vua thống nhất với yêu nước, thương dân. Vua – nước – dân là một. Đó cũng là niềm thương xót sinh linh vạn tính, thương sinh tại niệm, thương cảm bà con khốn khó nơi quê nhà, thương nhớ bè bạn, nhớ mồ mả cha ông không người sửa sang hương khói, nhớ quê, nhớ bà con ai mất ai còn trước ngọn giáo làn tên lưỡi gươm của quân xâm lược trong những tháng năm bị giặc chiếm đóng. Cho nên nỗi niềm yêu nước thương dân là tâm sự thường trực trong tâm hồn ông, là niềm thao thức khôn nguôi trong thơ văn của ông.

Những bài thơ viết lúc kháng chiến mới thành công như Hạ tiệp cũng thể hiện tinh thần dân chủ, luôn luôn chăm lo cho dân. Những bài thơ này dù ít nhiều mang tính thù phụng thù tạc, nhưng vẫn thể hiện niềm vui mừng của tác giả đối với đất nước được thái bình, nhân dân rồi đây sẽ được ấm no hạnh phúc, sống trong cảnh hoà bình, đầy tình thân ái.

Những bài thơ viết khi không còn điều kiện để thi thố tài năng, thực hiện hoài bão như Ngẫu thành, Tức cảnh, Mạn hứng cũng mang nặng nỗi niềm dân nước. Bài Ngẫu thành tả cảnh sống nhàn nhã của một ông quan lạnh, nhà cửa im ỉm, không ngựa xe, không người qua lại. Nhà thơ phải đốt gỗ bách cho khói lan toả khắp nhà. Lạnh là do nhà vắng hay vì tấm lòng Ức Trai đã nguội lạnh với công danh ? Vậy mà mở đầu bài thơ lại là nỗi vui mừng ! Vui hay buồn ? Kỳ thực bên trong là nỗi đau xót khôn nguôi của một người luôn nghĩ đến dân đến nước mà không làm gì được cho dân cho nước. Hai bài Tức cảnh  Mạn hứng cũng vậy. Nhà thơ nói nhiều về thương sinh tại niệm; Quân thân tại niệm độc tiên ưu. Phải chăng, giữa chốn triều quan, chỉ mỗi Nguyễn Trãi là người cô độc? là ông quan hay là ẩn sĩ? Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải như trong thơ Nôm, ông đã từng viết?

Bên cạnh tinh thần dân chủ, trong thơ Nguyễn Trãi còn bộc lộ tinh thần rộng mở. Tinh thần này thể hiện ở vấn đề quan niệm về cái lẽ xuất - xử, hành - tàng của nhà thơ. Dường như chuyện xuất hay nhập của Nguyễn Trãi có điều gì đó còn vướng mắc trong suy nghĩ của ông, nó không dứt khoát như một số nhân sĩ khác trước ông như Chu Văn An hoặc sau ông như Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là sự linh hoạt mềm dẻo trong sự chọn lựa tìm hướng đi sao cho đúng, miễn là hướng đi ấy có ích cho dân cho nước. Ông là con cháu của nhà Trần, lại ra làm quan cho nhà Hồ, nhà Hồ mất, ông không theo hai vua nhà hậu Trần kháng chiến mà lại phiêu bạt, cuối cùng lại ra giúp Lê Lợi, như trên có nói. Sự lựa chọn này hẳn có lý do riêng, nhưng cũng đủ thấy tinh thần rộng mở trong suy nghĩ của ông. Tinh thần rộng mở này có cái gốc vững chắc để ông làm chỗ dựa là về mặt chính trị, có thể ông nghĩ họ nào làm vua cũng được, ai là người lo cho nước cho dân, thật sự vì nước vì dân thì ông khuông phò, tin theo.

Tinh thần rộng mở còn thể hiện ở chỗ vì nhân dân hai nước, vì tình hoà hiếu đôi bên, và cũng vì nghĩ đến cái kế sâu rễ bền gốc lâu dài mà Nguyễn Trãi đã khuyên chủ tướng Lê Lợi không tấn công thành Đông Quan trong khi giặc đang núng thế, để tránh cái cảnh máu đổ đầu rơi mà trái lại khuyên giặc ra hàng; hơn thế còn tha tội chết, cấp phương tiện và lương thực cho chúng rút quân về nước một cách an toàn tuyệt đối. Thật đúng là mưu kế kỳ diệu, cũng là hiếm thấy xưa nay như Nguyễn Trãi đã tổng kết trong Bình Ngô đại cáo. Đó là nhân nghĩa! Đây đúng là sự kết tinh văn hoá tư tưởng của dân tộc suốt gần năm trăm năm thời Lý - Trần, dựa trên cái cốt lõi dân tộc vững chắc, bên cạnh tiếp thu những yếu tố tư tưởng tích cực của Nho của Phật, mà những yếu tố này phù hợp với mình, có lợi cho mình rồi ông biết nâng cao lên chót vót sáng rỡ.

Nguyễn Trãi là nhà Nho nhưng trong thơ văn của ông không chỉ nói tiếng nói của Nho gia mà còn có cả tư tưởng của Phật và Lão - Trang. Hình ảnh nhà quan thanh vắng giống như cảnh nhà chùa, và người chủ nhà có tấm lòng trong veo sự đời, chẳng khác nào cái tâm thanh tịnh của nhà sư (Tiêu nhiên hoạn huống tự tăng gia - Mạn hứng 5). Lên chơi chùa Tiên Du mà lòng ngộ đạo Thiền, cái tâm đốn ngộ vô ngôn (Tiên Du tự). Bạn cũ đến Côn Sơn thăm, thức trắng đêm tâm sự, hôm sau tiễn bạn về núi thì ông nghĩ rồi ta cũng theo đạo Thượng thừa Thiền thôi (Tống tăng Đạo Khiêm quy sơn). Đến Bảo Phúc đề thơ, cho rằng chốn ấy thật đáng cho ta ẩn. Lời kêu gọi về đi, sao không về trong Côn Sơn ca, mang cả tinh thần dung hợp tam giáo. Ở đây, cái hành và tàng của Nho gia có khi bị động, cứng nhắc thì đã có cái nhập mà xuất, xuất mà nhập uyển chuyển của Phật, của Đạo (Lão - Trang) bồi bổ thêm, bổ sung thêm cho tư tưởng của ông. Cái u tịch của Phật cùng cái thanh khiết của Đạo đã hoà trộn, làm cho tư tưởng ông có sự hài hoà, thăng bằng, mềm dẻo. Nguyễn Trãi là người giữ vững sự thăng bằng ấy với một bản lĩnh siêu việt, phi thường: vững chắc mà thanh cao, yêu nước thương dân là trên hết. Đây cũng chính là mẫu người, là tinh thần của nhà vua - Thiền sư Trần Thái Tông trong Thiền tông chỉ nam ca (hiện chỉ còn bài Tựa), trong Khoá hư lục mà Nguyễn Trãi đã tiếp thu và kế thừa.

Tinh thần rộng mở, dân chủ của thời đại Lý - Trần, thời đại phục hưng mọi giá trị văn hoá tinh thần truyền thống sau hơn ngàn năm lệ thuộc phương Bắc, do nhiều nguyên nhân, Nguyễn Trãi đã tiếp thu, thấm nhuần được tinh thần đó của thời đại một cách sâu sắc, rồi phát huy rực sáng trong thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và trong cả thời bình lúc dựng xây đất nước hồi đầu thế kỷ XV. Nguyễn Trãi đã từng tâu với vua Lê Thái Tông: Kể ra, thời loạn dùng võ, thời bình dùng văn. Ngày nay, đúng là lúc nên làm lễ nhạc. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hoà bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng chiếu làm nhạc, không dám không hết lòng hết sức, nhưng vì học thuật nông cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật khó được hài hòa. Xin bệ hạ rủ lỏng yêu thương và chăn nuôi muôn dân, khiến cho các nơi làng mạc, thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng oán giận than sầu, đó là không mất cái cỗi gốc của nhạc vậy”  (13). Nói về âm nhạc mà Nguyễn Trãi đã nêu lên mối quan hệ giữa “gốc” và “văn”, giữa “hòa bình” và “thanh âm”, tức mối liên hệ giữa nội dung và hình thức của nghệ thuật, mà mối liên hệ này gắn bó chặt chẽ với hiện thực đời sống nhân dân. Vì thế, lời tâu ấy càng thể hiện sâu đậm tấm lòng ưu ái rừng rực “Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông” với dân với nước của Ức Trai tiên sinh !

Cũng cần lưu ý là, từ cuối thế kỷ XIV, trong nội bộ dòng họ, gia tộc của Nguyễn Trãi đã có sự nhận thức khác nhau về lịch sử, về lẽ sống. Ông cố và ông nội theo Thái uý Trang Định vương Trần Ngạc chống lại Hồ Quý Ly, thất bại nên bị họ Hồ sát hại, vạ lây cả gia tộc. Cha con ông lại theo Trần Nguyên Đán, có thái độ ứng xử mềm dẻo hơn nên được bảo toàn cả gia đình. Sau hai cha con lại làm quan cho nhà Hồ. Dù đi theo người nào chăng nữa thì cuối cùng, tất cả cũng đều xuất phát từ lòng yêu nước thương dân, vì dân, lo cho dân, thân dân, nhưng cách thức thể hiện mỗi người một khác. Đó cũng là một biểu hiện của tinh thần rộng mở.

Trong bước ngoặt của lịch sử, Nguyễn Trãi đã tỉnh táo tìm ra lẽ phải, tìm ra hướng đi đúng, lẽ sống đúng. Nguyễn Trãi trở thành vĩ nhân, là người kết tinh kiệt xuất những giá trị tinh hoa văn hoá, tư tưởng, văn học của 5 thế kỷ. Dường như những giá trị tinh túy nhất của thời đại lịch sử đã hội tụ nơi ông, vì ông hiểu rõ và nắm chắc quy luật vận động của lịch sử, kết hợp sự tự vận động bản thân mình trong cuộc sống, biết đi tìm lẽ sống đúng, biết tự đổi mới theo hướng đi lên để xây dựng một cuộc sống cho dân cho nước tốt đẹp hơn, bằng một hành động: lo nước thương dân. Điều đó còn lý giải tại sao một người cháu mang dòng dõi nhà Trần lại ra làm quan cho nhà Hồ, mà nhà Hồ là người đã giết hai ông cố và họ nội của mình! Họ Hồ mất, đất nước mất, ông lại theo Lê chiến đấu để giải phóng quê hương, đem lại tự do thái bình cho nhân dân. Thời nhà Hồ, những chức quan được giao cho hai cha con ít nhiều cũng góp phần đào tạo những con người trí thức để sau đó chung sức dựng xây sự nghiệp đại phục hưng của dân tộc Đại Việt sau ngày chiến thắng giặc Minh xâm lược, mà sự nghiệp phục hưng này, thời Lý - Trần đã đặt nền tảng. Trong những đại trí thức của thời đại thì Nguyễn Trãi là mẫu hình trí thức tiêu biểu nhất, sáng chói nhất, vĩ đại nhất, tinh hoa nhất của thời đại đó.

4.2 Về văn chương, trước hết, Nguyễn Trãi là con cháu nhà Trần, trên phương diện văn hoá tư tưởng và văn học, ông đã chịu ảnh hưởng có thể nói là sâu đậm nơi ông ngoại, nơi cha, lại kế thừa được những thành tựu rực rỡ của mấy trăm năm văn học Lý - Trần.

Ở văn chính luận, thời Lý - Trần, loại văn chính luận, nhất là thể văn bang giao thư tín nhằm đấu tranh ngoại giao với phương Bắc trong cuộc đấu trí gay go và căng thẳng, ta đã có thành tựu đáng kể, chẳng hạn những bức thư của các vua nhà Trần gởi cho nhà Nguyên Mông. Vì thế mà trong phong cách văn chính luận của ông mềm mại mà sắc nhọn, nhẹ nhàng mà đanh thép, lập luận chặt chẽ, lời lẽ hùng hồn, lịch sự nhún nhường mà có khí thế áp đảo đối phương, tư thế đứng ở tầm cao, trên kẻ thù. Nhưng không chỉ kế thừa mà văn chính luận của ông còn vượt lên trên, đánh dấu một bước tiến mới vững vàng và sáng tạo. Chẳng hạn, ở những bức thư trong Quân trung từ mệnh đó là sự nhất quán có tính hệ thống trong tư tưởng, trong kết cấu lô gíc, trong cách biện luận trực tiếp với đối phương, là sự vận dụng thành công và tuyệt vời binh pháp “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” nên tùy từng đối tượng nhận thư mà ông có cách nói riêng, viết riêng. Tất cả đều xuất phát từ tư tưởng nhân nghĩa. Ở Bình Ngô đại cáo lại là một bước phát triển mới trong sáng tạo hình tượng và trong trình độ tổng kết lịch sử, dù trước đó ta đã có Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, có Phạt Tống lộ bố văn của Lý Thường Kiệt và Dụ chư tỳ tướng hịch văn của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Cái mới ở đây là Nguyễn Trãi đã tổng kết sự vận động phát triển đi lên của lịch sử nước nhà. Bài văn không dài, nhưng những diễn biến lịch sử phức tạp trong 21 năm của đất nước bị ngoại bang thôn tính và cai trị, được ông đúc kết đầy đủ, tài tình, rất thuyết phục, mà người đời sau khen là Thiên cổ hùng văn (lời của Vũ Khâm Lân, nửa đầu thế kỷ XVIII, trong sách Đại Việt sử loại tiệp lục). Đặc biệt, sự tổng kết này còn cao hơn, ở chỗ đạt đến một ý nghĩa có tính khái quát lớn về quy luật lịch sử cả ngàn năm với những truyền thống cao quý của dân tộc: văn hiến, cương vực lãnh thổ, phong tục, bình đẳng và độc lập, chống ngoại xâm oai hùng, nhân nghĩa, khát vọng hoà bình v.v..

Ở tập thơ chữ Hán Ức Trai thi tập hiện còn 107 bài (14), chủ yếu là thơ cách luật và đa phần là thất ngôn bát cú. Con số thống kê sau về thể loại:

+ Ca: viết theo thể trường đoản cú, chỉ có 01 bài là Côn Sơn ca.

+ Hành: chỉ có 01 bài là Đề Hoàng Ngự sử mai tuyết hiên

+ Ngũ ngôn bát cú: 05 bài , đó là Du sơn tự, Giang hành, Thính vũ, Tặng hữu nhân, Dục Thuý sơn.

+ Thất ngôn tứ tuyệt: 10 bài, đó là Đề Bá Nha cổ cầm đồ, Mộng sơn trung, Đề Vân Oa, Ngẫu thành, Trại đầu xuân độ, Mộ xuân tức sự, Thôn xá thu châm, Vãn lập, Đề sơn điểu hô nhân đồ, Đề Đông Sơn tự.

+ Thất ngôn bát cú: những bài còn lại tất cả là 73 bài.

+ 17 bài tồn nghi, trong đó có  05 bài thất ngôn tứ tuyệt, 12 bài thất ngôn bát cú.

            Như vậy về hình thức thể loại, ngoại trừ hai bài Côn Sơn ca Đề Hoàng Ngự sử mai tuyết hiên theo cổ phong, để dễ thể hiện tư tưởng, tình cảm phóng khoáng, hào mại thì còn lại, thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi thường dùng thể thơ cách luật và đã tuân thủ những yêu cầu nghiêm ngặt, có tính quy phạm của thể loại.

Ở lĩnh vực thơ, thơ chữ Hán đời Trần, đặc biệt là thơ cách luật đã đạt đỉnh cao, là giai đoạn thơ hay nhất trong lịch sử thơ chữ Hán của nước ta như Lê Quý Đôn đã nhận xét. Ấy vậy mà ông đã tiếp thu thành tựu đa dạng của nền thơ ấy để nâng lên thành đỉnh cao của thơ ca thế kỷ XV. Qua thơ, người đọc hôm nay mới thấu hiểu tâm hồn ông: nhân ái, phong phú, tinh tế, phóng khoáng, sáng tạo, tài hoa, trong sáng, giản dị. Điều này chắc chắn ông đã kế thừa hồn thơ của ông ngoại của cha đậm tính hiện thực và sáng ngời tư tưởng thân dân. Và điều đó cũng để lý giải tại sao, ông sinh ra và lớn lên vào cuối thời vãn Trần, nhưng phong thái và phong cách thơ ông có nét gần gũi với thơ ca thời thịnh Trần. Thơ ông hội tụ vẻ đẹp lấp lánh của thơ ca năm thế kỷ, nhưng có phần vượt lên trên. Ông đúng là tinh hoa của nhiều thế kỷ dồn tụ lại. Tư tưởng của ông và thơ văn ông có nét hào hùng của Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải; có chất minh triết thanh thoát và hồn nhiên của thơ Thiền; có niềm lo đời u hoài man mác của Chu Văn An; có cái ung dung khoáng đạt hào sảng của Trần Quang Khải; có nét trữ tình bay bướm, phóng khoáng cùng thiền vị sâu lắng của Huyền Quang; có tấm lòng yêu cuộc sống, yêu nhân dân của Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, có tình cảm nồng hậu với cuộc đời, ấm áp với nhân dân của Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh; và có chút chán chường mà thanh thoát đáng ưa của thơ ca Bích Động thi xã (Trần Quang Triều, Nguyễn Sưởng, Nguyễn Ức), cùng có chút niềm bi tráng của Đặng Dung.

Dù là thơ chữ Hán nhưng ngôn ngữ trong thơ ông trong sáng, giản dị, tinh tế dễ hiểu, kín đáo mà trầm lắng, đậm chất suy tư, trăn trở, phù hợp với những ưu tư của ông về dân về nước. Ông ít dùng điển cố điển tích, nếu có thì những điển ấy cũng không đến nỗi cầu kỳ, rắc rối khó hiểu. Người đọc có thể chưa thông hiểu hết điển nhưng vẫn có thể hiểu được ý chính của câu thơ, bài thơ.

Có thể thấy, thơ chữ Hán của Ức Trai không vụ hào nhoáng, không cầu kỳ gọt giũa câu chữ, không gò bó, không gieo vần hiểm hóc, ít dụng công thôi xao và kỹ xão nhưng vẫn giữ được tính cao quý, trang nhã, ý tại ngôn ngoại của thơ cách luật mà văn học cổ điển đòi hỏi như là một tiêu chí, thể hiện đặc trưng của nó. Nói chung, bút pháp của ông thanh thoát, thể hiện cảm xúc tinh tế trước cảnh vật với liên tưởng có khi bất ngờ thú vị.

            Quốc âm thi tập hiện còn 254 bài. Đây là tập thơ Nôm cổ nhất hiện còn và là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc ta. Rất tiếc là thơ Nôm của Nguyễn Thuyên, của Chu An, của Hồ Quý Ly… do binh lửa, thiên tai hiện không còn. Chỉ còn lại mấy tác phẩm Nôm lẻ của vài tác giả Lý - Trần: một bài Giáo trò tương truyền của Từ Đạo Hạnh?; một bài phú Cư trần lạc đạo và một bài ca Đắc thú lâm tuyền thành đạo của Trần Nhân Tông; một bài phú Vịnh Vân Yên tự của Huyền Quang; một bài Giáo tử phú tương truyền của Mạc Đĩnh Chi?; một bài thơ 4 câu đầy tình tứ tương truyền của Điểm Bích?; một bài thơ Cầu siêu Nguyễn Biểu tương truyền của vị sư chùa Yên Quốc xứ Nghệ?; và nếu danh y Nguyễn Bá Tĩnh tức Tuệ Tĩnh thiền sư là người sống vào thời vãn Trần (nửa cuối thế kỷ XIV) thì ta có thêm hai bài phú Nôm nữa, đó là Nam dược Quốc ngữ phú Trực giải chỉ Nam dược tính phú. Thật quá ít ỏi, nên tập thơ Nôm của Ức Trai đáng quý biết bao ! Nếu so sánh với thơ Nôm thời Hồng Đức cuối thế kỷ XV thì vẫn là tiếng Việt đấy nhưng nặng tính cung đình và bác học, chứ không trong sáng, nhuần nhị, tinh tế và tự nhiên như thơ Nôm của Nguyễn Trãi đã có trước đó mấy chục năm. Ông dám đem tiếng Việt dân dã, mộc mạc, thông tục cùng những hình ảnh cảnh vật đời thường vào thơ ca như bà ngựa, chú vằn, bè muống, lãnh mồng tơi, bụi chuối, núc nát, cò que, ruột ốc, niềng niễng, đòng đòng, lúc nhúc, trái hoè, ngặt… thật hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ bác học của thơ chữ Hán. Ông còn dám cách tân thơ luật Đường, rời bỏ niêm luật ngặt nghèo, câu thúc câu chữ của thơ cách luật, để thay vào đó là thơ 6 tiếng, hay 6 tiếng xen 7 tiếng và đặt chúng ở nhiều vị trí khác nhau trong bài, mà vẫn không đánh mất yêu cầu đối, niêm của thơ cách luật. Theo thống kê của Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Trung Thông thì ở Quốc âm thi tập trong 159 bài bát cú có 391 câu thơ 6 tiếng (dòng 1 có 50 câu; dòng 2 có 43 câu; dòng 3 có 56 câu; dòng 4 có 56 câu; dòng 5 có 54 câu; dòng 6 có 54 câu; dòng 7 có 37 câu; dòng 8 có 41 câu), và trong 25 bài tứ tuyệt có 35 câu 6 tiếng (dòng 1 có 08 câu; dòng 2 có 09 câu; dòng 3 có 08 câu; dòng 4 có 10 câu). Tổng cộng có 184 bài thơ thất ngôn xen lục ngôn với 426 câu lục ngôn (15). Trong khi đó theo Phạm Thị Phương Thái trong luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ và thể thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, thì có 186 bài thơ thất ngôn xen lục ngôn, trong đó có 437 câu lục ngôn ở các vị trí không cố định (16). Chúng tôi đã thử kiểm tra lại và nhận thấy con số thống kê trong công trình của Phạm Thị Phương Thái là chính xác. Thống kê trên cho thấy ở thơ bát cú các cặp thực và luận buộc phải đối nhau thì Nguyễn Trãi vẫn tuân thủ theo yêu cầu của thể loại, dù chỉ là 6 tiếng. Điều muốn lưu ý là trong thơ Nôm, Nguyễn Trãi đã mạnh dạn đưa nhịp 3 vốn là nhịp trong thơ song thất của ta vào thơ cách luật, mà dạng nhịp này duy nhất trước đó Trần Thánh Tông đã có một lần thể nghiệm thành công ở bài thơ chữ Hán Hạnh Thiên Trường hành cung mà Hồ Nguyên Trừng đã hết lời ngợi ca bài thơ này trong Nam Ông mộng lục (17), chẳng hạn như bài Ngôn chí số 21 (Dấu người đi / là đá mòn ; Cửa song giãi / xâm hơi nắng ; Tiếng vượn kêu / vang núi non) Ngôn chí số 15 (Vừa sáu mươi / dư tám chín thu) hay bài Tự thán số 76 (Rượu đối cầm / đâm thơ một thủ, Ta cùng bóng / mây nguyệt ba người). Ông còn thay thế chữ Hán bằng chữ Nôm tiếng Việt tương đương như Tam kính cúc bằng Ba đường cúc; hành chỉ bằng đi nghỉ; quyền môn bằng cửa quyền; phù vân bằng mây nổi; hồng quần bằng quần đỏ. Trong thơ Nôm, Nguyễn Trãi còn đưa ca dao, tục ngữ, thành ngữ vào thơ với thành tựu mới, ví dụ như Bảo kính cảnh giới 148 (Ở bầu thì dáng ắt nên tròn ; Đen gần mực, đỏ gần son).

Ở đây, Nguyễn Trãi đã kế thừa và vận dụng thơ luật của Trung Hoa để sáng tác bằng chữ Nôm thể hiện tiếng nói của dân tộc. Cái đáng quý và cũng là đóng góp to lớn của Nguyễn Trãi ở chỗ là ông đã dũng cảm vượt thoát thơ cách luật để sáng tạo ra một thể loại mới: dùng câu thơ lục ngôn xen với câu thơ thất ngôn để tạo ra thể thất ngôn xen lục ngôn, với những câu thơ lục ngôn ở nhiều vị trí khác nhau, như trên đã thống kê. Thi thoảng, ông còn dùng nhịp lẻ trong thơ Đường luật bát cú. Đây là nhịp đặc thù của thơ song thất lục bát Việt Nam trong cặp song thất, mà ở trước đã nói. Ông còn mạnh dạn đưa vào thơ cách luật (vốn là thể thơ mang tính bác học và cao quý) những từ ngữ đời thường, những hình ảnh dung dị của cuộc sống vào thơ Nôm, vì thế ở góc độ thi pháp, có thể thấy Nguyễn Trãi là nhà thơ đầu tiên cắm cái mốc phá vỡ tính quy phạm, khuôn thước của thơ cách luật để thổi vào đó cái hồn dân tộc.

            Hình ảnh thiên nhiên trong bút pháp thơ Nôm của Nguyễn Trãi có nét khác với thơ chữ Hán. Đó là sự trong sáng, giản dị, tinh tế, dạt dào cảm xúc, tràn trề thi hứng, với những liên tưởng bay bổng bất ngờ, biểu hiện qua một ngôn ngữ mộc mạc dân dã, đậm tính dân tộc.

Ông xứng đáng được tôn vinh là người đặt nền cho văn học thời đại khai sáng, mở đầu cho nền thơ cổ điển Việt Nam. 

5. Tóm lại, muốn hiểu tư tưởng – văn chương Nguyễn Trãi, muốn lý giải đến ngọn nguồn về thiên tài Nguyễn Trãi, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi thì phải đặt Nguyễn Trãi trong tiến trình phát triển của lịch sử, của văn học, để xem xét quá trình tiếp thu kế thừa và sáng tạo của ông, nhất là phải nhìn từ phía thời đại Lý – Trần thì mới thấy hết cái vĩ đại trong văn chương, học thuật và tư tưởng của ông, như trên có nêu. Ông đúng là sự kết tinh những tinh hoa văn hóa tư tưởng của thời đại Lý – Trần rồi vận động nâng cao lên rực rỡ hồi đầu thế kỷ XV, trong thực tiễn chiến đấu vệ quốc của dân tộc.

Với lịch sử dân tộc, Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng vĩ đại, là danh nhân văn hoá, nhà quân sự lỗi lạc, nhà chính trị và ngoại giao tài ba mà trải qua nhiều biến động của lịch sử, bao thế hệ vẫn tôn vinh và thừa nhận.

Với lịch sử văn học, Nguyễn Trãi là nhà khai sáng, tấm lòng và văn chương của ông rực sáng như Lê Thánh Tông ngợi ca “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (bài Minh lương, tập Quỳnh uyển cửu ca), là “núi Thái Sơn”, là “sao Bắc đẩu”, là người có tài “Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền” (18), là “sông Giang sông Hán trong các sông, sao Ngưu sao Đẩu trong các sao” (19), là nhà thơ đặt nền móng cho giai đoạn khai sáng của nền văn học cổ điển Việt Nam.

Đến đây, có thể mượn lời của nhà triết học Duy vật biện chứng F. Ăngghen để nói về thiên tài Nguyễn Trãi. Ăngghen đã từng nói về những con người khổng lồ được sản sinh từ hiện thực lịch sử thời Phục hưng ở châu Âu như sau: “khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng” (20). Thế kỷ XIV, XV ở Việt Nam có khác châu Âu, nhưng những đòi hỏi cấp thiết của lịch sử có thể giống nhau, buộc phải sản sinh những con người khổng lồ mà Nguyễn Trãi là sản phẩm kết tinh những tinh hoa văn hóa tư tưởng của thời đại, tính từ thời Lý – Trần (thế kỷ X – XIV) sang thời Lê sơ (đầu thế kỷ XV), thể hiện ở tinh thần và ý thức dân tộc, tự hào dân tộc, khát vọng dựng xây một nền văn hoá dân tộc ngày càng rực rỡ, phổ cập trong nhân dân.

Vị trí của Ức Trai tiên sinh có một không hai trong lịch sử dân tộc và trong văn học sử của mười thế kỷ thời trung đại. Ông rất xứng đáng là danh nhân văn hóa của dân tộc Việt Nam như thế giới đã tôn vinh.

 

                                                                                                       Gò Vấp, tháng 6 năm 2010

                                                                                                                        NCL

 

Chú thích:

(1) Về năm sinh và mất của Nguyễn Phi Khanh, bài viết ghi theo Thơ văn Lý – Trần, tập 3, Nxb KHXH, HN, 1978. Nhưng theo sự tra cứu của chúng tôi thì những ghi chép trong gia phả họ Nguyễn ở Nhị Khê: Nhị Khê Nguyễn tộc thế phả và hai công trình khảo cứu của GS Bùi Văn Nguyên: Nguyễn Trãi danh nhân truyện ký, Nxb KHXH, HN, 1980 và Văn chương Nguyễn Trãi, Nxb ĐH và THCH, HN, 1984 thì lúc Trần Nguyên Đán cho phép Nguyễn Ứng Long kết hôn với Trần Thị Thái là năm Đại Trị thứ 7 (1367) triều Trần Dụ Tông (1341 – 1369), lúc này Nguyễn Ứng Long 39 tuổi, Trần Thị Thái 18 tuổi. Từ đó suy ra, ông Nguyễn Ứng Long sinh năm 1329 và bà Trần Thị Thái sinh năm 1350.  

(2) Ví dụ như Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, mục Văn tịch chí II, bản dịch của Viện Sử học, tập 4, Nxb Sử học, HN, 1961, trang 74.

(3) Hai chức quan to lãnh đạo hai cơ quan: Viện Hàn lâm và Trường Đại học (Quốc tử giám) ở nước ta dưới triều Hồ, hàm Chánh tam phẩm.

(4) Ngự sử đài là cơ quan có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra, đàn hặc công việc chuyên môn ở các Bộ, các cơ quan văn phòng của triều đình và các công việc ở địa phương, cùng nhiệm can gián nhà vua, nay tương đương với Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao trung ương. Ngự sử đài chánh chưởng có thể như là Chánh văn phòng của Ngự sử đài, giữ con dấu của cơ quan này, chức quan này xếp vào hàng thứ tư hoặc thứ năm trong Ngự sử đài, sau Đô Ngự sử, các Phó Đô Ngự sử và Thiêm Đô Ngự sử, hàm Tòng tứ phẩm.

(5) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, mục Nhân vật chí, bản dịch của Viện Sử học, tập 1, Nxb Sử học, HN, 1960, trang 192. 

(6) Xin xem: Nguyễn Công Lý, Mấy đặc trưng về thời đại Lý – Trần, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, HN, số 3 – 2000 ; và chương 2, mục 2.2 của sách Văn học Phật giáo thời Lý – Trần: diện mạo và đặc điểm, Nxb ĐHQG TP. HCM, 2002, trang 61 – 70.  

(7) Đặng Thai Mai, Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học, trong sách Thơ văn Lý – Trần, tập 1, Nxb KHXH, HN, 1977, trang 38.

(8) Lê Trí Viễn, Chất Đại Việt trong “Ức Trai thi tập”, trong sách Sáu trăm năm Nguyễn Trãi, Nxb Tác phẩm mới, HN, 1980; in lại trong sách Nguyễn Trãi: về tác gia và tác phẩm, Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu, Nxb GD, HN, tái bản lần thứ 5, 2007, trang 505.

(9) Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tôn giáo triều Lý, (2 tập), tập 1, Nxb Sông Nhị, HN, 1949, trang 429.

(10) Chữ dùng của GS. Lê Trí Viễn trong bài viết “Chất Đại Việt trong Ức Trai thi tập” ở sách Sáu trăm năm Nguyễn Trãi, Nxb Tác phẩm mới, HN, 1980.

(11) Trong nhiều tư liệu trước đây đều ghi Lam Sơn thực lục là tác phẩm của Nguyễn Trãi. Thật ra, công bằng mà nói thì tác phẩm này được ghi chép bởi nhiều người, từ hồi còn khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược, do Lê Lợi chủ xướng, viết lời Tựa. Nên chăng ghi người chủ biên là Lê Lợi, người ghi chép là Nguyễn Nhữ Soạn, Ngô Sĩ Liên, người chấp bút hoàn chỉnh văn bản sau khi hòa bình lập lại là Nguyễn Trãi. Vậy Nguyễn Trãi chỉ là một trong những tác giả của cuốn ký sự lịch sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn này.

(12) Theo thống kê của GS Lê Trí Viễn trong bài Nguyễn Trãi, nhìn từ phía Lý – Trần, trong sách Kỷ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi, Nxb KHXH, HN, 1982, trang 216.

(13) Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ thực lục, quyển XI, tờ 35 a – 35 b; Bản dịch của Viện Sử học, tập 3, Nxb KHXH, HN, 1972, trang 113; và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển XVII, tờ 3 a.

(14) Trước đây, theo Trần Khắc Kiệm, nửa cuối thế kỷ XV, khi nhận chỉ dụ của Lê Thánh Tông năm 1467, ông chỉ sưu tầm được 105 bài. Số bài này đến giữa thế kỷ XVIII đã được Lê Quý Đôn tuyển vào bộ hợp tuyển Toàn Việt thi lục. Sang thế kỷ XIX, dưới triều Minh Mệnh (1820 – 1840) nhận chỉ dụ của vua, Dương Bá Cung (có Ngô Thế Vinh, Nguyễn Năng Tĩnh cùng tham gia) từ năm 1822 trở đi, đã bỏ công sức trên 10 năm để hoàn thành bộ Ức Trai di tập, 7 quyển, được Phúc Khê đường khắc in năm 1868 dưới triều Tự Đức, trong đó chép thơ chữ Hán ở quyển 1, cũng 105 bài. Riêng Bùi Văn Nguyên suốt nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy về Nguyễn Trãi, GS đã bỏ nhiểu công sức sưu tầm để bổ sung thêm thơ văn Nguyễn Trãi, trong đó GS đã tìm thêm 02 bài chữ Hán, đó là bài Phúc đáp Đại Đô đốc Đinh Công và bài Ngự chế Tao ngộ thi, phụng họa, thành ra thơ chữ Hán của Ngưyễn Trãi hiện còn là 107 bài. Tất cả đã được công bố trong công trình Ức Trai di tập – bổ sung, Nxb KHXH, HN, 1994.

(15) Theo thống kê của Hoàng Trung Thông – Nguyễn Huệ Chi, tại chương XI. Vị trí Nguyễn Trãi trong lịch sử văn học, trong sách Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân tộc, Nxb KHXH, HN, 1980, trang 305.

(16) Theo thống kê của Phạm Thị Phương Thái trong luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ và thể thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, bảo vệ tại Viện Văn học Hà Nội tháng 7 – 2007.

(17) Trong Nam Ông mộng lục, ở câu chuyện thứ 18 nhan đề Điệp tự thi cách (Lối thơ điệp tự), Hồ Nguyên Trừng đã có lời bình về bài thơ Hạnh Thiên Trường hành cung của Trần Thánh Tông (mà cuối thế kỷ XVIII, Bùi Huy Bích trong sách Hoàng Việt thi tuyển đã ghi nhầm tác giả của bài thơ này là Trần Nhân Tông) như sau: “Kỳ mệnh ý thanh cao, điệp tự chấn hưởng, phi lão vu thi giả, yên năng đạo thử ?” (Bài thơ có cấu tứ thanh cao, chữ dùng lặp lại (điệp tự) có sức âm vang, nếu chẳng phải là bậc lão luyện trong làng thơ, sao có thể viết được như vậy ?). Trong bài thơ này, Trần Thánh Tông đã dùng nhịp 3/4 ở các câu: 1, 5, 6 và 8; trong khi đó thơ cách luật thường dùng nhịp chẵn: 4/3 hoặc 2/2/3.

(18) Chữ dùng của Nguyễn Mộng Tuân, bạn đồng khoa và đồng liêu với Nguyễn Trãi, khi viết về ông trong bài thơ Tặng Gián nghị Đại phu Nguyễn công.

(19) Chữ dùng của Tô Thế Huy đầu thế kỷ XVIII, khi viết về Nguyễn Trãi trong bài Tựa tác phẩm Quần hiền phú tập do Hoàng Tụy (Sằn) Phu biên soạn.

(20) F. Ăng-ghen, Biện chứng của tự nhiên, bản dịch, NXB ST, HN, 1971, tr 13.

 

PGS.TS. NGUYỄN CÔNG LÝ

                 Khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG TP. HCM

(daophatngaynay.com)

]]>
tcanhco@yahoo.com (NGUYỄN CÔNG LÝ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:33:54 +0000
Giá trị về văn hóa của triết học Phật giáo thời Lý và ý nghĩa lịch sử http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6423-gia-tri-ve-van-hoa-cua-triet-hoc-phat-giao-thoi-ly-va-y-nghia-lich-su.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6423-gia-tri-ve-van-hoa-cua-triet-hoc-phat-giao-thoi-ly-va-y-nghia-lich-su.html
image Chùa Một Cột

Trong tiến trình phát triển của loài người, Ấn Độ được biết đến không chỉ là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại, mà đó còn là nơi xuất của phật giáo, là tư tưởng, triết lý về thế giới quan, nhân sinh quan trong thế giới cổ đại Ấn Độ. Tư tưởng, triết lý ra đời từ mấy nghìn năm trước đó đến nay vẫn còn có ảnh hưởng sâu rộng ở các dân tộc Á Đông, trong đó có Việt Nam.

Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ. Phật giáo được ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, có thể nói rằng, ngay từ lúc mới ra đời, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ trong phong trào đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội Ấn Độ đương thời.

Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam được chia làm 3 thời kỳ chính: Thời kỳ từ đầu công nguyên; Thời kỳ độc lập tự chủ (938) qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều nguyễn; Thời kỳ Pháp thuộc và sau 1954.

Ở thời kỳ đầu công nguyên: Phật giáo được xác định là du nhập vào nước ta thế kỷ II-SCN bằng đường biển và đường bộ từ Ấn Độ và Trung Quốc tại Giao Chỉ và Chăm Pa; Trước nhà Đường xuất hiện dòng thiền đầu tiên là Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi (do ngài Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi người Ấn Độ sáng lập) ở nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế, với tư tưởng thiền là “Tức tâm tức phật”; Thời nhà Đường xuất hiện dòng thiền thứ hai là Vô Ngôn Thông (do ngài Vô Ngôn Thông người Trung Quốc sáng lập), Với tư tưởng “Tức tâm tức phật” và có bổ sung phần y báo đức Phật trong tâm. Điểm nổi bật của dòng thiền này là sự xuất hiện hình thức Cư sĩ-Thiền sư.

Ở thời kỳ độc lập tự chủ, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều Nguyễn: Nhà Đinh và Tiền Lê đã đưa Phật giáo lên thành quốc giáo với chức tăng thống và thiền sư có vai trò cố vấn cho các nhà vua; Thời nhà Lý, Phật giáo phát triển cực thịnh, là quốc đạo và xuất hiện dòng thiền thứ ba là Thảo Đường (do ngài Thảo Đường người Trung Quốc sáng lập). Điểm nổi bật của dòng thiền này là vai trò của giới cư sĩ được khẳng định một cách chính thức. Giai đoạn này có sự hiện diện của cả 3 dòng thiền và Phật giáo có xu hướng nhập thế mạnh mẽ; Nhà Trần là triều đại của Phật giáo với vai trò nổi bật của Trần Nhân Tông-Người sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Tư tưởng của dòng thiền này là phát triển đỉnh cao quan niêm “Tức tâm tức phật”; Thời Hậu Lê Phật giáo chính thức bước vào thời kỳ suy thoái với nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là do Hồ Quý Ly ra sức phát triển Nho giáo vào cuối thế kỷ XIV và nhà Minh xâm lược Đại Việt vào đầu thế kỷ XV; Sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê thì nước ta chia cắt thành xứ đàng trong (vua Lê-chúa Trịnh) và đàng ngoài (chúa Nguyễn). Xứ đàng trong Phật giáo phát triển mạnh trên cơ sở một nền học lý mới nhờ vai trò của chúa Nguyễn Phúc Chu (được ví là Trần Nhân Tông thứ hai trong lịch sử Phật giáo), nền học lý mới đó là dòng Tào Động, dòng Lâm Tế. Xứ đàng ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Khi Gia Long lên ngôi vào đầu thế kỷ XVIII, xã hội Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng tư tưởng trầm trọng, đất nước rơi vào họa ngoại xâm, phật tử và nhân dân tự đứng dậy khởi nghĩa.

Ở thời kỳ Pháp thuộc và sau năm 1954: Thời Pháp thuộc, Thiên Chúa giáo được hậu thuẫn và Phật giáo bị khủng bố, đàn áp gắt gao vì thế Phật giáo giai đoạn này có xu hướng nhập thế và chấn hưng mạnh mẽ; Sau 1954, trên cả hai miền Nam Bắc, Phật giáo đều chưa có cơ hội để phát triển, nhưng sau 1975 nhờ chính sách tự do tôn giáo của Đảng và nhà nước, Phật giáo có điều kiện phát triển mạnh mẽ và dần lấy lại vị thế của mình.

Có thể nói rằng, trong hơn 20 thế kỷ qua, Phật giáo đã có một vai trò, vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc, nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui hạnh phúc của dân tộc. Cả hai triều đại Lý–Trần, Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay pháp trị. Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng. Vì thế cả hai triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu. Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400). Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản sắc dân tộc.  

Nhà Lý mở đầu là Lý Công Uẩn vào năm 1010 và kéo dài cho đến năm 1225, kết thúc ở đời thứ chín là Lý Chiêu Hoàng. Triều đại nhà Lý tồn tại khoảng 215 năm, với khoảng thời gian ấy đã tạo ra được bề dày lịch sử của một quốc gia phong kiến độc lập có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê do phải tiến hành những công việc như: bảo vệ đất nước, củng cố quốc gia sau thời gian Bắc thuộc hàng ngàn năm nên chưa có điều kiện để quan tâm phát triển văn hóa, tư tưởng… Đến nhà Lý đã từng bước chủ động, tích cực xây dựng và phát triển diện mạo văn hóa, tư tưởng với một quốc gia phong kiến độc lập.

Nếu như Nho giáo là công cụ của đội quân xâm lược nên không nhận được cảm tình của dân tộc ta thì Phật giáo lại khác hơn, Phật giáo được dân tộc ta tiếp nhận một cách hòa bình, tự giác trên tinh thần thân thiện, cởi mở, vì vậy Phật giáo sớm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và cả lĩnh vực chính trị từ thời Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần… Những vấn đề về quản lý xã hội, những phạm trù đạo đức của xã hội, của cá nhân nhằm duy trì trật tự xã hội của Nho giáo đã đáp ứng nhu cầu ổn định xã hội của triều đình phong kiến. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, nhu cầu về sự kiến giải vấn đề sống-chết, may-rủi, họa-phúc, vấn đề tâm linh của con người… thì Nho giáo không thể đáp ứng được. Cho nên với nội dung tư tưởng của mình Phật giáo đã đáp ứng được nhu cầu đó. Trước khi Nho giáo chưa được nhà Lý chủ động sử dụng thì Phật giáo đã có ưu thế trong xã hội. Nhà chùa với nước phong kiến có quan hệ khá mật thiết, nhà chùa cung cấp cho nhà vua những trí thức Phật giáo để phục vụ chính trị, đặc biệt là trong công việc bang giao với nước khác. Các nhà sư đều được nhà vua trọng dụng, hỏi ý kiến trong việc kiến thiết, xây dựng, củng cố, phát triển đất nước, thậm chí kể cả công việc đánh giặc để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia dân tộc.

Từ thế kỷ XI cho đến khoảng hết thời nhà Lý, Phật giáo ảnh hưởng khá sâu sắc trong đời sống xã hội nước ta, trước hết là người lập nên nhà Lý là vua Lý Công Uẩn có lý lịch xuất thân từ nhà chùa và các nhà sư là những người hậu thuẫn cho sự lên ngôi của Hoàng đế Lý Công Uẩn. Sau đó là hàng loạt các nhà vua đi tu như Lý Thánh Tông là đời thứ nhất của phái Thảo Đường, Lý Anh Tông là đời thứ ba của phái Thảo Đường, Lý Cao Tông là đời thứ năm của phái Thảo Đường, Lý Huệ Tông. Nhìn chung, tư tưởng Phật giáo thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong đời sống tinh thần của xã hội mà đến cả tình hình chính trị của dân tộc. Tư tưởng Phật giáo thời kỳ này chủ yếu là các dòng Thiền tông như dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, dòng Vô Ngôn Thông, dòng Thảo Điền. Nhìn chung tư tưởng Phật giáo vào Việt Nam mang xu hướng nhập thế, các nhà vua đi tu nhưng vẫn luôn hướng về những vấn đề hưng vong, thịnh suy của dân tộc. Các nhà vua đi tu, một mặt tìm sự giải thoát tinh thần, mặt khác lại quan tâm đến nhân tình thế thái, mong sự giải thoát cho nhân dân khỏi sự khổ ở đời.

Tư tưởng Phật giáo thời Lý mặc dù vẫn tôn trọng những tư tưởng Phật giáo nguyên thủy của Ấn Độ, nhưng không tách biệt đời với đạo như Phật giáo Ấn Độ, mà ngược lại gắn đạo với đời. Trong tư tưởng Phật giáo ở giai đoạn này, quan niệm sự khổ không nặng nề, bi quan, yếm thế như Phật giáo nguyên thủy. Người ta có thể tìm thấy chuyện trai gái lên chùa mượn chiếu, mượn ấm trà để tình tự với nhau như lẽ sống thường tình. Cũng trong thời kỳ này, cùng với nền giáo dục Nho học, nhà chùa cũng trở thành nhà trường, nhà sư cũng chính là nhà giáo dục, trong môi trường ấy đã tạo ra những trí thức Phật giáo và chính họ là những nhà truyền bá tư tưởng đạo Phật trong nhân dân, cung cấp những hiểu biết về đời sống tâm linh, tinh thần ở các khía cạnh Nho giáo chưa đề cập đến. Có thể nói rằng, Phật giáo Việt Nam giai đoạn thời Lý đã đóng một vai trò khá quan trọng trong nền giáo dục thời Lý và góp phần đào tạo ra những nhà lãnh đạo song toàn, điều này chứng tỏ nền giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam giai đoạn thời Lý đã thể hiện chức năng đào tạo hiệu quả, sản sinh ra những nhà trí thức có khả năng gánh vác không chỉ việc đạo mà còn cả việc nước, việc dân như: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thái Tổ… và xét trên bình diện xã hội, Phật giáo còn giáo dục con người trước sau như một, trung thành với nước, với dân. Đến thời Lý, nền văn hóa nước ta đã có bề dày hơn 3000 năm, trong đó, sự xuất hiện của Phật giáo là khoảng 100 năm. Nền văn hóa thời Lý tuy vẫn chịu ảnh hưởng của ngàn năm Bắc thuộc nhưng cũng đã dần khẳng định tính tự tôn của nước Đại Việt mà sự đóng góp của Phật giáo là rất rõ nét, thể hiện qua những giá trị vật thể và phi vật thể, chính điều đó đã làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc.

Phật giáo thời Lý đã để lại những công trình văn hóa tín ngưỡng có giá trị cho dân tộc, điển hình là bốn công trình lớn là “An Nam tứ đại khí” (bốn nguyên khí trấn giữ nền độc lập của nước Nam). Trong đó: Một là: Tháp Báo Thiên, “bảo tháp Đại thắng Tự Thiên cao vài chục trượng” [1, 272] được xây dựng vào năm 1057 ở chùa Sùng Khánh. Tháp này cao mười hai tầng, mỗi viên gạch đều khắc niên hiệu Long Thụy Thái Bình. Nhưng đến thời Hồ, ngọn tháp này đã đổ. Đến năm 1427, Lê Lợi làm cái đồn canh gác trên tháp để quan sát giặc. Đến thời “quân xâm lược Pháp chiếm đóng Hà Nội đã bị cha cố đạo Puginier làm đơn cưỡng chiếm, lấy đất làm ngôi nhà thờ lớn Hà Nội tồn tại cho đến ngày nay. Dù thế, chùa tháp Báo Thiên từng một thời là biểu tượng của sức mạnh Đại Việt” [3, 36]. Hai là: Tượng Quỳnh Lâm được đúc bằng đồng ở chùa Quỳnh Lâm, Ba là: Chùa Phổ Minh ở Nam Định, Bốn là: Chuông Quy Điền (nghĩa là chuông không kêu, nên đặt xuống ruộng), đúc năm 1080 ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) [1, 280]. Ngoài bốn công trình trên, nhà Lý còn để lại những di tích mà hiện nay vẫn còn như Quán Trấn Vũ (1102) [1, 284], đền Hai Bà… và nhiều cung điện ở Thăng Long, những nơi này không những là địa điểm sinh hoạt văn hóa, giáo dục của mọi tầng lớp nhân dân mà còn thể hiện giá trị về mặt kiến trúc, mang triết lý sâu sắc mà bình dị thể hiện được tính dân tộc của Phật giáo. Bản sắc văn hóa là nguồn gốc, là sức mạnh tinh thần vô hình tác động rất mạnh cho mọi sự phát triển, đó cũng là nét đặc thù của dân tộc.

Văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa dân tộc, chính vì vậy, việc củng cố và phát huy vài trò của Phật giáo có một ý nghĩa lớn đối với cuộc vận động “toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” hiện nay. Vì rằng, đối với tất cả người dân Việt Nam, dù có theo Phật giáo hay không đều ít nhiều hiểu tư tưởng của như triết lý nhà Phật, bởi vì đó là một phần truyền thống của cha ông, sẽ là bất khả nếu muốn nghiên cứu văn hóa Việt Nam mà không nói đến Phật giáo và ngược lại.

Hiện nay Phật giáo vẫn còn là một tác nhân tác động mạnh trong xã hội. Chúng ta dễ nhận thấy Phật giáo đã mang đến cho người Việt những ngôi chùa cổ kính, những pho tượng bề thế rải khắp xóm làng làm tăng lòng từ bi và hướng thiện của người bình dân. Phật giáo đã đưa đến một trung tâm văn hoá làng một thời sôi động. Phật giáo cũng đã mang đến trong tâm hồn người Việt một đời sống tâm linh sâu đậm từ khi du nhập cho đến nay. Trong lịch sử, Phật giáo cũng luôn gắn liền với vận mệnh của dân tộc, giai đoạn thời Lý, ông cha ta đã nhận thức được tầm quan trọng của một nền văn hóa độc lập tự chủ, vì văn hóa là linh hồn của dân tộc. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển về văn hóa truyền thống và có nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị đó, tầm quan trọng của văn hóa cũng được Đảng và Nhà nước ta nhìn nhận: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội” [2, 110] và đề ra chủ trương “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đây là một chủ trương kịp thời và đúng đắn, và Phật giáo với những giá trị của mình sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ này, sẽ là quá muộn nếu chúng ta không có những nhận thức đúng đắn và đầy đủ về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa quá khứ và hiện tại, cũng như không nắm vững qui luật phát triển văn hóa – xã hội ở từng thời kỳ, chính vì vậy, việc phát huy bản sắc dân tộc phải được xem là nhiệm vụ của mỗi cá nhân, gia đình và của toàn xã hội.

Năm 2010, nước ta sẽ tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đây là hoạt động vừa hướng về nguồn cội thiêng liêng của dân tộc, nhưng đồng thời cũng là sự kiện lớn, có ý nghĩa quan trọng liên quan đến nỗ lực bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với việc xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.1,2.

2.     Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

3.     Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ Lý Thánh Tông (1054) đến Trần Thánh Tông (1278), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, t.3.

 

 Ths. Trần Mai Ước

         Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh

(daophatngaynay.com)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Trần Mai Ước) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:30:46 +0000
Một số suy nghĩ về vai trò của Phật giáo đối với đời sống tinh thần nhân dân Đại Việt http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6422-mot-so-suy-nghi-ve-vai-tro-cua-phat-giao-doi-voi-doi-song-tinh-than-nhan-dan-dai-viet.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6422-mot-so-suy-nghi-ve-vai-tro-cua-phat-giao-doi-voi-doi-song-tinh-than-nhan-dan-dai-viet.html
image Phật giáo với tư cách là quốc gia, là biểu tượng tinh thần của dân tộc Việt Nam thời Lý Trần

Lịch sử Phật giáo là một bộ phận trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Ảnh hưởng của văn hoá Phật giáo từ lâu đã phá vỡ giới hạn tín ngưỡng tôn giáo. Lịch sử Phật giáo đối với lịch sử của các dân tộc phương Đông chúng ta thì mối quan hệ này càng tỏ ra mật thiết hơn.

Vậy là chỉ còn vài tháng nữa là kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long diễn ra. Cả nước nôn nao chào mừng ngày trọng lễ bằng những hoạt động tìm về nguồn cội có ý nghĩa lớn lao. Tôi sinh ra may mắn được chứng kiến sự chuyển tiếp giữa thế kỷ này sang thế kỷ khác, chứng kiến những thành tựu rực rỡ của loài người, và trên hết là được sống lại những năm tháng hào hùng lịch sử. Cách 1000 năm, ngày 1 tháng 10 năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã đọc Thiên đô chiếu: từ Hoa Lư dời đô về Đại La thành và đổi tên thành Thăng Long. Vậy là từ đây, vùng đất được Lý Thái Tổ ca ngợi là “thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước” được chọn là nơi “đặt kinh sư mãi muôn đời”. Trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, triều Lý – Trần được xem là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử các vương triều phong kiến. Điều đó có nguyên nhân khách quan, lẫn chủ quan. Theo tôi, triều Lý – Trần đã hội tụ được “thiên thời  - địa lợi -  nhân hòa”.

Đồng thời, giai đoạn này có đặc trưng là đạo Phật có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của cư dân Đại Việt. Đặc biệt là Phật giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị bấy giờ. Nội dung tham luận tôi muốn đề cập đến vai trò của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của nhân dân Đại Việt: từ giai cấp thống trị cho đến cư dân trong xã hội. Để từ đó có những nhận định về sự tồn tại của Phật giáo trong xã hội hiện nay.   

Lịch sử Phật giáo là một bộ phận trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Ảnh hưởng của văn hoá Phật giáo từ lâu đã phá vỡ giới hạn tín ngưỡng tôn giáo. Lịch sử Phật giáo đối với lịch sử của các dân tộc phương Đông chúng ta thì mối quan hệ này càng tỏ ra mật thiết hơn. Nó chi phối sự cai trị của những vương triều trong lịch sử nhân loại, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần   của nhân dân, lẫn nền văn hóa, nền văn học của một thời đại.

Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ, thời đại ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI TCN trên vùng đất thuộc Nepan ngày nay. Đây là thời kỳ phát triển cực thịnh của đạo Bà la môn. Sự phân biệt đẳng cấp diễn ra ở Ấn Độ lúc bấy giờ vô cùng khắc nghiệt. Đạo Phật ra đời đã mở ra chân trời mới cho nhân dân Ấn Độ. Với giáo lý đề cao sự bình đẳng, hướng tới sự tự giải thoát, phủ nhận chế độ đẳng cấp đã thu hút nhiều tín đồ.

Sau đó, Phật giáo bắt đầu truyền đi nhiều nơi. Theo nghiên cứu, con đường truyền giáo của đạo Phật bắt đầu từ Ấn Độ theo hai hướng. Một hướng truyền xuống phía Nam như Srilanca một hướng truyền lên phía Bắc đến Kazactan ngày nay. Kết quả là chúng ta coi dòng Nam truyền là Phật giáo Tiểu thừa, dòng Bắc truyền là Phật giáo Đại thừa. Nhìn vào góc độ văn tự thì các thánh điển Nam truyền chủ yếu là chữ Pali. Thánh điển Bắc truyền chủ yếu là chữ Phạn (Sanskrit).

Hướng Nam truyền lại từ Srilanca truyền sang Mianma, đến Thái Lan, Campuchia, Lào... Hướng Bắc truyền từ Cazactan truyền sang vùng Tân Cương và Tây Tạng của Trung Quốc. Phật giáo ở Tây Tạng tự lập thành một hệ thống Mật giáo, rồi tiếp tục truyền sang Mông Cổ. Phật giáo ở Tân Cương thì phát triển sang Trung Quốc. Trung Quốc vốn là một nhà nước cổ văn minh có lịch sử lâu đời và bề dày văn hoá cho nên Phật giáo mới truyền đến đã nuôi dưỡng thêm cho văn hoá Trung Quốc. Đồng thời cũng chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc mà trở thành một thứ Phật giáo mang hình thái Trung Quốc. Hình thái Phật giáo Trung Quốc hoá này đại để là đến thời Tuỳ Đường được hoàn thiện từng bước.

Riêng ở Việt Nam, đạo Phật du nhập vào nước ta từ thời kỳ Bắc thuộc, nhưng chưa được truyền bá có hệ thống và sâu rộng trong cả nước. Tới thời Lý, đạo Phật mới thực sự phát triển và trở thành quốc giáo. Tại kinh thành Thăng Long, các vua Lý đã nhiều lần tổ chức độ dân làm sư và không chỉ có dân thường đi tu, mà nhà quyền quý cũng đi tu. Đạo Phật được tôn sùng và phát triển mạnh như vậy là có nguyên nhân lịch sử của nó. Đó là giai cấp thống trị muốn mượn giáo lý đạo Phật để thống nhất tín ngưỡng, thống nhất nhân tâm sau đó là phục vụ cho việc thống nhất đất nước, tập trung chính quyền về nhà nước Trung ương. Các vua Lý muốn thông qua các nhà sư để nắm lấy quần chúng nhân dân. Mặt khác, triều đình muốn chi phối được các địa phương, cần phải có những người giúp việc – quan lại – có kiến thức và hiểu biết về văn từ thư tịch, nhưng ở buổi đầu thời Lý, chưa tổ chức được việc học, việc thi, nên các nhà sư lại là những ngườ biết chữ nhiều hơn cả. Nhiều nhà sư đã được trọng dụng tại triều đình. Các nhà sư ở rải rác khắp nơi còn giữ vai trò khá quan trọng trong việc dạy chữ cho dân.

Cần phải nói thêm, đạo Phật truyền vào Việt Nam lúc bấy giờ là Phật giáo Trung Quốc. Cho nên, tính nguyên thủy ban đầu của nó không còn nữa. Sự hòa quyện giữa giáo lý nhà Phật với văn hóa Trung Quốc quá lớn lao. Từ đó, sự tiếp nhận Phật giáo được truyền vào Đại Việt dưới một lăng kính khác. Tuy nhiên, giáo lý của nó vẫn thuần nhất về mặt: giác ngộ để tìm thấy “niết bàn”.

Thăng Long lúc bấy giờ tiếp nhận Phật giáo từ Trung Quốc. Cũng chính vì vậy, bản chất nguyên thủy của Phật giáo đã giảm bớt, thay vào đó là sự giao thoa giữa văn hóa Trung Quốc và Phật giáo. Và chúng ta đã tiếp thu dựa trên Phật giáo Trung Quốc. Khi vào Việt Nam, nó lại hòa lẫn với văn hóa bản địa rồi cho ra đời một Phật giáo hòa hợp với tín ngưỡng, tâm lý cư dân Đại Việt.

Các tôn giáo, như người ta vẫn thường nhận xét, là sản phẩm của sự sợ hãi. Sự sợ hãi này, thực chất, bắt nguồn từ sự ngu dốt. Nhưng với Phật giáo thì không, Phật giáo là kết quả của cuộc truy cầu của con người về chân lý tối tượng, một khát vọng muốn biết cái gì là cao quý nhất trong cuộc đời.

Nguyễn Đổng Chi (Việt Nam cổ văn học sử): “trong thế kỷ 10, cửa chùa đã đóng một vai trò quan trọng về văn học. Cũng vì thế mà Đạo PhậtViệt Nam từ đó càng lắm tín đồ và được chính phủ vị nể”.

Lê Quát sống vào cuối đời Trần, nhận xét: “Từ trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin, hễ nơi nào có nhà ở là ắt có chùa chiền... Dân chúng quá nửa nước là sư...”

Giáo sư Mạc Đường: “…Phật giáo với tư cách là quốc gia, là biểu tượng tinh thần của dân tộc Việt Nam thời Lý Trần, một trong những đặc trưng văn hóa của văn hóa Việt Nam truyn thống, là một khuôn mẫu ứng xử của phép “đối nhân xử thế” Việt Nam và đạo đức Việt Nam cổ truyn…

Đó là những suy nghĩ của các vị học giả danh tiếng trong lẫn ngoài nước đối với Phật giáo. Qua đó cho thấy, tầm quan trọng của Phật giáo trong đời sống của nhân dân Đại Việt lúc bấy giờ. Những triết lý gần gũi, tự nhiên về sự tự giác giác ngộ, tu khổ để tìm thấy cõi niết bàn trong tâm hồn. Theo Phật giáo, con người cần phải biết trông cậy vào chính mình và phải có lòng tin vào khả năng của chính mình. Triết lý Phật giáo lấy con người làm trung tâm.

Tôn giáo ra đời ngay từ khi con người bắt đầu biết tổ chức xã hội. Những hình thức tôn giáo đầu tiên xuất hiện ngay từ thời nguyên thuỷ, gắn liền với điều kiện sống và trình độ nhận thức còn mông muội của người nguyên thuỷ. Từ đó cho đến nay, cùng với toàn bộ sự tồn tại và biến đổi, phát triển của xã hội loài người, các kiểu và các hình thức tôn giáo đã ra đời. Tất cả đều quy về một mối: vì hạnh phúc con người. Nhưng các tôn giáo lại có những hình thức hướng đến việc thực hiện “hạnh phúc” đó khác nhau. Nhưng với Phật giáo thì khác. Theo Francis Story - một học giả người Anh: “Các giáo lý của nhà Phật vẫn đứng vững đến ngày nay, như thể không bị ảnh hưởng gì bởi bước tiến của thời gian và sự mở rộng tri thức, y như thuở mà lần đầu tiên chúng được nói ra. Bất kể kiến thức khoa học có mở mang chân trời tinh thần của con người ra đến đâu, bên trong khung Phật pháp cũng vẫn còn chỗ để chấp nhận và đồng hoá những khám phá thêm nữa”.

Sau những biến động của lịch sử nhân loại, Phật giáo vẫn đứng vững và giáo lý của Phật giáo đã hướng con người tìm đến sự thanh thản trong tâm hồn khi mà thế giới ngày nay đang biến động với một tốc độ nhanh chưa từng có. Những “tham, sân, si” đã làm tâm hồn con người ngày càng mệt mỏi, làm xói mòn sự trong sáng trong mối quan hệ giữa con người với con người. Đâu đâu ta cũng thấy sự dối trá, ích kỷ, mưu lợi ích riêng. Từ đó, con người tìm đến tôn giáo như mong muốn tìm được sự giải thoát.

Ngày nay, với những tiến bộ vượt bậc về khoa học công nghệ, những phát minh, thành tựu đã đưa con người tìm đến những tri thức mới bên ngoài trái đất. Vũ trụ, thiên hà là nơi con người hướng đến trong tham vọng mong muốn tìm thấy những hành tinh xa xôi như trái đất, tìm thấy những sự sống mới ngoài trái đất.

Tuy nhiên, còn nhiều thứ vượt xa tầm hiểu biết của con người “những bí ẩn của tự nhiên mà con người không giải thích được”, mà cho dù con người nắm trong tay kỹ thuật hiện đại cho đến đâu cũng không thể giải thích nổi. Tôn giáo thì khác, tôn giáo dù lý luận của riêng mình để phân tích, giải thích, khiến cho vấn đề đó trở nên hợp lý.

Vì sao Phật giáo luôn luôn tìm thấy một đồng điểm ở nơi nó truyền bá. Trước đạo Phật đến với tinh thần con người nhờ những lý luận mang tính dung hòa của nó. Đạo Phật quan niệm vạn vật đồng nhất thể, nên bản thể vũ trụ cũng tiềm ẩn trong mỗi con người. Bởi vậy khi làm cho bản thể trong mỗi cá nhân hoà đồng với bản thể vũ trụ, thì ta và thế giới hoà làm một. Muốn đạt được điều đó thì phải có trí tuệ hay Phật học gọi là Bát Nhã. Nhưng để đi đến cái đó, mỗi người phải tự khai mở tâm mình. Điểm này khiến người Việt trong cuộc sống đề cao cái tâm, lối sống tình cảm. Nó giúp con người tìm thấy lối thoát sau những khó khăn, vất vả của cuộc đời.

Phật giáo nêu lên hình ảnh “nhân nào, quả nấy”, “gieo gió, gặp bão”, “ở hiền gặp lành”....Từ đó, đánh thẳng vào tâm lý của con người. Vậy là họ tin tưởng một triết lý bất di bất dịch “gieo nhân nào thì gặt quả nấy.

Giai cấp thống trị vì lợi ích giai cấp, muốn thống nhất tín ngưỡng, thống nhất nhân tâm nhằm phục vụ việc cai trị. Nhà Lý – Trần cũng không nằm ngoài quy luật đó. Nhưng với sự giao thoa giữa tinh thần dân tộc với giáo lý Phật giáo đã thật sự hòa hợp làm một. Các vua nhà Lý tiếp thu giáo lý đạo Phật: những tư tưởng về bác ái, tu thân, nhập thế, xuất thế. Từ đó, đưa ra những chính sách cai trị đem lại hạnh phúc và ấm no cho dân chúng. Như sách Đại Việt skí toàn tchép “Trước kia, trong nước việc kiện tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ luật văn, cốt làm khắc nghiệt, thậm chí bị oan uổng. Vua lấy làm thương xót sai trung thư sửa định luật lệnh châm trước cho thích dụng với thời bây giờ, chia ra môn loại, biên ra nhiều khoản làm sách hình luật của một triều đại”. Đối với những người vi phạm vào các quy định của nhà nước vua Lý thường lấy lòng khoan dung mà tha thứ. Năm 1028, Lý Thái Tông lên ngôi đã tha tội làm phản cho Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương. Luật pháp triều Lý đặc biệt chú ý tới người già, trẻ nhỏ, coi trọng công tác giáo dục, ngăn ngừa. Pháp luật triều Lý quy định những người trong độ tuổi từ 70 đến 80, trẻ nhỏ từ 15 đến 10 tuổi nếu phạm tội thì cho phép dùng tiền để chuộc tội. Điều đó, chứng tỏ lòng bác của vua nhà Lý, chính là sự ảnh hưởng của tư tưởng bác ái, thương yêu nhân loại của đạo Phật.

Đạo Phật là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội thời Lý- Trần, được coi như một Quốc giáo. Hầu hết các vua Lý – vua Trần rất tôn sùng Phật, sai dựng chùa tháp, tô tượng đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sách Phật. Thời Lý - Trần, có rất nhiều vị sư tăng nổi tiếng trong cả nước, có uy tín và địa vị chính trị- xã hội. Có thể kể các nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Thông. Đạo Phật thời Lý - Trần đã ảnh hưởng đến đường lối cai trị của Nhà nước (chính sách thân dân, khoan dung), là đối trọng tư tưởng của Nho giáo, tạo nên thế cân bằng tôn giáo.

Phật giáo đối với sự tiếp nhận của nhân dân lúc bấy giờ vẫn còn là đề tài đang nghiên cứu. Theo tôi, bất cứ tôn giáo nào cũng vậy. Khi nó được truyền bá sang một nơi nào đó, thì người dân chính người tiếp nhận đầu tiên. Tôn giáo có ý nghĩa lớn lao đối với đời sống tinh thần của con người. Những đau khổ, mất mát trong cuộc sống, những gì con người không làm được thì họ tìm đến tôn giáo như một lối đi cho tinh thần của mình. Tôn giáo giang đôi tay che chở cho những tín đồ của mình và giải thích bằng những lý lẽ riêng của nó. Cư dân Đại Việt lúc bấy giờ, sống dựa vào nông nghiệp là chính. Những thiên tai, hạn hán, dịch bệnh đe dọa đến mạng sống nhỏ nhoi của họ. Vậy là Phật giáo đã đến với họ một cách tự nhiên bằng những giáo lý phù hợp với tích cách, con người Đại Việt. Từ đó, tinh thần của cư dân Đại Việt lại được khơi nguồn sống mới. Điều đó thể hiện qua nền văn học Phật giáo thời Lý – Trần. Nội dung văn học Phật giáo không chỉ hạn chế trong yêu cầu phổ biến giáo lý và truyền đạo mà còn chứa đựng những truyền thống tốt đẹp của văn học dân tộc như tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tôc, lòng khát khao hòa bình và niềm say mê thiên nhiên ... Văn học Phật giáo trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần rèn luyện nhân cách bản lĩnh con người Đại Việt. Tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng đến toàn bộ nền văn học thời kỳ này, góp phần vào sự phát triển chung của văn học đương thời. Và Phật giáo đời Lý - Trần đã tìm thấy sức sống vững bền trong lòng dân tộc và đã phát huy vai trò của mình trên nhiều mặt của đời sống xã hội.

Nhà Lý - Trần đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo như tín ngưỡng dân gian, Phật, Đạo, Nho. Đó chính là hiện tượng Tam giáo đồng nguyên. Theo Phan Huy Chú, “thời Lý - Trần, dù là chính đạo hay dị đoan đều được tôn chuộng, không phân biệt”. Đó là điều đặc trưng của thời Lý – Trần. Vì các tôn giáo hầu như không tồn tại song song với nhau được, nếu như nó không tìm được đồng điểm chung. Như Islam giáo, Thiên chúa giáo không thể hòa hợp. Và hiện nay, điều đau lòng cho cả nhân loại khi cuộc chiến sắc tộc - tôn giáo đang diễn ra ở một số nơi trên thế giới.

Tóm lại, sự có mặt của Phật giáo ở Việt Nam có một vai trò, một vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc. Nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu. Chính sách an dân trị nước của các vua Lý – Trần khiến nhân dân khâm phục. Vì thế cả hai triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu. Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400). Đây cũng là thời kỳ cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Khi vua dân đồng lòng cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lòng khoan dung của các vua nhà Lý. Hào khí Đông A soi rọi trái tim anh dũng của nhân dân ta, giúp chúng ta có sức mạnh vũ bão chống lại bọn xâm lược hung tàn. Đức trị thay pháp trị, yêu thương dân chúng bằng trái tim Phật. Thiền sư Pháp Thuận:

Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô cư như điện các

Xứ xứ tức đao binh

Nếu như các vua muốn đất nước thái bình, thịnh trị thì bản thân các vua phải tự trau dồi bằng đạo đức vị tha, triết lý sống nhập thế trên tinh thần từ, bi, hỷ, xả của đạo Phật, hướng lòng đến Chân – Thiện – Mỹ và đạt được chân lý ngay trong đời sống thực tại này, chứ không phải nơi một thế giới xa xăm nào khác. Đây chính là nguyên nhân làm cho triều đại Lý – Trần phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử với những chiến công vẻ vang và sự thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa. Thời Lý đã xuất hiện những Thiền sư nổi tiếng như Thiền sư Vạn Hạnh.

Hoàng Xuân Hãn: “ Sau các đời vua hung hãn họ Đinh – Lê, ta thấy xuất hiện ra những người cầm quyền có lòng độ lượng khoan dung, những cận thần đức độ trung thành. Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta”.  Xưa nay, các vương triều điều phải dùng gươm đao để tranh quyền đoạt vị, cai trị dân chúng bằng bạo lực. Nhưng triều Lý – Trần thì khác, lên ngôi vua không hề có một giọt máu rơi, quần thần trong triều đình đều nhất trí và cũng không nghe dân tình than oán. Sức mạnh nào đã tạo nên một quốc gia hưng thịnh hùng cường, có phải chăng chính đức từ, bi, hỷ, xả của nhà Phật đã thấm nhuần từ vua quan cho đến thứ dân.

Ngày nay, Phật giáo sống chan hòa cùng nhịp sống sôi động của xã hội loài người. Vẫn mong muốn hướng con người đến bến bờ hạnh phúc, để con người tìm thấy được “cực lạc”, được “niết bàn”. Tiến sĩ H.Gunaratana cũng nói: “Phật giáo xét trên tổng thể hoàn toàn khác hẳn với các tôn giáo thần học quen thuộc đối với người phương Tây. Nó là cánh cửa trực tiếp để đi vào tâm giới mà không cần phải dựa vào thần linh hay các “vị” nào khác.

Đạo đức là nền tảng quan trọng và thiết thực trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Vì vậy mà đương thời đức Phật đã chỉ rõ: “Mùi hương của các loài hoa, hoa chiên đàn, hoa da-già-la, hoa mạc-ly không thể bay ngược gió, chỉ có mùi hương của người đức hạnh chân chính, tuy ngược gió vẫn bay khắp muôn phương”.

 

Tài liệu tham khảo

1.      Pháp sư Thánh Nghiêm – Pháp sư Tịnh Hải, Lịch sử Phật giáo thế giới, NXB KHXH, Hà Nội, 2009.

2.      Nguyễn Thanh Tuấn, Phật giáo với văn hóa Việt Nam và Nhật Bản qua một cách nhìn tham chiếu, Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa, 2010.

3.      Andrew Skilton, Nguyễn Văn Sáu dịch, Đại cương lịch sử Phật giáo thế giới, NXB Tổng hợp TPHCM, 2007.

4.      Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB Văn học, HN, 1992.

5.      Hồ Phương Lan, Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến, NXB Lao động 2010.

6.      Nguyễn Vinh Phúc, 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, NXB Trẻ, 2009.

 

 

Nguyễn Thanh Tuyền

Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH và NV TP.HCM

(daophatngaynay.com)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Nguyễn Thanh Tuyền) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:26:51 +0000
HÔN NHÂN -GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6421-hon-nhan-gia-dinh-hanh-phuc-cua-nguoi-phat-tu.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6421-hon-nhan-gia-dinh-hanh-phuc-cua-nguoi-phat-tu.html Hôn nhân - gia đình là một tiến trình của cuộc sống, là một đặc trưng của xã hội loài người. Hôn nhân-gia đình làm cho xã hội tồn tại và thúc đẩy xã hội phát triển. Trong cuộc sống tự nhiên, việc duy trì nòi giống không chỉ dành riêng cho con người. Loài vật vẫn có những loài sống thành đôi, thành cặp, có trống có mái, có đực có cái, cũng sinh con và cũng biết nuôi cho con của chúng lớn lên, đủ lông đủ cánh, biết săn mồi. Con người là một động vật cao cấp khác với loài vật vì con người có tư duy, có lao động và biết suy nghĩ trước khi hành động.

Trong việc duy trì nòi giống, con người thương yêu nhau, kết hợp với nhau thành gia đình, sinh con, giáo dục con thành người có ích. Việc người nam và người nữ kết hợp với nhau thành vợ chồng đều phải thông qua hôn nhân, được gia đình, xã hội và luật pháp công nhận. Hôn nhân là kết quả của quá trình yêu đương giữa người nam và người nữ đã trưởng thành, là sự kết hợp với nhau thông qua sự chấp thuận của cha mẹ đôi bên, sự công nhận của pháp luật thông qua thủ tục đăng ký kết hôn. Từ đó, giữa họ hình thành một mối quan hệ mới là quan hệ gia đình.

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Trong xã hội, con người có nhu cầu tín ngưỡng và thực thi lý tưởng mà tự thân hướng đến. Chúng ta là những Phật tử, là những con người có niềm tin và làm theo những gì mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ dạy. Do đó, chúng ta càng phải có những nhận thức đúng đắn về hôn nhân-gia đình để xây dựng hạnh phúc phù hợp với giáo lý đạo Phật đồng thời phù hợp cuộc sống xã hội.

1- Quyền có hôn nhân và gia đình:

Đạo Phật là đạo giải thoát, giác ngộ. Bất cứ ai là Phật tử hay không Phật tử theo quan điểm của đạo Phật đều có quyền đi đến hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, những người đủ duyên để xuất gia, trở thành những nhà sư, tu sĩ thì nguyện sống một đời sống không gia đình, chiếm một số lượng rất nhỏ trong số tín đồ Phật giáo. Họ tự nguyện xa rời cuộc sống thế gian, không vướng bận vào vòng tình ái, vợ con. Cần nói rõ thêm, trước khi xuất gia, họ có quyền có hôn nhân, gia đình, vợ con. Nhưng khi đã xuất gia thì họ phải toàn tâm toàn ý tu học Phật pháp để trở thành người giác ngộ và giúp cư sĩ tại gia tu học.

Những người chưa đủ duyên để xuất gia thì tu học tại nhà. Đạo Phật không ngăn cấm cư sĩ tại gia không được có tình yêu, hôn nhân và gia đình. Cư sĩ tại gia tin và tu theo giáo lý đạo Phật, sống cùng xã hội, tuôn theo luật pháp và đạo lý con người.

2-Phật tử tại gia có quyền có tình yêu, hôn nhân, gia đình:

Tình yêu trai gái là điều tự nhiên của con người. Con người được sinh ra, được nuôi dưỡng và lớn lên. Khi đến tuổi trưởng thành, người nam và người nữ tự nhiên có tình cảm với người khác phái. Từ đấy, họ nẩy nở tình yêu. Tình yêu giữa người nam và và người nữ hoàn toàn không có gì là xấu xa. Đó là quy luật phát triển tự nhiên của con người. Không ai có thể ngăn cấm tình yêu trai và gái. Có những lề thói cổ hũ ngăn cấm đã dẫn đến những hâu quả khôn lường, mang lại nổi đau cho những người thân yêu, ruột thịt.

Tình yêu và hôn nhân là chuyện bình thường của con người. Cha mẹ nuôi dưỡng con cái lớn khôn luôn mong mỏi con cái của mình tìm được “ý trung nhân” để xây dựng mái ấm gia đình hạnh phúc. Đức Phật không hề bác bỏ hay ngăn cấm người nam, nữ trưởng thành yêu nhau. Đức Phật khuyên dạy con người từ lúc yêu thương nhau đến lúc chung sống với nhau phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, phải hợp với đạo lý làm người.

Giáo lý nhà Phật đặt nền tảng trên tình thương yêu con người. Ngài dạy con người phải thương yêu nhau, mang lại niềm vui, an lạc cho nhau. Xây dựng cuộc sống hôn nhân, gia đình là phải mang lại hạnh phúc, niềm vui cho nhau , chứ không phải mang lại nỗi đau.

Trong Kinh Đại Bảo Tích , Đức Phật đã dạy: “Nếu một người đàn ông có thể tìm được một người vợ, người phụ nữ thích hợp và hiểu biết; người phụ nữ có thể tìm được một người chồng, người đàn ông thích hợp và hiểu biết, cả hai thực sự may mắn”. Như thế, Đức Phật đã nêu rõ nền tảng của hạnh phúc gia đình là sự hiểu biết lẫn nhau và phù hợp với nhau. Dân gian Việt Nam chúng ta nói nôm na là “Nồi nào vung nấy”, tức là sự phù hợp với nhau về tính cách, lối sống và sự cảm thông nhau. Sự phù hợp ở đây hoàn toàn không có nghĩa là “Môn đăng hộ đối” với hàm ý phân chia giàu nghèo, sang hèn. Nếu hai người không phù hợp với nhau mà phải chung sống với nhau thì rất khó có hạnh phúc.

Tình yêu chân chính bao giờ cũng dẫn đến hôn nhân, tạo lập gia đình. Như thế hôn nhân phải luôn đi đôi với gia đình. Tình yêu không đi đến hôn nhân thì thường là mang đến nỗi sầu khổ đôi khi mang đến hận thù. Chuyện tình “Roméo và Juliet” là một câu chuyện lãng mạn về tình yêu. Chỉ vì mối thù giữa hai dòng họ, khiến cho họ không thể đến với nhau bằng hôn nhân, nàng Juliet tìm đến cái chết bằng thuốc độc, chàng Roméo tự vẫn bằng gươm. Ngày nay, cũng đôi khi đôi ban trẻ không được đến với nhau do gia đình ngăn cấm, họ cũng tìm đến cái chết. Thật thương thay !

3-Hôn nhân- gia đình, hạnh phúc của người Phật tử:

Như trên đã nói, Phật tử ở đây là các cư sĩ tại gia. Khi đã có tình yêu thì người Phật tử có quyền tiến đến hôn nhân và lập gia đình. Giáo lý nhà Phật không can thiệp, ngăn cấm hay bó buộc gì giữa đôi trai, gái. Đạo Phật là đạo từ bi, hỷ xả, không cố chấp. Giáo lý đạo Phật không đòi hỏi phật tử của mình buộc người hôn phối phải từ bỏ đạo khác mới được kết hôn như một vài tôn giáo khác.

Hai người nam nữ trưởng thành thương yêu nhau và tiến đến hôn nhân là một nhân duyên lớn. Khi tiến đến hôn nhân để có cuộc sống chung giữa hai người là bắt đầu một quá trình thử thách. Hôn nhân này có dẫn đến hạnh phúc hay khổ đau phụ thuộc rất nhiều vào đạo đức và nhân cách của hai người.

Để có cuộc sống hạnh phúc, người Phật tử cần phải thực hiện những nguyên tắc đạo đức của con người, sống và thực hiện các quy định của pháp luật, trên hết người Phật tử cần phải nhớ kỹ và thực hành những lời Phật dạy.

Về góc độ luật pháp, hôn nhân phải đảm bảo các nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và bình đẳng. Vợ và chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, giúp đỡ nhau cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau. Vơ chồng tạo điều kiện cho nhau trong việc chọn nghề, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội theo nguyện vọng và khả năng mỗi người. Khi có con, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền yêu thương, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, chăm lo việc học tập và giáo dục con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

Về góc độ đạo lý con người: Vợ chồng phải thương yêu nhau, quý trọng nhau và cùng nhau có trách nhiệm xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dưỡng con cái thành người hữu ích.

Về góc độ giáo lý đạo Phật, vợ chồng phải biết bao dung, chân tình, thương yêu và quý trọng lẫn nhau theo nếp sống xây dựng một đời sống gia đình hạnh phúc mà Phật đã dạy. Người chồng phải biết yêu thương, kính trọng và trung thành với người vợ, săn sóc chu đáo đời sống kinh tế của người vợ; thương yêu chưa đủ, hạnh phúc cần phải đáp ứng các nhu cầu cuộc sống. Người vợ phải thương yêu, kính trọng, chung thủy với chồng, khéo léo hành xử đối với những mối quan hệ của chồng và vui vẻ với làng giềng.

Trong thời đại ngày nay, hạnh phúc của người Phật tử là phải biết hướng dẫn con cái trở thành Phật tử, biết tôn kính Tam bảo, biết đi chùa, thương yêu người, bố thí, bớt tham sân si....Con cái hiếu để, kính trọng ông bà, cha mẹ, lánh xa kẻ xấu ác và không làm điều ác, thường hay làm việc thiện.

Phật tử là cư sĩ tại gia có nhiều trách nhiệm đối với xã hội (làm công dân, làm người lao động, làm kinh tế), đối với gia đình (làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ), đối với bản thân (thường xuyên tu dưỡng đạo đức, làm gương sáng cho con) nên người Phật tử tại gia phấn đấu tu học làm một việc hết sức khó khăn.Thật đúng với lời nói: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”.

Phật tử tại gia xây dựng được mái ấm gia đình hạnh phúc, làm kinh tế đủ sống hoặc dư giả, nuôi dạy con nên người, đồng thời vẫn có thời gian đến chùa nghe pháp, tu học thì đúng là một kỳ tích phi thường.

4- Những điều nên làm để có hạnh phúc trong hôn nhân-gia đình:

Khi trưởng thành, người nam và người nữ bắt đầu có tình yêu thì phải giữ gìn cho tình yêu trong sáng. Sự thương yêu nhau là hết sức cần thiết, song quan trọng hơn là biết kính trọng nhau. Sự kính trọng ngay những ngày yêu thương nhau sẽ làm nên tảng cho tình yêu lâu dài. Có kính trọng nhau mới vượt qua được sự ham muốn, giữ cho nhau sự trong sáng về mặt trinh tiết và phẩm hạnh. Nhiều bạn trẻ sớm đổ vỡ tình yêu vì đã quá hiểu rõ về nhau, cho nhau tất cả những gì cần phải gìn giữ cho hạnh phúc trước khi lập gia đình.

Tạo điều kiện cho người bạn đời tương lai của mình hiểu biết về gia đình cha mẹ, anh em hai bên. Có hiểu về gia đình nhau mới thông cảm cho nhau, biết là gia đình người hôn phối có đạo lý, đạo đức như nhà minh không. Gặp nhà không biết đạo đức thì nên hướng dẫn họ sống đạo đức, nếu không được thì nên sớm nói lời chia tay trước khi quá muộn.

Chọn người yêu phù hợp với mình, trước hết là phù hợp về tín ngưỡng. Không nên chọn người tôn giáo khác mà người ấy buộc mình phải bỏ đạo Phật mới tiến đến hôn nhân. Đạo Phật không đòi hỏi người yêu của mình bỏ đạo thì người yêu của mình cũng không được buộc mình phải bỏ đạo Phật. Như thế là mất công bằng và bình đẳng trước khi hai người trở thành vợ thành chồng. Trong hôn nhân mà không có bình đẳng ghì thật khó có hạnh phúc lâu dài. Nhiều cuộc hôn nhân với người khác tôn giáo đã cho thấy, họ cũng có hạnh phúc trong thời gian đầu, sau đó họ lục đục vì tranh chấp dạy dỗ con cái, cho con theo đạo nào và bản thân họ cũng mặc cảm bất an vì đã “bỏ đạo”. Nhiều người đàn ông vì muốn lấy được người mình yêu đã bỏ đạo, nhưng sau đó cũng bỏ cả “đạo theo” vì lương tâm cắn rứt, lúc ấy người hôn phối cũng mất hạnh phúc vì chồng (vợ ) mình bị gia đình nhiếc mắng có thằng chồng (con vợ) phản đạo. Khi tiến đến hôn nhân và thành lập gia đình, cả vợ và chồng cần phải luôn có ý thức cộng đồng trách nhiệm trong tạo dựng hạnh phúc gia đình. Không phải chỉ một người nhường nhịn mà phải cả hai người cùng nhường nhịn lẫn nhau. Cuộc sống gia đình làm gì không có những mâu thuẩn to hay nhỏ, nếu chỉ vì một lời nói, một tự ái thiếu kìm chế thì cuộc sống hôn nhân sẽ đổ vỡ.

Vợ chồng khi đã lấy nhau rồi cũng phải tiếp tục kính trọng như ngày chưa lấy nhau. Người Việt Nam ta có câu “ Tương kính như tân” (Quý trọng nhau như mới gặp nhau). Có tôn trọng lẫn nhau thì sẽ không có người nầy xem nhẹ, xem thường người kia, không có lời nói của kẻ cả với vợ hay chồng mình. Khi được tôn trọng, vợ chồng sẽ có lời nói nhẹ nhàng, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau. Vợ chồng nên giảm thiểu lới trách móc, chì chiết mà thay vào đó bằng lời nói yêu thương, nhẹ nhàng. Có thương yêu tôn trọng nhau thì vợ và chồng sẽ không dám có tư tưởng và hành động phản bội, thiếu thủy chung.

Vợ chồng phải thành thật với nhau, vợ chồng tuy hai mà là một, tuy một mà là hai. Vợ chồng không được dấu diếm nhau điều gì Không có bí mật tư riêng. Vợ chồng chia sẻ niềm vui lẫn nỗi buồn sẽ giúp nhau giải quyết khó khăn, thông cảm nhau hơn và cùng nhau vượt qua khó khăn. Người chồng hay người vợ giấu diếm, che dấu điều gì sẽ khiến cho người hôn phối của mình cảm thấy bị lừa đối. Từ đấy sẽ mất niềm tin với nhau. Vợ chồng mà thiếu niềm tin thì hạnh phúc cũng kém bền vững.

Vợ chồng phải có cách thức giáo dục con cái nên người. Con cái nên người, thành đạt là niềm hạnh phúc của gia đình. Nếu đứa con tốt thì cha mẹ hạnh phúc. Đứa con hư thì cha mẹ bất hạnh. Đức Phật dạy: “Cha mẹ phải có bổn phận khuyên bảo con cái tránh xa điều xấu, làm điều tốt, tạo cho con cái có nền giáo dục tốt, tạo điều kiện cho chúng lập gia đình với người phù hợp”.

Hôn nhân - gia đình là một hiện tượng xã hội, không chỉ luật pháp quy định chặt chẽ về hôn nhân gia đình mà đạo đức xã hội, giáo lý của các tôn giáo đều có những quy định để buộc công dân, tín đồ của mình tuân theo. Đạo Phật đã thấm nhuần vào trong cuộc sống của nhiều người dân, vì giáo lý đạo Phật thật sự tôn trọng tình yêu, hôn nhân và gia đình của con người. Pháp luật về hôn nhân và gia đình ở nước ta có nhiều nguyên tắc, trong đó có một nguyên tắc mà đạo Phật chú trọng, đó là nguyên tắc bình đẳng trong hôn nhân. Bình đẳng là nguyên tắc đảm bảo hạnh phúc lâu dài. Để có hạnh phúc, người Phật tử cần tin và làm theo lời Phật dạy, sống và hành động đúng theo đạo lý làm người, phù hợp quy định của luật pháp đem đến hạnh phúc an vui cho chính mình và cho mọi người./.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

TT. Thích Đạt Đạo

Phó thường trực Ban Hướng dẫn Phật tử TW GHPGVN

alt

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Đạt Đạo) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:22:55 +0000
VAI TRÒ CỦA VỊ TRỤ TRÌ TRONG VIỆC HƯỚNG DẪN PHẬT TỬ TU HỌC http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6420-vai-tro-cua-vi-tru-tri-trong-viec-huong-dan-phat-tu-tu-hoc.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6420-vai-tro-cua-vi-tru-tri-trong-viec-huong-dan-phat-tu-tu-hoc.html Trong không khí trang nghiêm thắm tình đạo vị trên tinh thần đoàn kết hòa hợ,. Tôi rất vinh dự được Ban Tổ chức cho phép tôi đại diện Phật giáo Nam tông Khmer thuộc Ban trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát biểu tham luận và đóng góp một số ý kiến trong ngày hội thảo hướng dẫn Phật tử miền Đông và miền Tây Nam bộ. Đây là điều kiện rất tốt để cho Ban Hướng dẫn Phật tử các tỉnh thành cùng thảo luận để tìm ra phương pháp tốt nhất nhằm đem ánh sáng Phật pháp đến với mọi người mọi nhà trên các nẻo đường của đất nước nhất là những vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer đúng với phương chăm Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã Hội.

Trong mọi thời đại việc vận dụng giáo lý đạo Phật theo đúng chánh pháp để tinh thần đó lan tỏa

 vào thực tế xã hội luôn là nhu cầu bức thiết nhằm xây dựng một đời sống hướng thượng, thuần thiện, trên đất nước Việt Nam, từ hơn 2000 năm qua, mạch nguồn cứu khổ ban vui của đạo Phật chính là chất liệu yêu thương, vun đắp và gắn kết sự hòa hợp giữa cộng đồng các dân tộc, góp phần hình thành bản sắc và sự cộng tồn qua nhiều thời đại. Hiện nay đời sống vật chất và tinh thần của Sư Sãi và đồng bào Khmer đã có những thay đổi rất tích cực việc sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo được tự do hoạt động theo khuôn khổ pháp luật.

- Bản sắc văn hóa của đồng bào Khmer.

- Người Khmer ở miền Đông và miền Tây Nam bộ hầu hết theo Phật giáo Nam tông Khmer dù vô chùa tu hay ở trong nhà thì người Khmer đều là con Phật (Phật tử) người Khmer đi tu không phải để trở thành Phật, mà tu để làm người, làm người có nhân cách, có phẩm chất đạo đức tốt theo quan niệm của họ, có thể nói lý tưởng sống truyền thống của người Khmer là Đức Phật. Cho nên trong cuộc sống hàng ngày, dù quí sư ở chùa hay Phật tử tại gia đều phải sống rèn luyện theo giáo lý nhà Phật: là bố thí, trì giới, tham thiền, còn gọi là giới định tuệ.

Mỗi người con trai Khmer khi lớn lên đều có thể đi tu, theo luật Phật thì trên 12 tuổi mới được vào tu nhưng trên thực tế cũng có các Sadi (lục nên) nhỏ tuổi hơn. Tu từ 12 tuổi đến 20 tuổi gọi là để trả ơn mẹ và từ 21 tuổi trở lên thọ giới Tỳ khưu để trả hiếu cho cha nhưng thường thì người con trai Khmer có thể đi tu bất cứ lúc nào tùy phước tùy duyên của mỗi người trong cuộc đời ích ra cũng được tu một lần. Do đó quan hệ giữa nhà chùa và Phum Sróc rất chặt chẽ và gần gũi.

Vị Tỳ khưu phải thọ 227 giới trong khi Sadi người con trai mới về chùa tu thọ 10 giới, còn Dêchi tu nữ đắp bạch y thọ 8 giới còn quí Phật tử thọ tam qui ngũ giới (5 giới). Quí sư trong chùa thường ngày phải tụng 2 thời kinh sáng và chiều còn quí tu nữ Phật tử mỗi tháng phải lên chùa tụng kinh ít nhất 4 thời vào những ngày mùng 8-15-23-30AL. Tất cả các con em người dân tộc Khmer lúc nào cũng lấy việc làm lành, tránh những điều ác làm lẽ sống thường ngày, họ quan niệm bố thí làm phúc cứu giúp đồng loại tức là mình đã làm được việc thiện. Càng làm nhiều việc thiện thì núi phước của họ càng cao thêm mãi.

Trong sách dạy làm người của người Khmer có câu: “Ri e minh bane Buas tukkhnong samy”. (Nghĩa là: làm người mà không được tu, sẽ có tội lỗi trong cuộc sống) chỉ vì một câu nói truyền miệng đã có sức mạnh quan trọng định hướng cho cuộc sống làm người của hết thảy con trai Khmer. Người con trai được coi là có đủ tư cách phẩm chất trong xã hội đều phải trải qua một thời gian tu học ở chùa, dù có địa vị như thế nào mà không qua thời gian tu tập ở chùa, thì cũng bị dân chúng xem thường, đó cũng là lý do giải thích vì sao chùa Khmer đông các vị sư.

Thông thường, mỗi phum sróc của người Khmer đều có chùa ở miền Đông và miền Tây Nam bộ có đến 460 ngôi chùa với trung bình mỗi chùa có từng 20 – 30 vị sư.

"Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông"

Khi quý vị có dịp về các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long điều Quí vị thấy trước tiên là ngôi chùa, bởi chùa được xây dựng trên các gò cao ráo, thoáng mát, khuôn viên rộng rãi, và có rất nhiều cây cổ thụ, như cây Dầu, cây Sao cao vút tạo nên một môi trường tâm linh mát mẻ và thanh tịnh. Chùa còn nổi bật các công trình hoa văn kiến trúc duy nhất xây bằng gạch rất kiêng cố và đồ sộ giữa các mái nhà nghèo lợp tranh vách lá của bà con dân tộc Khmer. Cảnh tượng đó cho phép chúng ta nghỉ rằng người Khmer dù có vất vả đến đâu họ cũng phải xây dựng nơi thờ Phật thật trang nghiêm lộng lẫy, ngôi chùa Khmer không chỉ là nơi tu hành thờ phụng, mà còn là trường dạy tiếng nói chữ viết (ngôn ngữ) dạy giáo lý, dạy nghệ thuật, là trung tâm văn hóa giáo dục của nhân dân trong vùng chùa còn là địa điểm gặp gỡ sinh hoạt vui chơi của quần chúng vào các kỳ lễ hội như các trò chơi dân gian: kéo co, bịt mắt đập nón, nhảy bao... Chùa có cả thư viện thậm chí là cả một bảo tàng viên. Nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa đậm nét văn hóa phong tục tập quán, lễ nghi truyền thống mang tính kế thừa và mang đặc trưng của dân tộc.

Muốn làm công tác hoằng pháp cũng như hướng dẫn nam nữ Phật tử vùng đồng bào dân tộc Khmer thời hội nhập trước hết phải có con người (nhân sự) mà nhân sự này không ai khác ngoài sư trụ trì vì sư trụ trì đóng vai trò rất quan trọng đối với tín đồ Phật tử trong bổn sóc của mình, Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương phải soạn thảo ra một chương trình hành động thật cụ thể, có thể chuyển thành song ngữ Khmer– Việt và có một buổi sinh hoạt với các Ban Hướng dẫn các tỉnh thành để triển khai những phương pháp sinh hoạt tu học và đúc kết thành chương trình hành động cụ thể để đại diện Ban Hướng dẫn các tỉnh thành về sinh hoạt trực tiếp đến các vị trụ trì các chùa và truyền đạt lại các phương pháp tu học của nam nữ Phật tử và cách tổ chức sinh hoạt gia đình Phật tử. Có như vậy mới đem đến một kết quả tốt đẹp của Ban Hướng dẫn Phật tử vùng dân tộc.

Từ xưa đến nay các ngôi chùa Khmer đều duy trì phương pháp tu học, hoằng pháp, hướng dẫn Phật tử, và giáo dục…đều dựa trên phương pháp cổ truyền. Hàng năm cứ vào những dịp lễ hội như: lễ Chol Chnăm Thmây, lễ Đol ta, lễ Kathina (Dâng y), lễ kiết giới Sima… đều có những vị hòa thượng làm công tác hoằng pháp thuyết giảng đủ tất cả các chủ đề như nhân quả, tội và phước, nghiệp và những đề tài xã hội…. thông qua những buổi lễ như thế này, các vị trụ trì trong hoặc ngoài tỉnh tổ chức hướng dẫn nam nữ Phật tử trong đạo tràng (Bổn Sóc) của mình để đi tham dự lễ của ngôi chùa đó. Trước hết tham quan, giao lưu, học hỏi cách tổ chức sau cùng là hùn phước gieo trồng công đức. Kế đến là nghe thuyết pháp giảng đạo trong buổi lễ đó. Đây cũng là một hình thức giao lưu sinh hoạt giữa phum sróc với phum sróc của gia đình Phật tử Khmer cũng như các đạo tràng sinh hoạt của các ngôi chùa Việt Nam. Chỉ khác phương pháp tụ tập mà thôi. Có những ngôi chùa họ duy trì lịch thuyết pháp giảng đạo rất đều đặn trong một tháng 4 ngày ví dụ như chùa Pengsomrath Àntrach – chùa Cham pa Phú Tân, H. Mỹ Tú, Sóc Trăng. Vào các ngày mùng 8, 15, 23, 30, tôi thấy cách sinh hoạt tu học này rất phù hợp đối với chương trình tu học của Ban Hướng dẫn Phật tử đề ra và cũng nên nhân rộng mô hình tốt đó đến các ngôi chùa Nam tông khmer.

Thông qua buổi hội thảo này tôi rất mong Ban Hướng dẫn Phật tử TW cùng các Trưởng Ban Hướng dẫn Phật tử các tỉnh thành có đông đồng bào dân tộc Khmer nên nghiên cứu soạn thảo giáo trình sao cho phù hợp đối với cách hành trì tu học truyền thống của đồng bào dân tộc và kết hợp chặt chẽ với các vị trụ trì của các ngôi chùa; vì các vị trụ trì này sẽ giúp được rất nhiều trong việc hướng dẫn sinh hoạt tu học đến nam nữ Phật tử tại địa phương, đúng với chương trình hành động mà Ban Hướng dẫn Phật tử đã đề ra với vùng đồng bào dân tộc Khmer thời hội nhập./.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

ĐĐ. Quách Thành Sattha

UV. Hội đồng Trị sự GHPGVN

Phó Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh BR-VT

HoaSen.jpg

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Quách Thành Sattha) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:19:30 +0000
BẢN SẮC VĂN HÓA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER VÀ ĐỊNH HƯỚNG SINH HOẠT, TU HỌC THỜI HỘI NHẬP http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6419-ban-sac-van-hoa-dong-bao-dan-toc-khmer-va-dinh-huong-sinh-hoat-tu-hoc-thoi-hoi-nhap.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6419-ban-sac-van-hoa-dong-bao-dan-toc-khmer-va-dinh-huong-sinh-hoat-tu-hoc-thoi-hoi-nhap.html Nước ta gồm nhiều dân tộc anh em, có truyền thống đoàn kết, đấu tranh trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Mỗi dân tộc có những đặc thù và bản sắc văn hóa riêng của mình góp phần làm phong phú đa dạng văn hóa dân tộc Việt Nam.

Đồng bào dân tộc Khmer với trên một triệu người, được phân bố trong 13 tỉnh thành của Nam bộ là An Giang, Bạc Liêu, Bình Phước, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, TP. Hồ Chi Minh, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tây Ninh, Trà Vinh,Vĩnh Long, Bà Rịa-Vũng Tàu. Phật giáo Nam tông Khmer hiện nay có 445 ngôi chùa, chư Tăng: 8.574 vị.

Từ lâu đời, người Khmer với tinh thần rộng mở và thấm nhuần triết lý Phật giáo luôn sẵn lòng tiếp nhận và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Họ thường chọn những vùng đất yên lành mà sinh cơ lập nghiệp. Những nơi ấy thường là vùng đất giồng, gò cao, vùng ngập mặn, ven biển, vùng sâu, vùng núi và biên giới, thường sống xa các trục giao thông lớn, trung tâm dịch vụ thương mại, điều kiện sản xuất và sinh hoạt còn rất khó khăn.

Từ đấy, trong lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất họ đã học tập lẫn nhau. Từ những tấm chân tình giữa tình làng nghĩa xóm đã tạo cho họ xích lại gần nhau hơn, tiến tới mối quan hệ hôn nhân gia đình giữa người Khmer, Kinh, Hoa, tạo ra mối quan hệ huyết thống, càng thắt chặt tình đoàn kết trong xây dựng cuộc sống kinh tế, xã hội. Thế là có sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc, các quan niệm giá trị đạo đức học tập lẫn nhau như: có người Khmer tuy mang họ Việt, họ Tàu nhưng sống theo văn hóa, đạo đức của người Khmer, cũng xuất gia tu học theo truyền thống dân tộc Khmer. Mặt khác, trong nền kinh tế phục vụ cho cái ăn cái mặt, người Khmer Nam bộ có nhiều thay đổi, nền sản xuất chăn nuôi trồng trọt được mở rộng, vừa mang tính tự cung tự cấp, vừa mang tính hàng hóa nghĩa là sản xuất không phải chỉ để ăn tất cả hay bán tất cả, mà làm để ăn và sản xuất ra xã hội bên ngoài như lúa thóc, rau quả. Đặc biệt người Khmer còn có nghề trồng dâu nuôi tằm dệt vải rất nổi tiếng trước đây ở vùng Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang… Hiện nay, nghề này chỉ còn được duy trì ở Tịnh Biên, nhưng chỉ dệt lúc rảnh rỗi khi qua mùa vụ nông nghiệp, và sản phẩm thường là những tấm khăn choàng, làm xà - rông, làm khăn địu trẻ trên lưng. Tuy nhiên, cũng tùy vào vị trí địa lý ở từng vùng thuận lợi cho nghề nghiệp tồn tại, phát triển khác nhau. Như ở Thất Sơn, người Khmer còn bảo lưu nghề thủ công làm gốm, dệt, lò rèn, đan, đóng xe bò… nhưng chỉ với quy mô nhỏ. Riêng sản phẩm đường thốt nốt được sản xuất rộng ra trên thị trường với hương vị đậm đà thơm ngon mà những ai đến đây cũng thường mang về như món quà quê hương An Giang ban tặng.

Ngày nay, đất nước ta đang trên đà tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì người dân Khmer Nam bộ cũng không nằm ngoài làn sóng ấy. Người Khmer Nam bộ nhận thức rằng việc học tiếng phổ thông (tiếng Việt) là cần thiết cho nhịp sống mới, cho nền sản xuất công nghiệp để cải thiện đời sống vật chất, thay vì trước đây chỉ chú trọng học tiếng dân tộc mình để gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì thế, xu hướng học tập được mở rộng, ngày càng phát triển. Vả lại, Đảng và Nhà nước đã mở ra chính sách nâng cao dân trí cho toàn dân nói chung và quan tâm ưu đãi cho con em dân tộc Khmer, về phần Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng rất quan tâm đến việc tu học sinh hoạt của Phật giáo Nam tông Khmer như tạo điều kiện mở học viện Phật giáo Nam tông Khmer và đã in ấn nhiều tài liệu kinh sách phân phát cho các chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Từ đó, để chư Tăng và Phật tử người dân tộc có điều kiện học tập phát triển kịp với nhịp độ chuyển mình của đất nước và sự phát triển tiến bộ của Phật giáo Việt Nam.

Đặc thù xã hội Khmer Nam bộ đã in đậm bản sắc văn hóa Phật giáo. Phật giáo Theravada được coi trọng là đạo truyền thống trong lòng mỗi người dân tộc Khmer. Chùa làm trung tâm sinh hoạt tập thể, mỗi chùa chia ra nhiều Vên (khu) gồm vài chục nóc gia do một Mêvên trông nom. Chùa có Trụ trì và bổn chùa có Ban quản trị để phối hợp nhau trông coi công việc đạo Pháp kết hợp với công việc xã hội như tổ tương tế và mỗi Vên (khu, tổ) có tổ vần công trong công việc đồng án và công tác xã hội khác. Mỗi chùa hoặc bổn chùa có nhà hỏa táng, có xe tang. Khi có công việc đột xuất sinh hoạt hội họp thì chùa nổi trống lên, Ban quản trị và Phật tử đến ngay. Mọi việc xích mít, mất đoàn kết nội bộ Phật tử thì Trụ trì và ban quản trị chùa đứng ra hòa giải. Mọi công việc của Nhà nước có liên quan đến dân thì chính quyền xã ấp đến bàn với vị Trụ trì và Ban quản trị để phối hợp giải quyết. Con cái của Phật tử nào bướng bỉnh, ngang ngược làm nhiều điều sai trái như trộm cắp, quậy phá, vô lễ với người lớn tuổi, hất hủi cha mẹ, ông bà… nhiều lần giáo dục nếu không hối cải thì cũng được công khai hành động và có biện pháp trừng phạt bằng cách cô lập như: Sư sãi không đến khất thực, đình đám trong Phum, trong chùa không ai mời, có việc gì xảy ra không ai can thiệp. Nếu tiếp tục tái phạm thì vị Trụ trì và Ban quản trị chùa đưa ra chính quyền can thiệp.

Dân tộc Khmer Nam bộ có quá trình lịch sử lâu dài đã chung vui chia buồn với đại gia đình các dân tộc Việt Nam và có nền văn hóa phong phú, đa dạng. Mặt khác, Phật giáo được truyền vào dân tộc Khmer Nam bộ rất lâu đời, nền văn hóa Khmer mang đậm sắc thái của Phật giáo đã đóng góp phần rất lớn trong việc bảo tồn, bổ sung và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Hầu hết các lễ hội, dân gian dân tộc Khmer Nam bộ đều gắn bởi triết lý Phật giáo, nhằm giáo dục con người hướng thiện giữ đạo lý trong quan hệ cuộc sống, giữa con người với tự nhiên và con người với nhau, trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Các lễ hội ấy phần lớn được tổ chức tại chùa. Chư Tăng tại mỗi chùa là người hướng dẫn hoặc chứng minh cho Phật tử thực hiện những cuộc lễ ấy. Nơi đây, chúng tôi xin lược qua một số lễ hội thể hiện tín ngưỡng của người Khmer Nam bộ:

1. Lễ Chol Chnam Thmey đây là Tết cổ truyền của dân tộc Khmer được diễn ra tại chùa và các Phum Srók. Cụm từ Chol Chnam Thmey nghĩa là Mừng năm mới. Hằng năm cứ vào giữa tháng tư dương lịch, theo lịch Khmer là Khe Chet (tháng 3 ÂL), toàn thể dân Khmer Nam bộ dù đi làm ăn nơi đâu cũng quay về mái ấm gia đình thăm viếng ông bà cha mẹ, trang trí nhà cửa và cùng nhau mua sắm lễ vật nhang đèn và hoa quả vào chùa làm lễ đón năm mới.

2. Lễ Sene Đol-Ta đây là lễ cúng ông bà, gần giống như lễ Vu Lan báo hiếu của người Kinh. Hằng năm cứ vào tháng 9 dương lịch, theo lịch Khmer là Khe Bhatrobut (tháng 8 ÂL), ở đây trong văn hóa dân tộc Khmer Lễ Sene Đol-Ta nhằm nói lên ý nghĩa hồi hướng phước báu (lễ xá tội vong nhân). Trong bổn phận làm con mà đức Phật đã dạy là phải biết đền ơn báo hiếu phụng dưỡng cha mẹ, làm phước hồi hướng đến ông bà cha mẹ khi người đã quá vãng (có Lễ hội đua bò ở tỉnh An Giang).

3. Lễ Ok-Om-Bok là một trong ba lễ hội truyền thống trong năm của dân tộc Khmer Nam bộ. Hằng năm cứ vào đầu tháng 12 dương lịch tức theo lịch Khmer là Khe Katdâk (Rằm tháng 10 ÂL) nhằm tưởng nhớ và tạ ơn mặt trăng vốn được họ coi như một vị thần vận hành mùa màng trong năm. Lễ vật cúng chủ yếu là cốm dẹp nên gọi là Ok-Om-Bok có nghĩa là đút cốm dẹp và các loại củ, trái cây,. Khi nhắc đến lễ Ok-Om-Bok thì chúng ta không thể nào quên lễ hội tưng bừng nhộn nhịp là Lễ đua ghe ngo, thả đèn nước, lòng đèn gió.

Cũng trong thời gian trước ngày lễ Ok-om-bok, (từ ngày 16 tháng 9 ÂL đến Rằm tháng 10 ÂL). Các chùa Nam tông Khmer đều chọn lấy một ngày trong vòng 29 ngày để tổ chức Lễ dâng y Kathina truyền thông Phật giáo. Tất nhiên lễ này cũng rất long trọng, bởi nhân dịp này các chàng trai và cô gái Khmer ăn mặc đẹp đẽ với bộ trang phục dân tộc truyền thống tay cầm cây bông làm bằng sợi len, bằng giấy, hoặc đóa hoa tươi, kết thành đoàn theo người chủ lễ dâng y vào chùa nhiểu Phật ba vòng chánh điện và cúng dường đến chư Tăng, số tiền có được từ cây bông ấy được dùng để xây dựng hoặc tu sửa chùa.

Lễ hội dân tộc là những ngày lễ bắt nguồn từ cuộc sống lao động của dân chúng. Các lễ hội ấy đã có từ ngàn xưa trước khi Phật giáo chưa thâm nhập. Nhưng qua quá trình phát triển những nghi lễ truyền thống ấy nay được pha lẫn nhiều yếu tố triết lý Phật giáo. Song ở đây cũng tồn tại khá rõ nét nguồn gốc nghề nông nghiệp của cư dân chuyên canh lúa nước, đó là đặc điểm chung của lễ Chol Chnam Thmey, lễ Sene Dol-Ta, lễ Ok-Om-Bok.

Khi nói đến các lễ hội dân tộc thì chúng tôi không thể lược qua chùa Khmer, ngoài chức năng tôn giáo, chùa còn gồm cả chức năng giáo dục, chức năng giao lưu văn hóa phong tục mà đồng bào Khmer đã “ký gửi” cả tâm hồn, tài sản và cả công sức của mình vào đó. Qua đó, ngôi chùa Khmer còn có cách quản lý khá chặt chẽ là không chỉ có vị trụ trì mà còn có ban quản trị. Nên mọi việc sửa chữa chùa chiền đều phải có cuộc họp thống nhất ý kiến chung giữa Trụ trì và Ban quản trị, vào những dịp lễ hội truyền thống dân tộc Trụ trì và Ban quản trị đứng ra hướng dẫn tổ chức lễ. Chùa Khmer không những là nơi diễn ra các sinh hoạt tôn giáo xã hội mà còn là nơi tồn trữ và phổ biến những Đại tạng kinh, giáo lý, sách báo, tác phẩm văn hóa nghệ thuật Khmer, chùa còn là trường đào tạo nữa. Nơi đây, có các lớp giáo lý Pali - Vinaya, cho Tăng sinh và cả lớp dạy chữ Khmer cho con em dân tộc. Thầy dạy lớp giáo lý Pali - Vinaya thường là các sư sãi được Hội ĐKSSYN các cấp đào tạo. Mỗi ngôi chùa Khmer là một Trung tâm sinh hoạt văn hóa giáo dục xã hội của địa phương. Nơi đây, người dân Khmer được lớn lên trong nếp sống đạo đức Phật giáo. Các nhà sư vừa là thầy hướng đạo vừa là thầy dạy chữ nghĩa đạo đức cho dân chúng. Nên tín đồ Phật tử rất mực ngưỡng mộ và tôn kính Nhà sư. Cho nên chỉ có các sư sãi trong chùa là những người được học nhiều chữ nghĩa và mở lớp đào tạo giáo lý để duy trì đạo đức, văn hóa, Phật pháp. Với hoài bảo và tâm quyết bảo tồn văn hóa dân tộc mình mà các lớp học được duy trì từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Kiên trúc chùa Khmer được cấu tạo bởi một số nét mang đặc tính gần gũi với thiên nhiên và đặc trưng là có nhiều cây cổ thụ như sao, dầu được trồng thẳng hàng luôn được bảo dưỡng tươi tốt. Vì thế cảnh quang ngôi chùa đã được xem như danh lam thắng cảnh, nơi để đồng bào xa gần hành hưong thưởng ngoạn. Với bản tính chất phát, thật thà, đôn hậu vốn có ở người Khmer điều đó đã chứng minh ở triết lý sống của Phật giáo là: từ - bi - hỷ - xã, tinh thần vị tha và càng tin tưởng vào quy luật nhân quả, nghiệp báo. Chính sự thích hợp đó đã tạo thế đứng vững chắc cho Phật giáo truyền thống Theravada tồn tại trong đồng bào Khmer Nam bộ. Thế là, ngôi chùa đã trở thành trường học, trung tâm văn hóa giáo dục đào tạo và diển ra nhiều hoạt động nhân văn xã hội của dân tộc Khmer.

Ngày nay, trên đà phát triển của đất nước, người Khmer Nam bộ cũng đồng hành và tiến kịp với xã hội. Trên cơ sở hiện nay, theo báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2009 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh thành có Phật giáo Nam tông Khmer, đều có mở các lớp sơ và Trung cấp Phật học Pali, giáo lý như : Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang, Bạc Liêu, An Giang. Tổng số liệu lớp và tăng sinh chung là: 1.276 phòng, có 6.806 vị tăng sinh. Lớp ngữ văn Khmer bậc tiểu học (lớp 1-5) ở tỉnh Trà Vinh mở được 815 phòng, có 19.845 học viên là thanh thiếu nhi Phật tử.

Ngoài ra, còn có nhiều chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer theo học các Trường đại học tại thành phố Hồ Chi Minh, Cần Thơ, Trà Vinh, với chuyên ngành như: tin học, kế toán, du lịch, Anh văn, trên 50 vị đang du học tại các trường Đại học Phật giáo Myanmar, Thái Lan, Ấn Độ. Đây là thành quả giáo dục đáng được khích lệ dành cho Phật giáo Nam tông Khmer.

Nhân Hội thảo này chúng tôi có một số định hướng sinh hoạt tu học của Phật tử Khmer thời hội nhập như sau:

1. Phối họp Trụ trì chư Tăng, Ban quản trị Phật tử trong bổn đạo tổ chức thuyết giảng giáo lý mỗi tháng 4 kỳ và đưa triết lý Phật giáo sinh hoạt thực tiển vào đời sống. Đồng thời tuyên truyền các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là thời kỳ phát triển và hội nhập của đất nước hiện nay.

2. Nhằm nâng cao hiểu biết sâu rộng trong chư Tăng, quần chúng nhân dân nhất là vùng đồng bào dân tộc Khmer, Giáo hội thường xuyên quan tâm tổ chức Hội thảo về những ý nghĩa quan trọng của ngày Đại Lễ Vesak (Phật Đản), hoằng pháp vùng đồng bào dân tộc bằng tiếng dân tộc, qua đó đưa những lời dạy có tính cách khoa học, tính nhân văn của đức Phật cũng như sự tiến bộ của Phật giáo trong sự phát triển và sự tiến bộ của xã hội.

3. Vận động Trụ trì, Ban quản trị các chùa, các mạnh thường quân, tích cực tham gia phong trào từ thiện xã hội, vận động các chùa tạo điều kiện giúp đỡ cụ ông, cụ bà già yếu, giúp đỡ bệnh nhân nghèo, các gia đình có công, góp phần giảm nhẹ, gánh nặng cho xã hội, khuyến khích các chùa kết hợp với chính quyền địa phương, hội người cao tuổi tổ chức viếng thăm và làm lễ chúc thọ cho cụ ông, cụ bà ở địa phương.

4. Tổ chức tốt cho chư Tăng và con em Khmer theo học các Trường sơ – Trung cấp Phật học Nam tông Khmer và giúp đỡ tạo điều kiện cho chư Tăng và các em được vào các trường Đại học để đào tạo nhân tài phụng sự đạo pháp, dân tộc và xã hội./

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

Tiểu ban Phật tử Nam tông Khmer

user3508_pic659_1239387847.jpg

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

.

]]>
tcanhco@yahoo.com (Tiểu ban Phật tử Nam tông Khmer) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:15:52 +0000
KINH NGHIỆM TRUYỀN BÁ PHẬT PHÁP VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6418-kinh-nghiem-truyen-ba-phat-phap-vung-dong-bao-dan-toc-khmer.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6418-kinh-nghiem-truyen-ba-phat-phap-vung-dong-bao-dan-toc-khmer.html Đối với đồng bào dân tộc Khmer, Hội Đoàn kết Sư Sãi yêu nước là một tổ chức của giới sư sãi, có mối quan hệ hữu cơ với cộng đồng Phật tử Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer Mahanikaya.

Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước tỉnh Trà Vinh, tiền thân là Hội Sư sãi yêu nước Tây Nam bộ được thành lập vào ngày 20 tháng 3 năm 1965 do khu ủy Tây Nam bộ chủ trương. Hội là tổ chức thành viên của Uỷ ban Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam, nay là UB.MTTQVN. Với vai trò hiện nay Hội vận động, tập hợp giới sư sãi, Phật tử tham gia thực hiện đúng theo đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc, tu học và hành đạo đúng theo chánh pháp, tham gia tích cực công tác từ thiện xã hội, đoàn kết các dân tộc, tôn giáo làm tốt đạo đẹp đời, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

Trà Vinh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Có 8 đơn vị hành chính gồm 7 huyện và 1 thành phố. Dân số trên 1 triệu người, trong đó dân tộc Khmer có trên 30% dân số trong tỉnh. Mật độ dân số trung bình 446 người/ km2. Toàn tỉnh có 141 chùa Phật giáo Nam tông Khmer với 3.068 vị sư sãi, trong đó Hoà thượng 36 vị, Thượng toạ 46 vị, Đại đức 389 vị, Tỳ khưu 965 vị, Sa di 1.632 vị. Đồng bào Khmer đa số theo tín ngưỡng Phật giáo ( khoảng 99% ). Điều kiện phát triển kinh tế của đồng bào dân tộc Khmer chủ yếu là nông nghiệp lúa nước, nuôi trồng thuỷ sản, và tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh lẻ.

Đồng bào Khmer sống tập trung thành Phum Srok thường ở xung quanh chùa và có tính cộng đồng cao. Mặc dầu đời sống còn gặp khó khăn nhưng tâm nguyện của họ là lúc nào chùa cũng phải được xây dựng thật khang trang và tôn nghiêm. Nếu cụm dân cư quá xa chùa thì họ sẽ sẵn sàng đóng góp tài vật sức lực để xây dựng ngôi chùa hoặc cất sala để thỉnh chư Tăng đến hành lễ theo truyền thống Phât giáo Nam tông Khmer.

Về sinh hoạt đời sống thường không thể tách rời nghi thức Phật giáo như: Chol Chnam Thmey, DolTa, Ok-om-bok, trong lễ cưới hỏi, lễ tang, lễ giổ ông bà cha mẹ, sinh nhật mừng thọ, cất nhà mới, mừng được mùa, mừng sự thành đạt của con cháu, lễ xuống đồng, lễ cầu an, cúng Neak Ta và các lễ hội mang tính dân gian khác họ đều gắn liền nghi thức Phật giáo. Khi có sự mâu thuẩn nội bộ thân tộc hay chòm xóm hoặc con cháu ngỗ nghịch thì chùa là trung tâm hòa giải, giáo dục ý thức để có sự nhận thức cái đúng cái sai, tốt xấu và tự mình hòa giải tranh chấp, tự tu sửa bản thân để trở thành người tốt và hữu dụng trong xã hội, khi sống không xa lìa chùa và khi chết đi thì đem hài cốt vào chùa. Vì thế Phật giáo chiếm vị trí độc tôn trong đồng bào dân tộc Khmer.

Về lãnh vực giáo dục, ngoài việc giảng dạy Pali giáo lý cho sư sãi, mỗi chùa đều có đạo tràng Bát quan trai từ 50 đến 100 Phật tử, ngoài ra là thọ trì Tam quy và ngũ giới, hằng tháng 4 kỳ, Phật tử được nghe thuyết giảng giáo lý và hướng dẫn thực hành pháp bố thí, trì giới, tham thiền theo chánh pháp. Các chùa trong tỉnh còn mở các lớp Khmer ngữ cho con em được học văn hóa của mình và qua đó các em được hấp thụ nền giáo dục đạo đức cơ bản của Phật giáo. Cụ thể năm 2009 - 2010 mở được 815 lớp học có 19.845 thanh thiếu niên theo học. Một số con em mồ côi không nơi nương tựa thường được nhà chùa nhận nuôi, con nhà nghèo hiếu học không đủ khả năng để tiếp tục học thì vị sư cả và ban quản trị động viên gia đình và giúp đỡ vật chất lẫn tinh thần, tạo điều kiện cho các em được học đến nơi đến chốn.

Hội tích cực vận động các chùa tham gia công tác từ thiện nhằm góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng trong xã hội. Thường xuyên thăm viếng tặng quà động viên tinh thần gia đình Phật tử có hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật, lúc bị thiên tai.

Song điều đáng quan ngại nhất là trong thời kỳ phát triển và hội nhập của đất nước, thời đại khoa học tân tiến, công nghệ thông tin, thời đại của vật chất xa hoa, những thứ ấy Lớp học tình thương, sẽ dễ làm lu mờ một số người thiểu trí có sự nhận thức lệch lạc nông cạn, có hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu, bệnh tật. Vì hiện nay, một số người chỉ vì một ít vật chất mà họ sẵn sàng đạp bỏ tất cả nền đạo đức, nét đẹp văn hóa, tôn giáo truyền thống của dân tộc mà tổ tiên ông cha họ đã ấp ủ hằng bao thế kỷ qua. Sự việc này thường xảy trong vùng đồng bào dân tộc Khmer. Đây là điều chúng tôi rất băn khoăn lo lắng. Rất mong được sự quan tâm các ngành các cấp Giáo hội.

Như chúng ta đã biết, hơn 20 thế kỷ qua Phật giáo luôn đồng hành đi sâu vào trong lòng dân tộc và đã trở thành bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì thế mục tiêu hướng dẫn Phật tử Khmer tu học trong thời hội nhập và phát triển của đất nước thì cần quan tâm một số việc như sau:

- Đối vùng đồng bào dân tộc do kiến thức còn hạn chế thiếu sự giao thoa tiếp cận với sự phát triển và tiến bộ của xã hội hiện đại. Nên việc thuyết giảng giáo lý phải thực dụng, bám sát với thực tế của cuộc sống đời thường, phù hợp với trình độ năng lực, dễ hiểu, dễ thực hành, không ảnh hưởng đến văn hóa, phong tục tập quán mà nâng cao hiệu quả thiết thực cả về vật chất lẫn mặt tâm linh.

- Việc dạy và học Pali giáo lý trong Phật giáo Nam tông Khmer vẫn còn bất cập, chương trình học từ bậc sơ cấp, trung cấp và thời gian học chưa được thống nhất, việc này cũng ảnh hưởng đến việc hoằng dương chánh pháp. Vì thế cần tổ chức hội thảo về chương trình học Pali - giáo lý Phật giáo Nam tông Khmer cũng như hoằng pháp vùng đồng bào dân tộc Khmer.

- Xây dựng cơ sở từ thiện xã hội như: Mở Khóa dạy nghề, Lớp học tình thương, Trường nuôi dạy trẻ mồ côi, Nhà dưỡng lão, Phòng Khám bệnh, xây nhà Đại đoàn kết (nhà tình thương), nhà tình nghĩa... để hỗ trợ và cãi thiện cuộc sống của đồng bào gặp cảnh nghèo khó. Đồng thời tổ chức thuyết giảng giáo lý để họ được thấm nhuần Phật pháp, phát tâm tu tập, đạt tới hạnh phúc an vui ngay trong hiện tại và giải thoát giác ngộ ở tưong lai.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh Trà Vinh

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)

alt 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh Trà Vinh) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:12:59 +0000
LỄ NHẠC PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI MỚI http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6417-le-nhac-phat-giao-viet-nam-trong-thoi-dai-moi.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6417-le-nhac-phat-giao-viet-nam-trong-thoi-dai-moi.html  

Lời mở đầu

Đạo Phật ngoài triết lý cao siêu vi diệu ra còn có cả một kho tàng văn hoá nghệ thuật, trong đó nhạc lễ là một trong những nét nổi bật nhất của văn hoá Phật giáo.

Mặc dù khác nhau về ngôn ngữ nhưng mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều phải học và hiểu như nhau về triết lý cao siêu Đức Phật. Vì để tạo nên một nét riêng biệt, một tính cách không thể lẫn vào đâu của văn hoá Phật giáo mỗi nước chính là nhờ vào nền văn hoá nghệ thuật của nước đó. Điều này cũng khẳng định rằng, văn hoá nghệ thuật giữ một vai trò rất quan trọng trong tôn giáo nói chung và trong Phật giáo nói riêng.

Phật giáo Việt nam suốt chiều dài lịch sử từ khi du nhập đến nay cũng đã khẳng định được điều đó thông qua những tác phẩm nghệ thuật bao gồm nhiều khía cạnh như văn học, kiến trúc, chùa tháp, điêu khắc hội hoạ và âm nhạc nghi lễ.

LỄ NHẠC TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Phật gíao Việt nam có cả một kho tàng âm nhạc nghi lễ ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam cho thấy nền âm nhạc nghi lễ ở nước ta hết sức phong phú về hình thức và đa dạng về chủng loại.

Trong tôn chỉ hoằng pháp độ sanh, các Tổ sư ngày xưa đã biết dùng âm nhạc nghi lễ làm phương tiện dẫn dụ để tiếp cận quần chúng, “nhạc sĩ tải đạo”, các Ngài đã biết sử dụng âm nhạc để chuyển tải chân lý Đức Phật đến với mọi người nhằm mụch đích hướng họ về với một đời sống thánh thiện.

Lễ nhạc Phật giáo là một trong những hình thức nghệ thuật trực tiếp gợi lên cảm xúc và dẫn đến sự đồng cảm. Lễ nhạc được phổ biến rộng rãi trong mọi lĩnh vực sinh hoạt của nhân loại: Ai nhạc khiến lòng người buồn thương, Hoà nhạc khiến tâm người vui vẻ, Quân nhạc khei61n lòng người phấn chấn, Thánh nhạc khiến tinh thần người an tĩnh. Âm nhạc khôngc ó sự ngăn cách giữa nhân và ngã. Âm nhạc là một thứ ngôn ngữ chung của thế giới hữu tình.

Trong Phật giáo, lễ nhạc là một trong sáu món cúng dường. Với âm điệu thiền vị, nhạc khúc du dương, nó có tác dụng rất lớn đối với sự chuyển hoá nhân tâm.

Tìm về nguồn gốc khởi thỉ của lễ nhạc Phật giáo, thì nó được bắt nguồn từ Vệ đà (Veda). Đây là một thứ âm nhạc cổ đại trong văn hoá Ấn Độ. Kinh chép: Đức Thế Tôn cũng thường dùng Dà Đà (kệ tụng) để làm phương tiện hoằng dương Chánh pháp. Đồng thời Ngài cũng cho các Tỳ kheo chuyên chú vào việc đọc kinh (Thanh bái), Luật Thập Tụng chép: thế Tôn khen ngợi Tỳ kheo Bạt Đề rằng: “cho phép ông được trì tụng kinh văn theo cách Dà Đà).

Vì nhạc khúc du dương và giai điệu thanh tịnh có khả năng chuyển hoá lòng người, diễn tấu phạm âm có thể khiến cho vọng niệm tiêu tan, cho nên, khi Phật còn tại thế, sau những buổi thuyết pháp, chhư Thiên thường trỗi nhạc để cúng dường, ca ngợi công đức của tam bảo. Kể từ đó, âm nhạc đã trở thành một nghi thức không thể thiếu trong các pháp hội phật giáo.

Phật giáo Việt Nam vào buổi sơ khai đã được các vị cao Tăng Ấn Độ theo thuyền buôn đặt chân đến Giao Châu truyền đạo, các Ngài đã dạy dân bản xứ biết thắp hương, lễ Phật, đọc lên những kệ tụng quy y theo điệu khúc được gọi là “Phạm bái” phạm là thanh tịnh, bái là tán tụng, ca vịnh. Dần dà những điệu khúc đó được chuyển dịch sang ngôn ngữ tiếng Việt mà người dân Việt quen gọi là “kể hạnh”. Về sau này, các vị cao Tăng như: Khương Tăng Hội (ở Giao Châu), Trúc Pháp Lan, Chư Khiêm, Cưu Ma La Thập (ở Lạc Dương) đã đưa những điệu khúc ca vịnh đó dung hợp thành những làn điệu dân gian để chuyển hoá thành những nét đặc trưng của từng vùng, từng miền và chính thức trở thành một nghi thức hành lễ của Phật giáo.

Như vậy, Phật giáo Việt Nam ở thời kỳ mới du nhập các vị Sư truyền giáo lấyâm nhạc nghi lễ làm phương tiện chính để truyền đạo. Điều này chúng ta có thể thấy được qua tín ngưỡng “tứ pháp” của Phật giáo Việt nam (ở lưu vực sông Hồng) vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Lời kinh tiếng kệ được diễn tấu thành những khúc nhạc du dương, lung linh như khói tar632m, uyển chuyển như tràng phang, an tĩnh như định lực, cao vút như núi tuyết, oai hùng như pháp cổ, giá trị của nó không chỉ dừng lại ở khía cạnh văn thơ, triết lý mà phần quan trọng đáng kể chính là đạo lực thanh tịnh của người tu hành.

BỨC TRANH LỄ NHẠC PHẬT GIÁO VIỆT NAM NGÀY NAY

Âm nhạc của Phật giáo Việt nam ngày xưa đã đạt đến một trình độ thánh thiện, điều đó có thể tìm thấy qua những tư liệu của các vị Tổ để lại. Thế nhưng lễ nhạc của Phật giáo Việt nam ngày nay về hình thức lẫn nội dung quả thật đã thua kém tuền nhân rất xa, nó không còn bộc lộ được nét sống tâm linh siêu việt như lễ nhạc cổ điển thuở trước. Vì lẽ tâm thức của Tăng sĩ trẻ ngày nay đã bị thế tục hoá, ngoại cảnh thì tác động quá nhiều mà định lực thì non kém chưa vững chãi. Hơn nữa Hán văn không còn được chú trọng, nên đọc thì có đọc mà hiểu thì không được bao nhiêu. Như vậy, thì làm sao có thể thâm nhập chân lý ngay khhi chúng ta xướng tụng. Chính vì thế mà vai trò của những người làm công tác nghi lễ ngày nay cần phải biếtt chuyển hoá như thề nào để vừa có thể duy trì lại truyền thống cao đẹp của Thầy Tổ xưa, vừa có thể khế hợp với căn cơ của quần chúng ngày nay.

Chúng tôi thiết nghĩ, muốn thực hiện ước vọng này, Giáo hội phải quan tâm nhiều hơn đến những người có kiến thức uyên thâm về lễ nhạc Phật giáo ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam và phải tạo điều kiện thuận lợi để sưu tầm, khai thác và phát huy cho bộ môn Nhạc lễ ngày nay trở lại đúng vị trí của nó đã từng có vị trí chủ đạo trong quá khứ.

Lễ nhạc cần phải được thiết lập một cách nghiêm chỉnh căn cứ trên truyền thống cũ. Những thanh âm, điệu thức của Thiền gia phải được duy trì và sáng tạo. Việt hoá những văn bản chữ Hán để khế hợp với căn cơ người thời nay (những người khôngc có trình độ Hán Văn).

Còn về nhạc cụ có thể phương tiện dùng bằng chất liệu ngày nay (kỷ thuật mới), phải có sự giao lưu giữa ba miền, tạo điều kiện gặp gỡ thường xuyên giữa các nhà nghiên cứu có kiến thức uyên thâm, kinh nghiệm hành trì về lễ nhạc Phật giáo.

Giáo hội cần phải thành lập một trường chuyên đề về âm nhạc Phật giáo hoặc có thể đưa lễ nhạc Phật giáo thành một môn học chính thức tại các trường Phật Học để các Tăng Ni trẻ có điều kiện tiếp xúc, hầu có những tư tưởng và cái nhìn đúng đắn về vị trí lễ nhạc trong Phật giáo, đồng thời phải đào tạo một đội ngũ lế thừa truyền thống quý báu mà Thầy Tổ đã dầy công xây dựng.

Những buổi lễ truyền thống Phật giáo như tết Nguyên Đán, Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan, các buổi lễ tưởng niệm quý Hoà Thượng hữu công trong Phật giáo, ... phải được sử dụng những nét nhạc cổ điển truyền thống, gạn lọc những nét nhạc ngoại lai, có nên chăng cử xướng dòng nhạc này nơi Điện Phật trong những buổi lễ truyền thống.

Nghi lễ Phật giáo nên phân chia thành hai loại:

1. Nghi lễ truyền thống.

2. Nghi lễ đại chúng.

Nghi lễ truyền thống thì sử dụng đúng những nét nhạc cổ điển của Phật giáo Việt Nam tuỳ theo từng miền.

Nghi lễ đại chúng thì đơn giản hoá, phải thống nhất những văn bản Việt ngữ để mọi người dù Nam – Trung – Bắc xướng tụng mà đại chúng vẫn họa theo được.

Ở đây cần lưu ý một điểm nhỏ là trong nghi lễ đại chúng cần phải biết uyển chuyển sao cho phùh hợp với thời gian và không gian cho phép. Thế nên tiêu đề của Giáo hội đề ra là thống nhất nghi lễ Phật giáo Việt nam, theo chúng tôi thiết nghĩ là thống nhất bản kinh, pháp ngữ, kệ tán để cả ba miền cùng sử dụng chung một nghi thức, một văn bản, một tư liệu. Còn giọng điệu của từng địa phương phải giữ gìn đúng bản sắc để nét nhạc truyền thống của cả ba miền không bị thất truyền, pha tạp.

Thống nhất nghi lễ Phật giáo Việt nam là vấn đề cấp thiết, không chỉ những người làm vai trò nghi lễ mới có trách nhhiệm mà tất cả những Ban ngành khác của Giáo hội đều phải phối hợp đồng đều, quan tâm hỗ trợ để có cùng một cái nhìn nhất quán. Nghi lễ Phật giáo giống như Quốc ca của một dân tộc không thể để những người thiếu hiểu biết đánh giá sai lầm về nghi lễ.

Kết Luận:

LỄ NHẠC PHẬT GIÁO VIỆT NAM CŨNG CHÍNH LÀ VĂN HOÁ CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM Ở MỌI THỜI ĐẠI

Qua những thiển kiến trên, chúng tôi nghĩ rằng khi nói đến âm nhạc Phật giáo là nói đến văn hoá của Phật giáo, vì nó phản ánh được đời sống an lạc, giải thoát của Tăng sĩ. Âm nhạc của Phật giáo Việt Nam có đủ tư cách đề nói lên tinh thần thoát tục, siêu phàm, tuỳ duyên mà bất biến, bất biến mà tuỳ duyên. Đã đến lúc Tăng Ni trẻ Phật giáo Việt nam chúng ta phải bảo tồn những di sản cao quý của Thầy tổ, chớ nên hời hợt, xem thường bảo vật của cha ông, “đừng giống như một bác nông phu kém hiểu biết mà sử dụng một cái thúng cổ đựng lúa cho vịt ăn, trong khi đó những nhà bảo tồn di sản văn hoá thế giới đang ra sức tìm kiếm những cổ vật đó để lưu trữ và nghiên cứu tại các viện bảo tàng” (trích – GS-TS Trần Văn Khê).

Cuối cùng, xin trích dẫn một câu nói của Cổ đức: “Giá biên, na biên ứng dụng bất khuyết” (dù bên sự hay bên lý, tất cả đều là phương tiện để dẫn dụ đưa con người đến với Chánh đạo). Người học Phật phải tuỳ duyên mà ứng dụng, đừngc có cái nhìn phiến diện, tự tôn, cố chấp, để đánh mất những giá trị cao quý mà tiền nhân đã dầy công xây dựng.

 

Thượng toạ Thích Lệ Trang

Phó ban Ban Nghi lể TW GHPGVN

(giaohoiphatgiaovietnam.vn)


alt

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Lệ Trang) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:09:45 +0000
Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội:“Triệu tấm lòng khởi niệm tri ân” http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6416-dai-le-phat-giao-ky-niem-1000-nam-thang-long-ha-noitrieu-tam-long-khoi-niem-tri-an.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6416-dai-le-phat-giao-ky-niem-1000-nam-thang-long-ha-noitrieu-tam-long-khoi-niem-tri-an.html
alt

LTS: Từ ngày 27-7 đến 2-8, tại Hà Nội, Bắc Ninh sẽ đồng loạt diễn ra Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội trên diện rộng. Đây được xem là một trong những đại lễ quy mô, hoành tráng và xứng với lịch sử gắn bó mật thiết giữa Phật giáo và dân tộc trong 1.000 năm hình thành phát triển Thăng Long. Trước thềm sự kiện văn hóa tâm linh lớn này, TT.Thích Bảo Nghiêm (ảnh) - Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.Hà Nội, Trưởng ban Tổ chức cho biết:

 

LTS: Từ ngày 27-7 đến 2-8, tại Hà Nội, Bắc Ninh sẽ đồng loạt diễn ra Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội trên diện rộng. Đây được xem là một trong những đại lễ quy mô, hoành tráng và xứng với lịch sử gắn bó mật thiết giữa Phật giáo và dân tộc trong 1.000 năm hình thành phát triển Thăng Long. Trước thềm sự kiện văn hóa tâm linh lớn này, TT.Thích Bảo Nghiêm (ảnh) - Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.Hà Nội, Trưởng ban Tổ chức cho biết:

 

Để chuẩn bị cho công tác Đại lễ, từ đầu tháng 6-2010, Trung ương Giáo hội đã hình thành cơ cấu Ban Tổ chức với 14 tiểu ban giúp việc. Tất cả các tiểu ban đang thực hiện khẩn trương công việc của mình dưới sự chỉ đạo chung của Ban Tổ chức. Hiện nay chúng tôi đang cho trang trí tại nơi hành lễ chính đó là Hoàng thành Thăng Long với sự hỗ trợ rất tích cực từ các cơ quan chức năng. Các địa điểm còn lại đều đang ráo riết chuẩn bị và mọi thứ rất thuận lợi.

 

Tuy nhiên, chúng tôi cũng đang gặp 2 khó khăn lớn đó là kinh phí và vấn đề truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam cho các buổi lễ. Riêng về vấn đề truyền hình trực tiếp, theo kịch bản ban đầu, sẽ có 2 chương trình được truyền hình trực tiếp là lễ khai mạc vào ngày 28-7 và lễ hội hoa đăng, giao lưu nghệ thuật "Dấu ấn Thăng Long" vào ngày 1-8. Sau đó, đã bị trùng lịch với các chương trình khác nên không thể truyền hình trực tiếp được. Phương án đưa ra là sẽ truyền hình trực tiếp vào ngày 31-7 nhân lễ cầu siêu và phóng đăng cầu quốc thái dân an nhưng vẫn chưa thích hợp nên còn phải xem lại.

 

- Đại lễ được tổ chức với một loạt các chương trình khác nhau, vậy điểm nhấn của Đại lễ là gì, thưa Thượng tọa?

 

- TT.Thích Bảo Nghiêm: Đây là một Đại lễ thể hiện sự tri ân, báo ân của hậu thế đối với các bậc tiền nhân và điểm nhấn là lễ rước long vị của vua Lý Thái Tổ từ đền Đô về chùa Tiêu Sơn bái yết Quốc sư Vạn Hạnh và sau đó rước long vị các vua nhà Lý và Quốc sư Vạn Hạnh về Hoàng thành Thăng Long. Qua đó, BTC muốn nhắc lại những đóng góp tích cực của Phật giáo trong thời gian hưng thịnh của nước nhà và đạo Phật được xem là Quốc giáo. Cũng chính từ tinh thần tri ân mà trong mùa hạ này, Tăng Ni an cư tại các hạ trường của Phật giáo thủ đô được giảng dạy và chuyên trì Lương Hoàng Sám.

 

Cách bài trí tại lễ đài tại Hoàng thành Thăng Long cũng sẽ là một điểm nhấn khi có cả thảy 3 không gian linh thiêng là Đại hùng bửu điện, điện Quốc sư và điện Hoàng đế thể hiện sự gắn kết giữa Phật giáo và lịch sử dân tộc nước nhà. Ở đây sẽ liên tục diễn ra các buổi lễ cầu an, cầu siêu bằng nghi thức của cả 3 miền Bắc, Trung và Nam.

 

- Chân thành cảm ơn Thượng tọa.

 

 

 Bảo Thiên thực hiện

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Bảo Thiên) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:03:31 +0000
Đà Nẵng: Long trọng tổ chức Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6415-da-nang-long-trong-to-chuc-dai-le-phat-giao-ky-niem-1000-nam-thang-long-ha-noi.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6415-da-nang-long-trong-to-chuc-dai-le-phat-giao-ky-niem-1000-nam-thang-long-ha-noi.html (GNO): Sáng 25-7, tại chùa Pháp Lâm, Ban Trị sự Thành hội PG TP. Đà Nẵng đã long trọng tổ chức Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

 

 

 

Tham dự và chứng minh buổi lễ về phía Giáo hội có chư tôn đức: HT. Thích Gíác Viên, Trưởng ban Trị sự Thành hội PG TP. Đà Nẵng; HT. Thích Viên Minh, HT. Thích Minh Tuấn, HT. Thích Chí Mãn cùng chư tôn đức Tăng Ni, đại diện các tự viện, niệm Phật đường trong toàn thành phố cùng hơn 500 Phật tử.

 

Về phía chính quyền có đại diện UBMTTQ TP. Đà Nẵng, Ban Tôn giáo thành phố, các cơ quan, ban ngành liên quan và phường Nam Dương, Phước Ninh thuộc quận Hải Châu cũng đã đến tham dự, gởi lẵng hoa chào mừng.

 

dannnag_02.JPG

 

dannnag_01.JPG

 

dannnag_03.JPG

 

dannnag_04.JPG

 

dannnag_05.JPG

 

TT. Thích Thiện Nguyện, Phó ban Thường trực BTS PG TP. Đà Nẵng phát biểu khai mạc buổi lễ, nêu bật ý nghĩa của truyền thống Phật giáo đồng hành cùng dân tộc từ thuở Thiền sư Vạn Hạnh dày công phò vua giúp nước, cho đến Lý Công Uẩn ban chiếu dời đô. Thời nào Phật giáo Việt Nam cũng phát huy truyền thống “hiếu hòa và giải thoát”, lấy ân báo oán của giáo lý Đức Phật. Bên cạnh những nghi lễ tâm linh, cầu an, cầu siêu hướng tới Tuần lễ Phật giáo với 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Phật tử Đà Nẵng đã có nhiều hoạt động xã hội mang ý nghĩa sâu sắc, làm công tác từ thiện xã hội, triển lãm cổ vật Phật giáo với 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội…

 

dannnag_09.JPG

 

dannnag_08.JPG

 

TT. Thích Thiện Nguyện phát biểu khai mạc

 

Sau khi ôn lại lịch sử hình thành vùng đất thiêng liêng được vua Lý Công Uẩn chọn làm nơi định đô, ôn lại lịch sử các bậc cao tăng đã có công đồng hành cùng các triều đại trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, thông điệp của buổi lễ cũng đã nhắc nhở các Phật tử cần phát huy tốt hơn nữa truyền thống quý báu của Đạo pháp và Dân tộc trong công cuộc đổi mới của đất nước, góp sức mình vào xây dựng các mục tiêu kinh tế, xã hội của địa phương và giữ vững tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái.                                               

 

 

Tin, ảnh Nguyễn Thanh Nam

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Nguyễn Thanh Nam ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 13:00:47 +0000
Niềm mơ ước đã thành sự thật: Thêm một ngôi chùa Việt mọc lên trên đất Cộng hòa Czech http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/50-chua-thap-phat-giao/6414-niem-mo-uoc-da-thanh-su-that-them-mot-ngoi-chua-viet-moc-len-tren-dat-cong-hoa-czech.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/50-chua-thap-phat-giao/6414-niem-mo-uoc-da-thanh-su-that-them-mot-ngoi-chua-viet-moc-len-tren-dat-cong-hoa-czech.html
alt

 

 


Thành phố Cheb thuộc tỉnh Karlovy Vary nằm ở miền Tây Cộng hòa Czech. Cheb có 38.000 dân và bên cạnh còn có 5.000 bà con người Việt hiện đang sinh sống và làm ăn. Thành phố Cheb giáp biên giới với CHLB Đức và đi vào bằng bốn cửa khẩu: Vojtanov, Aš, Pomezí và gần nhất là cửa khẩu Svatý Kříž.

Vùng đất gần cửa khẩu này cũng là trung tâm của châu Âu.

Bà con Việt ta quanh năm buôn bán, chăm lo xây dựng cơ sở vật chất để có một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Tuy vật chất tạm ổn nhưng đời sống tinh thần còn đơn điệu. Đặc biệt là đời sống tâm linh vô cùng thiếu thốn.

Ai cũng tha thiết hướng về quê hương, về đạo Phật - một tôn giáo truyền thống và cổ kính của dân tộc. Những năm gần đây, bà con ở Czech nói chung và Cheb nói riêng được sự quan tâm của Nhà nước và T.Ư Giáo hội Phật giáo Việt Nam, của Đại sứ quán Việt Nam tại CH Czech cùng sự quan tâm của T.Ư Hội Phật tử VN tại CH Czech.

Vì vậy hàng năm có các đoàn của T.Ư Giáo hội Phật giáo Việt Nam sang chăm lo cho đời sống tâm linh của cộng đồng.

Đã từ lâu, Phật tử và bà con yêu mến đạo Phật ở TP.Cheb và các vùng lân cận khát khao có được mảnh đất thuộc sở hữu của người Việt Nam để xây dựng lên đó một ngôi chùa cho cộng đồng chúng ta có nơi thờ cúng, là chỗ dựa tâm linh.

Thì bây giờ hiện hữu ngay trước mắt mọi người một ngôi chùa đang được ngày đêm hình thành bởi tâm lực, vật lực, tài lực của biết bao con tim và khối óc. Ôi! Phải chăng đây cũng là nhờ nhân duyên phật pháp và nhờ các yếu tố tâm linh được hội tụ đầy đủ.

Chùa được mang tên GIÁC ĐẠO. Giác là khai tâm, khai trí. Đạo là đạo Phật – đạo Phật là một tôn giáo của tình thương và trí tuệ, lấy từ bi làm chất liệu xây dựng lên cuộc sống, lấy giác ngộ làm ngọn đèn soi sáng hướng đi. Đức Phật là bậc tối thượng chánh đẳng chánh giác.

Trong khuôn viên chùa Giác Đạo trang nghiêm pho tượng mẹ hiền Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. Mẹ che chở ôm ấp những ngưởi con của đất Việt tần tảo chịu khó một nắng hai sương. Các con của Mẹ kinh doanh để vừa tạo kinh tế cho mình, vừa tạo cho nước nhà - thật là dân có giàu thì nước mới mạnh.

Trong những lúc công việc làm ăn rất khó khăn, trước sự suy thoái của toàn cầu, có một đại thí chủ đã cung tiến toàn bộ khuôn viên 2.400 mét vuông đất để dựng lên ngôi chùa không những cho thế hệ này, mà còn cho nhiều thế hệ mai sau của cộng đồng.

Phải chăng vì nhớ ông cha ta có câu «Xây chùa, tạc tượng, đúc chuông Trong ba việc đó thập phương nên làm » nên thí chủ Trần Văn Đang và phu nhân - Tổng Giám đốc Trung tâm Thương mại AsiaDragon Svatý Kříž – Cheb đã phát tâm công đức?

Đây cũng là trung tâm thuơng mại rất mạnh, có đông người Việt Nam đang sống và kinh doanh. Một lòng tâm thành - giữa lúc trung tâm thương mại đang vào mùa, ông bà Tổng Giám đốc đã gác mọi công việc, gửi các con thơ ở lại để cùng bay về TP.Hồ Chí Minh nhờ quý thầy tư vấn, tạc tượng Phật, đúc chuông, làm mõ cho chùa.

Khi biết tin ông bà Tổng Giám đốc cung tiến đất và xây dựng chùa cho cộng đồng, thì như truyền thống ở quê hương ta «Con giàu một bó, con khó một nén» hay «Một nén cũng thơm, một tiền cũng quý», rất nhiều bà con cô bác, anh chị cùng các tổ chức Hội Phật tử, Hội Người VN, Hội Phụ nữ VN, Hội Văn học Nghệ thuật, Trường Mầm non Sen Việt, các công ty xa gần, từ Cheb, Praha tới Plzen và nhiều thành phố khác trên toàn CH Czech đều xin được cùng đóng góp.

Ông bà Tổng Giám đốc cùng các Phật tử đã viết thư thỉnh nguyện Đại đức Thích Trí Chơn làm trụ trì chùa Giác Đạo. Và ngưòi thầy luôn đến với đất Cheb bao năm đã hoan hỷ nhận lời. Vậy là bà con ta, chùa ta sẽ lại có bóng dáng người thầy thân kính.

Cách đây năm năm, Đại đức Thích Trí Chơn, Cố vấn Hội Phật tử Việt Nam tại CH Czech đã đến với đất Cheb. Bằng đạo hạnh và tâm đức sâu dày, thầy đã kiên trì lặng lẽ gây dựng, dìu dắt Chi hội Phật tử Việt Nam tại TP.Cheb và các vùng lân cận. Thầy không nề hà đường sá đêm hôm, trời tuyết lạnh lẽo, tới thuyết pháp cầu kinh tại những văn phòng nhỏ hẹp, tại cả những quán ăn đơn sơ nơi biên giới xa xôi này. Những ngày đó đạo Phật còn khá xa lạ với bà con. Có những buổi tối chỉ thưa thớt vài chục người nghe, thầy vẫn thản nhiên ân cần chia sẻ với bà con, vẫn ấm áp chuông mõ, vẫn ngân nga lời kinh. Và lòng từ bi, đức hy sinh vì chúng sinh của vị thầy đã tự lúc nào lay chuyển được tâm đạo nơi bà con ta. Nhờ đâu mỗi cuộc lễ tại đất Cheb ngày nay có hàng nhiều trăm người hỷ hả, có cờ Phật tung bay, có ngàn hoa rực rỡ, đèn nến lung linh? Nhờ đâu đạo Phật tới được với bao gia đình đất Cheb, nhờ đâu thành phố ta đã có niệm Phật đường An Lạc ấm cúng nay lại thêm chùa Giác Đạo khang trang? Con đường chúng ta đang đi tới Đạo thênh thang, ai mà làm sao quên được người cặm cụi dọn cỏ, lát đá những ngày đầu? Làm sao quên tri ân người thầy đã lặng thầm bao ngày tháng gieo mầm Phật pháp nơi đây?

Trong những ngày này, công việc thi công cho kịp lễ khánh thành chùa ngày càng khẩn trương. Trên công trường rộn rã tiếng cưa, tiếng búa, tiếng người cười nói rộn ràng. Ngôi chùa sẽ được khánh thành vào dịp Đại lễ Vu Lan - mùa Báo hiếu. Ngoài những ý nghĩa lớn lao đã có, chùa Giác Đạo khánh thành còn trùng vào dịp cả nước đang hướng về Đại lễ Nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, vào dịp lần đầu tiên chúng ta tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo Thế giới tại Việt Nam.

 

 

Bài và ảnh Pháp Đức Nguyễn Khắc Toàn (vietmedia)

 

 

 

 

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Pháp Đức Nguyễn Khắc Toàn ) frontpage Mon, 26 Jul 2010 12:58:02 +0000
Rừng http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6413-rung.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6413-rung.html  

altThuở ban đầu, rừng gầy guột, thân cổ thụ già không đủ sức đứng vững khi có gió lùa. Từng nhánh gãy đổ, tàn cây cứ mục dần theo sương bụi. Vào hạ, cây ốm yếu, màu lá không tươi, dưỡng chất trong lòng đất cứ cạn kiệt dần.

 

Suốt mấy năm, trời không ban nỗi hạt mưa. Chỉ có cái nắng và gió làm cho lá rừng mau chuyển màu tàn, xào xạt. Cô đơn, rừng chỉ biết bầu bạn với sương mù phủ dầy gốc núi. Chiều tàn, rừng nằm nghe tiếng cồng chiên của thổ dân rền rĩ tế thần. Thỉnh thoảng vài tia chớp lóe theo cơn giông xé toan màn đêm, rồi vụt tắt. Rừng chìm sâu vào vũng tối. Không cánh chim, không dấu chân một giống loài nào, chỉ có ghềnh đá trơ gan cùng năm tháng, nằm yên bên khe suối.

 

Ngày mới đã đến. Một ngày rất khác những ngày qua. Bốn phương mây tụ hội, mây hóa thành mưa cho rừng tắm gội, thỏa lòng khát khao. Mưa thấm vào lòng đất, tuôn ra thành suối, rừng sinh sôi nhiều giống cây lành, hoa đơm trái ngọt. Rừng trở nên thơm!

 

Không hương gỗ chiên đàn, không hương sala, không hương trầm mà rừng vẫn đậm hương. Rừng gởi hương cho gió, gió mang hương đi về miền xa lơ xa lắc, đến gốc biển chân trời. Muôn thú gọi bầy, muôn chim gọi đàn theo hương tìm rừng trú ngụ. Chim hát ca bên suối khi khí trời nóng bức, rừng mở lối cho suối uốn quanh, đưa hương theo sông về đồng, góp chất phù sa.

 

Buổi sáng nắng lên, cũng là mặt trời với bao nhiêu nhiệt lượng, nhưng cái nắng hòa vào sương muối làm da sạm màu. Phía đông, vầng hào quang muôn sắc xóa tan lớp lớp sương mờ, đọng lại đầu ngọn lá vài hạt sương trong tựa pha lê. Cỏ non chen rừng xanh như trãi thảm, hoa chen đá lấm tấm vàng. Cánh ong, cánh bướm, cánh chim nhởn nhơ rong chơi. Rừng tươi tắn trong tà áo xanh rộng mênh mông.

 

Mưa đến buổi chiều, nước từ trời cao dội vào lòng đất nhuần thấm khắp tế bào cỏ cây, rêu đá. Đã qua bao nhiêu tuổi đời, chưa lần nào rừng được vui đến vậy! Nước nguồn xuôi cuồn cuộn thành thác sâu, chảy ra sông hòa vào biển lớn. Có lúc thiên nhiên trở mình hờn dỗi, mưa dầm áp thấp, song cửa lắc lư khung trời, tần thượng nước tuôn xoáy vào nền đất, làm vỡ tan bong bóng nước hiện hình. Dưới thung lũng xa, rừng âm thầm chịu đựng sức lũ, cuốn trôi tất cả những gì có mặt hai bên bờ.

 

Không chỉ nắng mưa, bóng đêm về với rừng lúc mặt trời nấp sau lưng núi. Không gian ngả màu chiều, tia nắng cuối ngày mờ dần, rừng ẩn hiện trong sương. Tiếng dế, tiếng giun tấu điệu khèn miền sơn dã. Hương núi len theo dòng mây trắng, cuộn cuộn và lặng yên, rừng choàng áo sương bạc, nhìn ra xa chẳng thấy được gì phía trước. Không thấy, nhưng vẫn được nghe tiếng suối thì thầm. Đêm càng lắng, suối hát càng trong:

 

Dế giun rên mỏi lại ngừng

Đèn tàn muốn tắt lại bừng sáng ra

Cách song đêm biết mưa sa

Tiếng nghe lộp bộp như là tàu tiêu *

 

Quạ vàng khuất núi, thỏ ngọc mỉm cười rạng rỡ thái không - trăng lưỡi trai, trăng lá lúa, trăng mười sáu. Trăng non rồi trăng già, rừng non rồi rừng già, nhưng nét tinh khôi không biến chuyển. Trăng khuya, rừng hiện ra như trang kinh huyền thoại. Trăng soi rừng như soi từng lời vàng không chữ. Trăng soi dáng người ngồi bất động, trăng soi bước chân đi về phương trời cao rộng và soi tỏ lòng ai còn vương vấn, buồn phiền.

 

Nhưng tất cả mọi hiện tượng trong thế gian như đóa phù dung. Tỉnh giấc kê vàng, rừng biểu hiện để rồi ẩn tàng tựa bong bóng nước trong mưa. Lúc đất trời nổi gió bụi, rừng bình thản trước cảnh quan san, nhuộm thu phong nhưng không vương nét muộn phiền.

 

Đàn chim trước cơn biến động cất tiếng kêu báo tin mùa bão. Những chú chim non đứng suốt đêm trong mưa giông, cánh ướt mềm chưa thể bay xa, đành tạm nép mình vào tàn cổ thụ. Tổ ấm chim đan bằng lá xanh không còn thấy nữa! Mây xám xịt phóng tia chớp bén như đao đánh phá chim đàn. Rừng bị cắt chia từng mảnh nhỏ. Sấm phẩn nộ cuồng si nổ rền trời đất. Thăm thẳm hang sâu, loài rắn dữ dùng phép tinh lấp nguồn bít lối, xua đuổi chim đi, đoạt lấy rừng.

 

Muôn cây xơ xác, rừng trơ trọi lá khô mà hương thơm đậm đà hơn trước. Chất thiêng của rừng là bất diệt, rừng đẹp mà không chỉ khi hiện hữu. Rừng mãi đẹp dù có biến thành đóng tro tàn. Gốc núi, ánh đèn khuya chờn vờn bóng người hoang dã nhảy múa cùng rắn tinh trong tiệc liên hoan, bên ché rượu cần. Tiếng cồng chiên tế thần ngày nào chợt rền rĩ trong đêm sâu heo hút.

 

Chim bay xa, lúc nhớ rừng cũng ngậm ngùi, vì thương chốn cũ. Chim nhớ đồng xanh, nhớ suối trong, nhớ những con đường mòn thân thương, gần gũi. Ánh trăng vẫn lung linh như thuở nào, chiếu sắc vàng soi nẻo tối, đường quê. Nhưng biết đến bao giờ quê xưa không còn bóng người hoang dã?

 

Gỗ đá không vô tình, cây lá không vô tâm, rừng in sâu vết hằng hiện tượng mà tinh chất vẫn nuôi dưỡng sự sống đến ngàn đời. Chim không lẻ loi, chim theo đàn vỗ cánh cao vút tầng xanh. Chim bay thành một đàn dài trông như mây. Sông nước in bóng nguyệt, in bóng mây, in bóng quê hương trên nền trời trong vắt. Tiếng hát của chim mang theo hương rừng đi vào thái không, vang xa, xa mãi….

Chợt nhớ lời người ngàn năm trước.

 

Tịch diệt chẳng ưa thích

Mà sự sống cũng không

Chẳng hy cầu tham luyến

Chẳng trái ý nghịch lòng

Còn duyên thời thì ở

Hết duyên thời thì đi

Không, vô tướng, vô tác

Tùy hữu vi, vô vi.**

 

Jakarta - ngày 22.7. 2010
Quảng Kim

 

* Thơ Bạch Cư Dị, Tản Đà dịch

** Kinh Na Tiên Tỳ Kheo.

http://phusaonline.free.fr/

Quảng Kim

altThuở ban đầu, rừng gầy guột, thân cổ thụ già không đủ sức đứng vững khi có gió lùa. Từng nhánh gãy đổ, tàn cây cứ mục dần theo sương bụi. Vào hạ, cây ốm yếu, màu lá không tươi, dưỡng chất trong lòng đất cứ cạn kiệt dần.

 

Suốt mấy năm, trời không ban nỗi hạt mưa. Chỉ có cái nắng và gió làm cho lá rừng mau chuyển màu tàn, xào xạt. Cô đơn, rừng chỉ biết bầu bạn với sương mù phủ dầy gốc núi. Chiều tàn, rừng nằm nghe tiếng cồng chiên của thổ dân rền rĩ tế thần. Thỉnh thoảng vài tia chớp lóe theo cơn giông xé toan màn đêm, rồi vụt tắt. Rừng chìm sâu vào vũng tối. Không cánh chim, không dấu chân một giống loài nào, chỉ có ghềnh đá trơ gan cùng năm tháng, nằm yên bên khe suối.

 

Ngày mới đã đến. Một ngày rất khác những ngày qua. Bốn phương mây tụ hội, mây hóa thành mưa cho rừng tắm gội, thỏa lòng khát khao. Mưa thấm vào lòng đất, tuôn ra thành suối, rừng sinh sôi nhiều giống cây lành, hoa đơm trái ngọt. Rừng trở nên thơm!

 

Không hương gỗ chiên đàn, không hương sala, không hương trầm mà rừng vẫn đậm hương. Rừng gởi hương cho gió, gió mang hương đi về miền xa lơ xa lắc, đến gốc biển chân trời. Muôn thú gọi bầy, muôn chim gọi đàn theo hương tìm rừng trú ngụ. Chim hát ca bên suối khi khí trời nóng bức, rừng mở lối cho suối uốn quanh, đưa hương theo sông về đồng, góp chất phù sa.

 

Buổi sáng nắng lên, cũng là mặt trời với bao nhiêu nhiệt lượng, nhưng cái nắng hòa vào sương muối làm da sạm màu. Phía đông, vầng hào quang muôn sắc xóa tan lớp lớp sương mờ, đọng lại đầu ngọn lá vài hạt sương trong tựa pha lê. Cỏ non chen rừng xanh như trãi thảm, hoa chen đá lấm tấm vàng. Cánh ong, cánh bướm, cánh chim nhởn nhơ rong chơi. Rừng tươi tắn trong tà áo xanh rộng mênh mông.

 

Mưa đến buổi chiều, nước từ trời cao dội vào lòng đất nhuần thấm khắp tế bào cỏ cây, rêu đá. Đã qua bao nhiêu tuổi đời, chưa lần nào rừng được vui đến vậy! Nước nguồn xuôi cuồn cuộn thành thác sâu, chảy ra sông hòa vào biển lớn. Có lúc thiên nhiên trở mình hờn dỗi, mưa dầm áp thấp, song cửa lắc lư khung trời, tần thượng nước tuôn xoáy vào nền đất, làm vỡ tan bong bóng nước hiện hình. Dưới thung lũng xa, rừng âm thầm chịu đựng sức lũ, cuốn trôi tất cả những gì có mặt hai bên bờ.

 

Không chỉ nắng mưa, bóng đêm về với rừng lúc mặt trời nấp sau lưng núi. Không gian ngả màu chiều, tia nắng cuối ngày mờ dần, rừng ẩn hiện trong sương. Tiếng dế, tiếng giun tấu điệu khèn miền sơn dã. Hương núi len theo dòng mây trắng, cuộn cuộn và lặng yên, rừng choàng áo sương bạc, nhìn ra xa chẳng thấy được gì phía trước. Không thấy, nhưng vẫn được nghe tiếng suối thì thầm. Đêm càng lắng, suối hát càng trong:

 

Dế giun rên mỏi lại ngừng

Đèn tàn muốn tắt lại bừng sáng ra

Cách song đêm biết mưa sa

Tiếng nghe lộp bộp như là tàu tiêu *

 

Quạ vàng khuất núi, thỏ ngọc mỉm cười rạng rỡ thái không - trăng lưỡi trai, trăng lá lúa, trăng mười sáu. Trăng non rồi trăng già, rừng non rồi rừng già, nhưng nét tinh khôi không biến chuyển. Trăng khuya, rừng hiện ra như trang kinh huyền thoại. Trăng soi rừng như soi từng lời vàng không chữ. Trăng soi dáng người ngồi bất động, trăng soi bước chân đi về phương trời cao rộng và soi tỏ lòng ai còn vương vấn, buồn phiền.

 

Nhưng tất cả mọi hiện tượng trong thế gian như đóa phù dung. Tỉnh giấc kê vàng, rừng biểu hiện để rồi ẩn tàng tựa bong bóng nước trong mưa. Lúc đất trời nổi gió bụi, rừng bình thản trước cảnh quan san, nhuộm thu phong nhưng không vương nét muộn phiền.

 

Đàn chim trước cơn biến động cất tiếng kêu báo tin mùa bão. Những chú chim non đứng suốt đêm trong mưa giông, cánh ướt mềm chưa thể bay xa, đành tạm nép mình vào tàn cổ thụ. Tổ ấm chim đan bằng lá xanh không còn thấy nữa! Mây xám xịt phóng tia chớp bén như đao đánh phá chim đàn. Rừng bị cắt chia từng mảnh nhỏ. Sấm phẩn nộ cuồng si nổ rền trời đất. Thăm thẳm hang sâu, loài rắn dữ dùng phép tinh lấp nguồn bít lối, xua đuổi chim đi, đoạt lấy rừng.

 

Muôn cây xơ xác, rừng trơ trọi lá khô mà hương thơm đậm đà hơn trước. Chất thiêng của rừng là bất diệt, rừng đẹp mà không chỉ khi hiện hữu. Rừng mãi đẹp dù có biến thành đóng tro tàn. Gốc núi, ánh đèn khuya chờn vờn bóng người hoang dã nhảy múa cùng rắn tinh trong tiệc liên hoan, bên ché rượu cần. Tiếng cồng chiên tế thần ngày nào chợt rền rĩ trong đêm sâu heo hút.

 

Chim bay xa, lúc nhớ rừng cũng ngậm ngùi, vì thương chốn cũ. Chim nhớ đồng xanh, nhớ suối trong, nhớ những con đường mòn thân thương, gần gũi. Ánh trăng vẫn lung linh như thuở nào, chiếu sắc vàng soi nẻo tối, đường quê. Nhưng biết đến bao giờ quê xưa không còn bóng người hoang dã?

 

Gỗ đá không vô tình, cây lá không vô tâm, rừng in sâu vết hằng hiện tượng mà tinh chất vẫn nuôi dưỡng sự sống đến ngàn đời. Chim không lẻ loi, chim theo đàn vỗ cánh cao vút tầng xanh. Chim bay thành một đàn dài trông như mây. Sông nước in bóng nguyệt, in bóng mây, in bóng quê hương trên nền trời trong vắt. Tiếng hát của chim mang theo hương rừng đi vào thái không, vang xa, xa mãi….

Chợt nhớ lời người ngàn năm trước.

                                  

Tịch diệt chẳng ưa thích

Mà sự sống cũng không

Chẳng hy cầu tham luyến

Chẳng trái ý nghịch lòng

Còn duyên thời thì ở

Hết duyên thời thì đi

Không, vô tướng, vô tác

Tùy hữu vi, vô vi.**

                                                                      

Jakarta - ngày 22.7. 2010
Quảng Kim

 

* Thơ Bạch Cư Dị, Tản Đà dịch

** Kinh Na Tiên Tỳ Kheo.

]]>
tcanhco@yahoo.com (Quảng Kim) frontpage Sat, 24 Jul 2010 00:36:54 +0000
Những Nét Đặc Sắc Phật Giáo Thời Lý http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/phat-giao-viet-nam/6412-nhung-net-dac-sac-phat-giao-thoi-ly.html http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/phat-giao-viet-nam/6412-nhung-net-dac-sac-phat-giao-thoi-ly.html  

Trong suốt chặng đường hai ngàn năm hiện hữu trên đất Việt, đạo Phật đã hoà chung cùng bước thăng trầm lịch sử dân tộc. Tinh thần phóng khoáng, siêu việt giáo lý Phật được các bậc Tổ đức Thiền Sư kết hợp với bản sắc văn hoá cổ truyền yêu cuộc sống quê hương đất nước của nhân dân Việt Nam. Trong trang sử vàng đó phải kể đến thời kỳ “hoàng kim” Phật giáo thời Lý.


Dưới triều đại Lý, cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược (1075-1077) đã kết thúc thắng lợi. Nho giáo đang có những tác động cố vươn lên chiếm địa vị tư tưởng quần chúng, nhưng uy tín của Phật giáo không vì thế mà kém sút, ngược lại đã phát triển tới đỉnh cao bởi lòng sùng kính của các vị Vua anh minh với sự đóng góp trí tuệ vào công cuộc xây dựng đất nước của các Thiền Sư, Quốc Sư.

Các Vua Nhà Lý Sùng Kính Phật Giáo

1. Lý Thái Tổ (974-1028)

Vua tên húy Công Uẩn miếu hiệu Thái Tổ, sinh ngày 12/02 Giáp Tuất (08/03/974) mất ngày 03/03 Mậu Thìn (31/03/1028) thọ 55 tuổi, vốn xuất thân từ chốn Thiền môn, được Quốc Sư Vạn Hạnh giúp đỡ làm quan triều Lê tới chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Ông là người thông minh nhân ái, có chí lớn lập được nhiều chiến công, năm 35 tuổi (15/03/1009) được tôn là Vua khai sinh vương triều Lý, đổi niên hiệu Thuận Thiên, dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Ngay khi lên ngôi đã có chính sách rất trọng đãi Phật giáo: ban phẩm phục cho Tăng Ni, xây dựng 8 ngôi Chùa mới: Chùa Hưng Thiên Ngự, Vạn Tuế, Thắng Nghiêm, Thiên Vương Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ, Thiên Quang, Thiên Đức.

Năm 1014, Tăng thống Thẩm Văn Uyển lập giới đàn ở Chùa Vạn Tuế.

Năm 1016, độ một ngàn dân kinh đô Thăng Long xuất gia

Năm 1019, lại một lần nữa độ dân làm Tăng sĩ, cũng năm này sai sứ thần Phạm Hạc và Đạo Thanh qua Trung Quốc thỉnh Đại tạng.

Năm 1024, lập Chùa Chân Giáo.

Năm 1026, Vua sắc lệnh đúc chuông Chùa Hưng Thiên, Đại Giáo, Thắng Nghiêm.

2. Lý Thái Tôn (1000-1054)

Vua húy Phật Mã, còn có tên là Đức Chính, con trưởng Thái Tổ, sinh 26/06 Canh Tý (29/07/1000), mất 01/10 Giáp Ngọ (03/11/1054) thọ 55 tuổi, được đăng quang nối ngôi Thái Tổ từ 1028-1054, làm Vua 27 năm, trị vì trong giai đoạn thịnh trị; là người nhân từ, sùng kính đạo Phật, chú ý đến đời sống nhân dân, coi trọng việc mở mang kinh tế. Khi Thái Tổ lên ngôi, được phong là “Khai Thiên Đại Vương.” Dưới thời Vua soạn bộ “Kinh thư” làm nền tảng pháp luật triều đình, thơ “Truy tán Thiền Sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi”, bài kệ “Thị chư Thiền Lão tham vấn Thiền Thiền chỉ.”

Tháng 8 Thiên Thành thứ 4 (1031), chiến thắng Chiêm Thành, sắc lập dựng 95 ngôi Chùa để tạ ân, miễn thuế cho dân một năm.

Năm 1034, đổi niên hiệu Thông Thuỵ, dựng thêm tàng Kinh Trùng Hưng, thỉnh Đại Tạng Kinh (lần thứ 3 nước Việt thỉnh Đại tạng ở Trung Hoa)

Năm 1036, chép sao Đại tạng để ở kho Trùng Hưng.

Năm 1049, sắc dựng Chùa Diên Hựu và Nhất Trụ theo thế hoa sen. Vua Thái Tông là đệ tử đắc pháp của Thiền Lão (đời thứ 7 phái Vô Ngôn Thông)

3. Lý Thánh Tông (1023-1072)

Vua húy Nhật Tôn, là con trưởng Thái Tông, sinh ngày 25/02 Quý Hợi (19/03/1023), mất ngày Canh Dần Tháng giêng năm Nhâm Tý (tháng 02/1072), thọ 50 tuổi, làm Vua 18 năm; là Vua thông minh nhân từ, chủ trương khoan giảm luật hình, coi nhẹ nghề nông, mở mang việc học, là người đầu tiên xây dựng văn miếu, mở khoa thi, sùng kính đạo Phật. Bài “Cố Động Thiên công chúa, vị ngục lại” (nhìn công chúa Động Thiên, bảo lính ngục) và bài “gặp tiết đại hàn bảo các quan tả hữu” là những bản chiếu chỉ mang tính nhân đức từ bi của Vua.

Năm 1056, lập Chùa Sùng Khánh, xây “Tư Thiên Báo Thắng Tháp” gọi tắt là Tháp Báo Thiên, 12 tầng (1 trong 4 kỳ quan Phật giáo nhà Lý): Tháp Báo Thiên, Chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm, Vạc Phổ Minh.

Năm 1057, tạc tượng Di Đà ở Tiên Du.

Năm 1058, xây Tháp Tường Long ở Đồ Sơn, Hải Phòng.

Năm 1069, tôn vinh Thiền Sư Thảo Đường làm Quốc Sư, lập Thiền phái Thảo Đường ở Việt Nam tại Chùa Khai Quốc (Trấn Quốc). Vua là thế hệ thứ 2 dòng Thiền này.

Năm 1070, lập văn miếu ở Thăng Long, dựng Chùa Nhị Thiên Vương.

Năm 1071, viết chữ “Phật” ở núi Tiên Du cao 1 trượng 6 thước.

4. Lý Nhân Tông (1066-1128)

Vua húy Càn Đức, con trưởng Thánh Tông và Nguyên Phi Ỷ Lan, sinh 25/01 Bính Ngọ (23/02/1066), mất tháng 12 Đinh Mùi (từ 4 đến 31/01/1027), thọ 62 tuổi, tức vị 56 năm (1072-1128). Ông là vị Vua kiệm ước, nhân ái và có tài. Lê Quý Đôn viết về Vua: “xứng đáng là vị anh quân đời Lý”; được các bề tôi giúp đỡ, nhân dân ủng hộ, dẹp tan âm mưu xâm lược của quân Tống, quan tâm đến công việc nhà nông, xuống chiếu cấm giết trâu bò; đối với văn học lập Quốc Tử Giám, mở khoa thi Tam trường. Vua rất sùng kính Phật giáo, là tác giả bài truy tán Thiền Sư Vạn Hạnh; truy tán Thiền Sư Sùng Phạm, tán Giác Hải Thiền Sư, Thông Huyền đạo nhân. Trước lúc băng hà Vua để lại “Lâm chung di chiếu” mang tính nhân từ, kiệm ước, khiêm cung của một hoàng đế Phật tử.

Năm 1081, sai sứ Lương Dụng Luật qua Tống thỉnh Kinh.

Năm 1086, dựng Chùa Lâm Sơn, xây dựng Tháp đá tại Quế Dương (Bắc Ninh)

Năm 1098, sai sứ nguyễn Văn Tính qua Tống thỉnh Kinh.

Năm 1105, dựng 3 Tháp đá ở Chùa Lâm Sơn.

Năm 1112, khánh thành Tháp Sùng Thiện Diên Linh ở Đại Sơn (Hà Nam)

Năm 1114, dựng lầu Thiên Phật.

Năm 1118, Vua Chiêm Thành và Chân Lạp sai sứ mang lễ vật đến triều cống, Vua mở hội lễ Phật lớn.

Ngoài 4 vị tiên đế, các vị Vua sau như Thần Tôn, Anh Tôn, Cao Tôn, Huệ Tôn cũng rất sùng kính Phật. Vua Lý Huệ Tôn năm 1224 truyền ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, xuất gia tại Chùa Chân Giáo với pháp danh Huệ Quang Đại Sư.

Chính Trị, Văn Hoá, Thẩm Mỹ, Chùa Chiền, Kinh Điển, Phật Giáo Thời Lý

Các Thiền Sư Vạn Hạnh, Thiền Sư Tăng Thống Huệ Sinh, Đạo Hạnh, Quốc Sư Minh Không, Chân Không, Viên Thông thuộc phái Tỳ Ni Đà Lưu Chi; Quốc Sư Thông Biện, Mãn Giác, Ngộ Ân, Không Lộ, phái Vô Ngôn Thông là những người tham gia đóng góp vào việc chính trị, cố vấn cho Vua trong việc yên xã tắc, an dân.

Văn Hoá

Các Thiền Sư là những người có Nho học, giỏi Giáo lý, thông suốt Y, Toán, nên đã mở trường dạy học không những đào tạo Tăng tài mà cả dạy cư sĩ và đào tạo nhân tài cho đất nước, như Vạn Hạnh Thiền Sư đào tạo nên Lý Công Uẩn, Trí Thiền Sư đào tạo nên Thái úy Tô Hiến Thành, Ngô Nghĩa Hoà.

Các Thiền Sư sáng tác nhiều thi ca, kệ. Di ý các ngài còn lưu dấu tại nhiều văn bia:

Bia Sùng Nghiêm Diên Thánh ở làng Duy Tĩnh, dựng năm 1110, do Thiền Sư Pháp Bảo (Hải Chiếu) soạn.

Bia Tháp Sùng Thiện Diên Linh, núi Long Đội, dựng năm 1121 do Mai Bật soạn.

Bia Chùa Hương Nghiêm, núi Càn Nê, làng Phủ Lý, dựng năm 1124, không biết ai soạn.

Bia Chùa Linh Xứng, núi Ngưỡng Sơn, làng Thọ Xá, dựng năm 1126, do Thiền Sư Pháp Bảo (Hải Chiếu) soạn.

Bài minh quả chuông Chùa Thiền Phúc trên núi Phật Tích do Thiền Sư Huệ Hưng soạn năm 1109.

Bài minh trên bia Tháp Hội Thánh ở núi Ngạc Già, do Thiền Sư Lê Kim soạn năm 1092.

Bài văn bia Tháp Lăng Già do Thiền Sư Lê Kim soạn năm 1092.

Bài minh quả chuông và bài văn bia của Chùa Viên Quan, do Thiền Sư Dĩnh Đạt soạn năm 1122.

Bài văn bia Chùa Diên Phúc, thôn Cổ Việt, do Nguyễn Diệm soạn năm 1121.

Mỹ Thuật

Phật giáo nhà lý kiến tạo nhiều công trình mỹ thuật, trở thành danh thắng nổi tiếng:

Năm 1049, dựng Chùa Một Cột.

Năm 1056, dựng Chùa Sùng Khánh. Tháp Bảo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng Quỳnh Lâm (An Lam Tứ đại khí) 4 kỳ quan của nước Nam.

Năm 1057, dựng Tháp Tường Long (Đồ Sơn, Hải Phòng).

Tăng Sĩ, Tự Viện, Kinh Điển, Ruộng Đất.

Nhà Lý nhiều lần độ dân xuất gia làm Tăng.

Năm 1014, Tăng thống Thẩm Văn Uyển lập giới đàn ở Chùa Vạn Thọ

Năm 1016, có 1000 người ở kinh đô xuất gia.

Năm 1019, lại lập giới đàn.

Năm 1034, độ dân làm Sư Tăng.

Năm 1179, Vua khảo hạch Tăng quan.

Nhà Lý vẫn giữ hệ thống quan chức Phật giáo nhà Đinh Lê: Tăng thống, Tăng lục, nhưng lại chia tả nhai Tăng thống, hữu nhai Tăng thống; tả, hữu nhai Tăng lục.

Triều Lý xây dựng nhiều Chùa, chia 3 loại: đại danh lam, trung và tiểu danh lam.

Kinh điển: Triều Lý lần cho 3 sứ sang Trung Hoa thỉnh đại tạng; 2 lần sao chép Đại tạng (1023 và 1027).

Năm 1020, Nguyễn Đạo Thành, Phạm Hạc qua Trung Hoa thỉnh Kinh Vua sai, Sư Phổ Trí đi đón.

Năm 1081, Vua sai Lương Dụng Luật sang Tống thỉnh Đại tạng.

Năm 1098, lại thỉnh thêm Đại tạng.

Ruộng đất, tài sản: Chùa nhiều ruộng do Vua quan tiến cúng như Chùa Long Đọi (Hà Nam), có hàng ngàn mẫu ruộng ở Cẩm Giàng, Hải Dương. Trong Chùa có “điền nô” hoặc phát canh thu tô.

Hiệu Đính Hành Trạng Quốc Sư Minh Không Và Thiền Sư Không Lộ

Thiền Sư Không Lộ: Sư họ Dương húy Minh Nghiêm, đạo hiệu Không Lộ, sinh 14/09 Bính Thìn niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 (1016) tại Vĩnh Lại, Hải Dương (quê ngoại), mẹ họ Nguyễn; trước theo gia đình làm nghề chài lưới, sau xuất gia kết huynh đệ với Thiền Sư Từ Đạo Hạnh và Giác Hải. Sư tạo nên “An nam tứ đại khí”, trụ trì Chùa Nghiêm Quang huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, tịch ngày 03/06 Giáp Tuất niên hiệu Hội Phong thứ 3 (1094) triều Lý Nhân Tông, Sư thọ 79 tuổi.

Quốc Sư Minh Không họ Nguyễn húy Chí Thành, đạo hiệu Minh Không, sinh ngày 14/08 Bính Ngọ (1066) niên hiệu Long Chương Thiên Tự thứ nhất (1016) triều Thánh Tông, tại làng Điếm Xá phủ Trường Yên (nay là Điềm Xá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), đệ tử đắc pháp của Thiền Sư Từ Đạo Hạnh thuộc đời thứ 12 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi.

Năm 1136, chữa cho Vua khỏi bệnh, thần Tông phong ngài chức Quốc Sư. Ngài tịch 01/08 Tân Dậu niên hiệu Đại Định thứ 2 triều Anh Tông (1141), thọ 76 tuổi. Tháp tại Chùa Diên Phúc, Giao Thủy Nam Định. Sở dĩ nhiều nhà sử học gọi thời kỳ này là “Hoàng kim Phật giáo” vì có các Vua hiền ủng hộ Phật giáo nhiều cao Tăng xuất hiện có học vấn uyên thâm về nội và ngoại điển. Nhiều Thiền Sư học rộng, hiểu nhiều, bài bác những tín ngưỡng và pháp thuật dị đoan, đóng góp lớn lao trong phạm vi học thuật, văn hoá và xã hội.

 

TT THÍCH BẢO NGHIÊM

Hoa Sen Hồng ]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Bảo Nghiêm) frontpage Sat, 24 Jul 2010 00:11:35 +0000
Bát Canh Mạnh Bà http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6411-bat-canh-manh-ba.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6411-bat-canh-manh-ba.html

alt

Nếu cho bạn một bát Canh Mạnh Bà, bạn sẽ lựa chọn quên gì nào?

Trong một dịp rất tình cờ, tôi thấy có một tiêu đề như vầy: Nếu cho bạn một bát Canh Mạnh Bà, bạn sẽ chọn lựa quên gì nào? Phía dưới tiêu đề là một sớ các câu trả lời dài lê thê của các cư dân mạng. Nhất thời, tôi không biết phải nên chọn gì. Trước khi qua cầu Nại Hà, nếu như ông trời còn thương tưởng cho tôi có được một cơ hội như thế, tôi sẽ chọn lựa quên gì đây?

Những vui buồn, nóng lạnh của kiếp người, ai ai cũng đều có lần cảm nhận qua. Rất nhiều sự việc cũng như những buông lung trong quá khứ, chúng ta ít ai có đủ can đảm quày đầu nhìn lại. Giống như trong bài thơ “Ngu Mỹ Nhân” nổi tiếng của Trần hậu chủ Lý Dục có câu: Hoa xuân trăng thu bao giờ tận, việc ngày qua biết được bấy chầy? Đêm qua gió đông qua gác nhỏ, đau lòng cố quốc ánh trăng trong. Lầu son gác ngọc nếu hãy còn, chỉ tiếc bóng hồng đâu chẳng thấy. Hỡi chàng quân tử buồn bao nỗi? Một dòng xuân giang trôi về đông.” Đã từng sống một cuộc sống xa hoa với những buổi dạ yến đờn ca thâu đêm suốt sáng, nhưng nay chỉ còn lại một mình tự an ủi lấy mình, chiếc bóng đơn côi ngày ngày tựa cửa dõi mắt về một phương trời vô định với biết bao nỗi niềm tâm sự, chung cuộc đâu là sự thật, đâu là ký ức? Tựa hồ như chỉ trong chớp mắt bãi biển hóa thành nương dâu, nếu sự lãng quên thật sự có thể làm cho bản thân trở về được trạng thái bình lặng thì quá tốt rồi. Tâm thái bình hòa tự nhiên sẽ có khả năng đón nhận được ánh sáng mặt trời, nào có cái lý đất và nước bỏ mặc không nuôi dưỡng con người? Như hậu chủ Lưu Thiền nước Thục sau khi hai tay dâng tặng giang san liền có thể an nhiên tự tại thốt lên: Sướng quá! Từ đây không còn bận tâm đến Thục nữa. Do đây, chúng ta phải khách quan thừa nhận rằng lãng quên có một tác dụng thật vĩ đại. Vấn đề là chúng ta có thật sự dễ dàng quên được những chuyện đã qua hay không mà thôi?

Trong mục “Bổ dưỡng tâm linh” có kể một câu chuyện như sau: Có một thư sinh ước hẹn với vị hôn thê của mình là sau này hai người sẽ kết làm vợ chồng, nhưng chẳng bao lâu cô gái kia lại đi lấy người khác, chàng thư sinh vì việc này mà suốt ngày âu sầu dã dượi. Lúc ấy, có một vị du tăng đi ngang qua nhà thư sinh, chàng liền chặn vị du tăng lại hỏi rằng: Tại sao sự việc lại trở nên như vậy? Vị Tăng không nói gì, Ngài lấy từ trong túi áo ra một cái gương soi đưa cho chàng thư sinh xem. Thư sinh nhìn thấy trong gương hiển hiện ra cả một đại dương mênh mông, trên bãi biển có thi thể của một cô gái không mảnh vải che thân. Có một người đến bên cạnh xác cô quan sát, chẳng bao lâu sau lắc đầu bỏ đi; một người nữa lại đến, nhìn xác cô gái, xong cởi y phục trên người ra đậy lên thi thể cô và bỏ đi; lại một người nữa đi đến, nhìn thấy tình cảnh bi thương như thế, chàng bèn tìm đào một cái huyệt chôn xác cô gái xuống. Vị du tăng bảo, người cởi y phục ra đắp lên thi thể cô gái chính là ngươi, cô gái vì mang ân ngươi nên kiếp này mới đến để trả món nợ ân tình. Nhưng người cô thật sự phải báo đáp không phải là ngươi mà là người đã cho cô có được nơi an nghỉ sau cùng! Chàng thư sinh hốt nhiên đại ngộ. Có lẽ cô gái vẫn chưa tìm gặp được người kiếp trước đã chôn cất cho cô? Cũng có khả năng cô uống phải bát canh Mạnh Bà, không nhớ ra được dáng vẻ của ân nhân, nên kiếp này cô mới không ngừng tìm kiếm. Nếu như vẫn còn có kiếp sau, cô gái nhất định sẽ ghi nhớ, khi lại phải đi qua cầu Nại Hà, cô nhất quyết không uống canh Mạnh Bà, như vậy kiếp sau cô sẽ không quên dáng vẻ chàng trai đã có lòng với cô.

Là một câu chuyện có liên quan đến sự lãng quên, nhưng sự lãng quên này đượm  chút màu sắc cảm thương. Nếu như trên thế gian này thật sự có vị du tăng trong tay có cái kính soi căn kia thì tôi cũng tình nguyện uống thêm nhiều canh Mạnh Bà, quán sát  thật kỹ rốt cuộc kiếp trước tôi đã từng đến thế giới này như thế nào, đồng thời đi tìm một lý do tương đối để giải thích cho những mối tình duyên ràng buộc chằng chịt trong hiện tại. Và có lẽ tôi cũng có thể nhìn được mặt sau của chiếc kính, nói không chừng tôi có thể tìm được một số manh mối cho kiếp sau. Nhưng đã lớn như thế này rồi tôi cũng chỉ nghe người ta nói đến canh Mạnh Bà và cầu Nại Hà, còn câu chuyện  về vị du Tăng và chiếc kính thần kỳ kia rất ít nghe nhắc đến. Theo tỉ số thường thức cuộc sống mà nói thì yếu tố trước (canh Mạnh Bà và cầu Nại Hà) đáng tin cậy hơn yếu tố sau. Cho nên uống hay không uống mới thật sự là vấn đề quan trọng.

Khi nhìn thấy tiêu đề này, tôi cơ hồ thấy mình như đang đứng trước cầu Nại Hà, có một lão bà phúc hậu đang rót một bát canh và luôn miệng bảo tôi: Hỡi người đi đường, hãy uống bát canh này giải khát. Tôi đỡ lấy bát, mắt nhìn về phía trời xa, vầng tịch dương giống như chàng lãng tử uống rượu say mèm, mặt đỏ gay gay, xiêu xiêu ngã về hướng chân trời, vài sợi mây trắng lãng đãng chung quanh tan biến dần vào hư vô y như những chuyện ngày xưa của tôi. Uống xong bát canh, chân bước qua cầu, lúc này tôi đã không còn là tôi nữa. Tất cả, tất cả đều không còn liên quan gì đến tôi, như Tôn Ngộ Không đeo vào chiếc vòng Kim Cô, mộng thấy mình dạo chơi trên một con thuyền, con đường phía trước mịt mờ sương khói. Thiên Trúc thật sự ở xa như vậy ư, trải qua 81 nạn vẫn chưa nhìn thấy dù là một chút bóng dáng, đã như thế chi bằng ở lại Hoa Qủa sơn một đời làm đại vương còn hơn bị vòng Kim Cô khống chế, bị bức bách quản thúc, kí ức càng sâu, đau khổ càng nhiều.

Có người nói lãng quên là một loại kí ức sâu sắc nhất. Cho nên người sống vì người, đau khổ luôn là những niềm vui lâu dài, vì chúng ta khó quên như thế, vào năm đó, tháng đó, một số người quen biết đó, những sự việc đã trải qua, mỗi khi nhớ lại lòng luôn đau khổ thổn thức. Nhưng trong gian khổ luôn có quý nhân giúp đỡ, niềm vui luôn được hình thành từ trong đau khổ làm nên một nụ cười rất đỗi con người. Nếu như uống bát canh Mạnh Bà mà có thể làm lại được từ đầu, tôi nghĩ mình nên chọn sự buông bỏ, tôi bắt đầu nhẫn được sự đói khát tiếp tục tiến về phía trước. Nhìn chiếc bóng trải dài dưới ánh hoàng hôn, giờ khắc ấy đã nhắc nhở tôi rằng mình đã từng đến thế gian này; một chuỗi dấu chân liêu xiêu tiếp tục phác họa ra con đường rày sinh mệnh mà tôi đã từng đi qua. Đợi khi đi đến thì điểm khởi đầu và kết thúc của con đường rày này đã hợp lại làm một, tôi thấy mình hóa thành một con bướm bay lượn trên những đóa hoa. Vào giờ khắc phá kén chui ra, tất cả những ký ức ban đầu đều không còn tồn tại, giờ phút này chỉ còn hiện tại, vươn vai đón lấy ánh ban mai, ưỡn ngực kết thành đôi cánh thần tiên nhẹ nhàng bay về vườn bàn đào nở rộ đầy hoa trên tận cung trời…

 

Hoa Địch Trong Gió Thu

Huệ Trang (lược dịch)

http://tuvienhuequang.com/

]]>
tcanhco@yahoo.com (Huệ Trang) frontpage Fri, 23 Jul 2010 16:16:34 +0000
Cứu lấy dòng sông http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6410-cuu-lay-dong-song.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6410-cuu-lay-dong-song.html
image

Các bạn thân mến!

Tôi biết các bạn đều là những người có lý tưởng, nhưng lý tưởng cần phải hiểu, sống và hành động một cách thực tế, chứ không thể là chỉ bánh vẽ, là ngôn từ, hay là ý niệm trừu tượng. Trước hết, chúng mình thử định nghĩa ‘lý tưởng’ cho rõ ràng trong cái nhìn của tuổi trẻ. Lý tưởng là tình thương, tốt đẹp, lành mạnh, cao thượng... Người lý tưởng là người có lương tâm, có tình thương, muốn giúp đỡ cho cuộc đời. Chúng mình thường nghe nói: “Người này thật là lý tưởng, nghĩa là đời sống người này thật là lành mạnh, cao thượng. Tâm hồn người ấy có sự độ lượng và tình thương. Công việc này thật là lý tưởng, tức là công việc này thật là tốt lành, có ý nghĩa, có đạo đức. Con đường này thật là lý tưởng, nghĩa là con đường trong sáng, với hướng đi lành mạnh, đem lại hạnh phúc và an vui cho mọi người…

Lý tưởng có khi được người ta hiểu như là một ước mơ, một sở thích, một nguyện vọng. Ví dụ như các bạn thường nói: “Trở thành bác sĩ là lý tưởng của chị. Em thích làm cô giáo trong tương lai. Em muốn trở thành hoạ sĩ. Anh muốn trở thành thủ tướng... Hiểu lý tưởng như thế cũng tạm được đấy, nhưng nó thiếu về phần nội dung và phẩm chất. Trở thành bác sĩ là tốt lắm rồi, nhưng chúng mình phải hỏi: “Bạn muốn làm bác sĩ để làm gì?” Nếu trở thành bác sĩ để giúp dân, giúp nước là lý tưởng cao thượng. Chúng mình xin ca ngợi bạn ấy bằng cả con tim. Nhưng, nếu bạn muốn làm bác sĩ với mục đích khác, thì nó không phải là ước mơ đẹp, là lý tưởng nữa. Các bạn có đồng ý với chúng mình về điểm này hay không? Bây giờ, ở các bệnh viện Việt Nam tìm ra một bác sĩ lý tưởng thật là khó khăn. Có tiền thì chữa bệnh, không tiền thì nằm đó cho đến chết. Các nghề khác như thầy giáo, cô giáo, y tá, công chức cũng được hiểu như thế. Vì vậy, đất nước và đồng bào rất cần sự hiện diện của những người có lý tưởng, tức là có lương tâm, có tình thương, có sự hy sinh, và có tình người.

Như vậy, người lý tưởng không hẳn phải làm bác sĩ, kỹ sư, chức to, quan lớn mà là tình người, lương tâm, sự hy sinh... Thế thì, bạn có thể trở thành người lý tưởng của đất nước chỉ trong giây lát, bởi tâm bạn đã có sẵn hạt giống lương tâm, biết thương người, yêu quê hương rồi.

Hiện giờ, bạn có thấy rác quá nhiều ở khắp trên mọi nẻo đường đất nước hay không? Chỗ nào cũng có rác, từ bụi tre, đường làng, con lạch, khe nước, bờ sông, bờ biển, bãi dương... đều có nhiều rác, bịch ni lông, giấy, đống rác. Các dòng sông và bờ biển, rác đang trôi lềnh bềnh, mất hết dáng thơ mộng và vẻ đẹp của nó. Nhưng điều quan trọng là các dòng sông thiếu đi sự sạch sẽ và đang bị ô nhiễm để trở thành những dòng sông chết. Mỗi khi có lũ lụt thì rác trôi nghênh ngang, thật là một hình ảnh không đẹp đẽ, dễ thương chút nào.

Yêu quê hương là một lý tưởng cao đẹp, và bạn có thể thực hiện được lý tưởng này ngay hôm nay. Chúng mình không muốn ca ngợi hoặc hô hào lý tưởng viễn vông, mà lý tưởng này là việc có thể xảy ra trước mắt các bạn. Chúng mình đang phát động phong trào tự giác để thắp lên ánh sáng ý thức “bảo vệ môi trường quê hương” bằng cách “không xả rác và lượm rác”. Tất cả các bạn trẻ đều có thể tham gia phong trào này. Bạn nào cũng có thể thực hiện được công việc lý tưởng này, chỉ cần có ý thức, có một trái tim, có một bao rác và mở mắt ra để nhìn về mọi nẻo đường quê hương.

Rác! Rác! Rác! Rác quá nhiều! Ai đã tạo ra nhiều rác như thế cho đất mẹ? Tại sao các bạn có thể làm ngơ mãi hoài như thế? Thay vì giết chết thời gian trong cô đơn, tuyệt vọng, ăn chơi, la cà phòng cà phê, trò chơi điện tử thì bạn có thể dùng bao rác để làm sạch quê hương. Bạn có thể trở thành người lãnh đạo cho phong trào này. Bạn chỉ cần có một bao rác, vừa lượm rác, vừa kêu gọi mọi người cùng nhau lượm rác. Bạn có tình thương, có sức lực, có khả năng nói lời dễ thương, vì vậy các bạn vừa làm gương, vừa thiết phục mọi người tham gia phong trào này. Chúng mình phải phát động phong trào này từ Bắc tới Nam. Hãy dùng mạng lưới, emails, blogs, bài viết, báo chí để gửi thông điệp đến cho mọi người, bà con, làng xóm. Bạn nào có quen biết với các ông to, bà lớn thì hãy nhờ họ giúp cho chương trình làm sạch quê hương bằng đài phát thanh, đài truyền hình… Chắc chắn các ông bà có chức sắc sẽ yểm trợ cho các bạn. Chúng mình cùng nhau giúp đất nước, chứ đừng lên án nhau nữa. Người nào cũng đều là con của mẹ Việt Nam. Chúng mình nên hành động để bảo vệ đất mẹ hơn là hô hào, lên án và tranh chấp. Đất nước còn nhiều vấn đề nhiêu khê nữa, nhưng trước hết là phải giải quyết cho sạch sẽ rác rến.

Lúc còn ở Việt Nam, tôi thường mang bên mình cái bao để lượm rác, nhưng cũng có nhiều lúc quên, thì tôi dùng chiếc nón lá để lượm rác khô, tức là giấy kẹo và bịch ni lông. Hồi đó, tôi đang ở chùa Từ Hiếu. Người ta xả bao nhiêu rác thì tôi lượm bấy nhiêu. Ngoài tôi ra còn có các sư chú và các sư cô khác lượm rác nữa.  Chúng tôi đều làm một cách ầm thầm mà vui sướng. Bởi thế, bạn nào về chùa Từ Hiếu cũng thấy công viên chùa sạch sẽ và thơ mộng. Phải không ạ? Bạn nào chưa về chùa thì hãy về cho biết. Đẹp lắm. Chùa Từ Hiếu là một ngôi chùa còn giữ lại nhiều cây cảnh thiên nhiên, và nếu các bạn về thăm chùa thì xin đừng xả rác nhé. Các sư chú có đặt sẵn thùng rác khắp nơi trong khung viên chùa, mời các bạn bỏ rác thùng. Chúng mình cùng nhau tập một thói quen mới, vừa đẹp, vừa dễ thương để bảo vệ môi trường.
Sau giờ nghĩ trưa, tôi thích đi dạo trong sân chùa dọc theo con suối. Mỗi khi thấy rác ở trong con suối, tôi đều đi xuống để nhặt lấy nó. Con suối dễ thương, thơ mộng như vậy, thế mà bà con cứ vứt rác vào trong đó. Thật là tội nghiệp. Nhờ con suối này chảy thường xuyên, nên nó còn sống. Chứ nếu nó đứng yên thì con suối này đã chết vì ô nhiễm từ lâu rồi. Các bạn ơi! Các bạn hãy tới thăm các con suối, những dòng sông khác để chứng kiến tình trạng dơ bẩn của rác rến. Các bạn hãy cứu giúp suối khe, sông hồ của quê hương nhé. Đừng sợ dơ bàn tay, bởi vì bạn có thể rửa sạch bàn tay mà, nhưng xin bạn đừng để cho các dòng sông, các con suối chết nhé. Dòng sông, con suôi là mạch máu của quê hương và của con người. Đồng ruộng nhờ nước mới xanh tươi. Nếu dòng sông bị nhiễm độc thì nước đâu để tưới cho rau cải, ruộng vườn.

Hồi còn bé, mỗi ngày, tôi đều tắm ở dòng sông Phá Tam Giang. Nước sông thật là trong và sạch. Nó là cái hồ bơi thiên nhiên của bọn trẻ chúng mình, thế mà bây giờ nó bị ô nhiễm trầm trọng. Nước sông dơ quá, chỉ cần đặt chân xuống đã cảm thấy ngứa ngáy lắm rồi. Thật là tội nghiệp cho con sông, cho tuổi trẻ, cho mọi người. Tôi rất mong tất cả mọi người, nhất là các em thiếu nhi, ở các miền quê hãy thắp lên ý thức tự giác và bảo vệ, đừng trút rác vào các dòng sông và bờ biển nữa. Quí vị bà con, cô bác và các bạn muốn tiêu diệt sự sống của chính mình hay sao! Bên cạnh đó, các bác, các cô, các bạn hãy dùng cái thúng, cái rỗ để đi chợ. Ngày trước, bà con đâu có dùng nhiều bịch ni lông như thế. Tất cả thức ăn đều đặt gọn vào cái thúng, cái rỗ. Nó vừa vệ sinh, vừa sạch sẽ, mà không tạo thêm tờ rác nào. Hồi trước, quê mình đâu có rác ni lông nhiều như vậy, nhưng bây giờ người ta sản xuất ra bao và giấy kẹo ni lông nhiều quá. Các bạn hãy cho mọi người, các bà mẹ, các cô bác biết rằng rác ni lông rất khó tiêu hóa, và nó là chúa làm dơ bẩn và ô nhiễm môi trường.

Chúng mình ai cũng yêu quê hương, quan tâm (concern) cho đất nước, thì hãy mau mau cùng nhau thực hiện phong trào bảo vệ đất mẹ bằng cách không xả rác nữa và lượm rác thường xuyên. Đó là lý tưởng, là tình yêu đích thực, bởi vì yêu thương là bảo vệ.

Cảm tạ các bạn, hẹn lại lần sau để cùng nhau tâm sự.

 

Chân Pháp Đăng

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Chân Pháp Đăng) frontpage Fri, 23 Jul 2010 16:09:37 +0000
Tâm sự http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6409-tam-su.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6409-tam-su.html
image

Nắng mai thương,

Sáng nay, núi mây nơi anh Lang ở có nhiều sương lắm. Núi mây trụ trên một hòn đảo, chung quanh toàn là nước biển. Ngọn núi Olympic chắn ngang núi mây với đại dương. Nếu không thì anh Lang có thể nhìn thấy biển cả bao la rồi. Bạn sương thường hay đến chơi. Bạn ấy đến chầm chậm, thong thả và vô tư. Tâm hồn của bạn ấy trong sáng! Bạn Sương dừng lại dưới những cành cây bách bên cửa sổ phòng tu viện, cho nên Lang chào bạn ấy.

-          Chào em Sương! Cám ơn em đến thăm anh.

-          Chào anh! Anh tên là gì?

-          Anh tên là Lang!

-           Em thích núi rừng, biển hồ nơi đây lắm, vì thế em thường vãng lai. Không ngờ ở nơi xa xôi này lại có một tu viện. Ngày nào, em cũng thấy anh đi từ từ, chầm chậm, thong thả. Sao bao nhiêu người khác đi nhanh, mà anh đi chậm dữ vậy?

-          Anh thực tập thiền hành. Thiền hành là bước từng bước chân với sự chú tâm và cẩn trọng.

Sương à! Chúng mình đi tới, đi lui mỗi ngày, nhưng tâm ý của chúng mình thường bay bỗng ở tương lai hoặc một nơi nào đó. Vì thế, thiền hành là đưa tâm ý trở về an trú trên mỗi bước chân. Chúng mình có mặt cho sự sống để tiếp xúc với sự sống linh động trên mỗi bước chân, trong từng hơi thở.

Sương ơi! Em đến để mang lại sự mát mẻ, tươi tốt cho cây cối trong rừng này. Vườn rau cũng nhờ Sương tưới tẩm nên nó trở nên xanh rờn và tươi tốt. Em không làm gì cả, mà chỉ bay chơi la đà, thoải mái, thế nhưng muôn loài đều hưởng những giọt sương li ti như cam lộ để được nuôi dưỡng, xanh tươi, mà đơm hoa kết trái cho đời. Lang thường nhận diện sự có mặt quí báu của Sương, nhưng đến hôm nay mới được tâm sự.

-          Cám ơn anh Lang!

-          Em hãy bay đi chơi cho vui nhé! Chúc em một ngày thong dong. Anh muốn tâm sự tiếp với bạn nắng mai.

-          Vâng! Anh cứ tự nhiên.

Nắng mai ơi!

Lá thư ‘con tim bạn bè’ gửi cho em là tâm sự riêng của Lang. Lang chia sẻ về sự thực tập của chính mình. Khi viết truyện thì Lang không suy nghĩ gì cả. Lang chỉ để cho dòng sông của những cảm giác, kỷ niệm và kinh nghiệm trực tiếp hay giáng tiếp trong đời sống tuôn chảy. Vì thế, Lang chỉ viết về đời mình và những gì xảy ra trong tâm ý, tình cảm và cuộc sống. Lang sống nhiều với thiên nhiên nên viết về thiên nhiên. Lang sống nhiều với nội tâm nên viết về cảm giác, thuơng yêu, vui buồn...

-          Chào anh Lang! Hì hì hì… Em là nắng mai!

Ô! Nắng mai xuất hiện bất ngờ quá! Anh đâu có ngờ em đang đọc dòng chảy của tâm tư anh.

Tiếng cười …..

-          Dạ! Em đang nhè nhẹ bước vào để tiếp nhận dòng tâm văn của anh.

Nắng mai có biết không? Nói thật lòng! Lang tu học vẫn còn yếu kém, cho nên tự mình thường cố gắng tự giác để sống cho trọn vẹn đời tu. Xa thầy, xa tăng thân nên Lang phải tự lực nhiều. Lang tự nhắc mình sống làm sao để không phụ những người thân yêu, bạn bè, quê hương và thầy tổ.

May mắn thay! Nắng mai thường đến thăm anh. Em đem đến cho Lang niềm vui, sự khích lệ và tình bạn bè. Em thường nhắc nhở để Lang đừng sống trong quên lãng, làm biếng. Mỗi khi em xuất hiện thì sự sống trên trái đất tươi sáng hơn ngàn lần. Em là nắng, vì thế em sưởi ấm mọi loài một cách tự nhiên. Em đến mang theo nhiều giọt nắng lung linh. Em biến rừng cây thành cõi sáng. Em đi vào ánh mắt. Em làm bông hoa sắc son. Em gọi các loài chim thức giấc để chúng hát ca chào đón bình minh.

Hôm qua, nắng mai không đến thăm anh, bởi vì bầu trời mây dầy đặc quá! Em không xuất hiện như mỗi ngày giúp cho đôi mắt của Lang long lanh, nhưng em biểu hiện ở nơi khác. Em làm đẹp đẽ và tươi sáng cuộc đời ở nơi ấy. Biết thế, cho nên Lang không buồn lâu, chỉ buồn một chút xíu thôi.

Nắng mai à! Anh Lang cũng là một con người biết thương, biết cảm, vì thế buồn vui là việc bình thường. Nhưng không bao giờ, anh Lang dám trách em đâu! Nếu trách thì anh tự trách mình, vì anh cũng có những lúc hững hờ, quên lãng, hoặc để cho nỗi lo âu, sự nghĩ ngợi xâm chiếm, do vậy anh đã đánh mất bản thân. Có lần, bạn mây đến gọi tên anh một cách trong trẻo, thế mà anh đã không nhận ra bạn ấy, vì tâm anh đang phiêu bạc chốn giang hồ.

Nắng mai ơi! Tu luyện tâm ý không phải là chuyện dễ dàng đâu! Tâm vô hình vô tướng cho nên nó biến đi dễ dàng lắm. Tâm hoạt động nhanh như chớp. Ánh sáng mặt trời có thể đi nhanh tới 3000 cây số một giây, nhưng ánh sáng không thể đi về quá khứ hoặc vương tới tương lai. Nhưng, tâm ý đi nhanh hơn ánh sáng cả ngàn lần và nó có thể đi về tương lai hoặc quá khứ. Bởi thế, anh Lang để hết cả thì giờ, tâm lực và đời mình đầu tư từng cữ động, mỗi bước chân, mỗi hơi thở để luyện tâm.  Anh muốn thực tập để nhiếp phục tâm ý trở lại, chuyển hoá tập khí thói quen xấu, hướng nó về nẻo thiện đường lành và đưa nó vào cõi sáng.

Sáng nào, anh Lang cũng ngồi thiền thật lâu. Vào mùa này, buổi trưa, anh ưa đi vào sâu trong cánh rừng im mát để ngồi thiền. Ngồi thiền trong rừng thích thú lắm, vừa mở mắt, vừa theo hơi thở, vừa nhìn tâm ý, vừa nhìn rừng cây, có ánh nắng, có trời xanh, có mây bạc. Chẳng có việc gì tuyệt vời hơn. Ngồi thiền trong rừng, anh cảm thấy tĩnh táo hơn ngồi trong thiền đường. Buổi chiều khi những tia nắng vàng xuyên qua rừng thông rơi vào cửa sổ là lúc anh Lang ngồi thiền và tụng kinh. Tất cả các công phu này cũng để thắp sáng nội tâm, dẫn dắt ý thức và chuyển hóa tập khí, phiền não.

Để dịp khác anh sẽ chia sẻ thêm về phép luyện tâm. Bây giờ, anh Lang mời em đi chơi. Có được không em?

Nắng mai nhìn anh Lang thân thiết rồi trả lời.

-          Dạ vâng! Hôm nay trời có sương bay la đà, đi dạo trong rừng mát lắm anh. Em sẽ chiếu ánh sáng vào những giọt sương để làm cho cánh rừng thêm long lanh, thiêng linh và huyền diệu.

Hai người bạn đi bên nhau trong niềm vui được sống trong ý thức sáng tỏ trong lúc rừng cây đang hát ca.

 

Pháp Đăng

]]>
tcanhco@yahoo.com (Pháp Đăng) frontpage Fri, 23 Jul 2010 16:07:38 +0000
Hội thảo Tâm lý học lần thứ nhất giữa Trung quốc Đại lục và Đài Loan http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6408-hoi-thao-tam-ly-hoc-lan-thu-nhat-giua-trung-quoc-dai-luc-va-dai-loan.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6408-hoi-thao-tam-ly-hoc-lan-thu-nhat-giua-trung-quoc-dai-luc-va-dai-loan.html Nhằm thực hiện tinh thần Nghị quyết của hội nghị thường niên Quốc Vụ Viện Trung Quốc do thủ tướng Ôn Gia Bảo chủ trì về vấn đề đảo Đài Loan. Từ ngày 17-07 đến ngày 22-07-2010 tại khu du lịch nghỉ mát Vũ Di Sơn, tỉnh Phúc kiến, Trung quốc đã diễn ra kỳ hội thảo tâm lý học lần thứ nhất giữa Trung Quốc và Đài loan.

Đoàn đại biểu Trung Quốc đại lục, Đài Loan và nghiên cứu sinh khoa  tâm lý học tại hội thảo

Đoàn đại biểu Trung Quốc đại lục, Đài Loan và nghiên cứu sinh khoa tâm lý học tại hội thảo

Hội thảo lần này do khoa tâm lý trường Đại học Sư phạm tỉnh Phúc Kiến chủ trì. Chủ tịch Hội tâm lý học Trung Quốc-giáo sư Liên Dung làm trưởng ban tổ chức. Đến dự hội thảo có các cấp chính quyền sở tại và các trường đại học thuộc miền duyên hải phía Nam Trung Quốc (bờ biển phía Tây giữa eo biển Trung Quốc và Đài loan).

Về phía Trung Quốc đại lục gồm các trường: Đại học Sư phạm Phúc Kiến; Đại học y khoa Phúc Kiến; khoa âm nhạc tâm lý trị liệu nhân dân Phúc Kiến; học viện giáo dục nhân văn Long Nham-Phúc Kiến; khoa tâm lý lâm sàng Chương Châu-Phúc Kiến; khoa y học tâm lý Hạ Môn- phúc Kiến; học viện y học Ôn Châu-Chiết Giang.

Về phía Đài Loan gồm các trường: Đại học y học Cao Hùng; bệnh viện Hoa Liên Ngọc Lý Vinh Dân; Đại học Quốc Lập Đài Nam; Đại học Trung Nguyên; Đại học Thành Công; Đại học Phụ Nhân; Đại học Chính Trị; Đại học Quốc Lập Vân Lâm.

Quang  cảnh diễn ra hội thảo

Quang cảnh diễn ra hội thảo

Mục đích của hội thảo lần này là xúc tiến và giao lưu học thuật giữa hai bờ eo biển Trung Quốc - Đài Loan.

Mở đầu cho bài phát biểu của mình, trưởng đoàn đại biểu Đài Loan-giáo sư Hoàng Quang Quốc đã nói về “nhận thức tự ngã”. Giáo sư nói, dù tâm lý học Tây Phương có phát triển đến đâu đi chăng thì văn hóa bản địa vẫn là cái gốc rễ ăn sâu trong tâm tưởng người Trung Hoa qua mấy ngàn năm. Giáo sư đã đưa Thiền Phật giáo, tư tưởng Bát nhã, đặc biệt tinh thần tự giác và giác tha của đạo Phật làm đề tài cho bài tham luận mở đầu hội nghị của mình, bên cạnh kết hợp văn hóa bản địa và văn hóa Đông Tây để lý giải tâm lý con người. Giáo sư còn nói: “một đất nước phát triển thì vấn đề tâm linh của con người là mục tiêu luôn được đề cao.” trong đó vai trò của tôn giáo chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Không những thế tất cả các bài tham luận của các giáo sư đến từ Đài loan vẫn mang đậm sắt thái tôn giáo khoa học, hoàn toàn khoáng đạt trong tư tưởng. Trong tất cả các bài tham luận, họ đã đem tôn giáo vào cuộc đời và vận dụng tinh yếu Đạo Phật trong đời sống và công việc của mình.

G.s Liên  Dung, G.s Hoàng Quang Quốc và các nghiên cứu sinh Việt Nam khoa tâm lý  học tham gia hội thảo

G.s Liên Dung, G.s Hoàng Quang Quốc và các nghiên cứu sinh Việt Nam khoa tâm lý học tham gia hội thảo

Có thể nói rằng, Trung Quốc ngày nay đối với tôn giáo ngày càng mờ nhạt, giới học thức không còn xem trọng vấn đề tâm linh, mà họ chỉ chú trọng đến cuộc sống vật chất hiện tại, thậm chí họ còn chủ trương “Vô thần luận”, chỉ đề cao sự phát triển nhanh mạnh của xã hội mà không hề có chút sắc thái tôn giáo, mặc dù Trung quốc từng được gọi là văn hóa “ Lão-Thích-Nho”.

Bế mạc hội thảo, giáo sư Hoàng Quang Quốc nhấn mạnh: cần phải biết kết hợp sự hài hòa giữa khoa học Phương Tây và nét đặc sắc văn hóa truyền thống Phương Đông mới có thể làm cho nền nghiên cứu học thuật trở nên đa phương diện, đa dạng hóa. Hội thảo đã khép lại trong sự thân mật và tinh thần giao hảo giữa hai nền học thuật tâm lý học Trung quốc đại lục và Đài Loan.

 

Huệ Như

http://www.phapluanonline.com/

]]>
tcanhco@yahoo.com (Huệ Như) frontpage Fri, 23 Jul 2010 16:05:41 +0000
Tinh Thần Tuệ Giác Văn Thù (phần 3) http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6407-tinh-than-tue-giac-van-thu-phan-3.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6407-tinh-than-tue-giac-van-thu-phan-3.html
image


Mục lục

 

Mười hai nhân duyên và viễn ly

Tâm giác ngộ (bodhicitta)

Tính không

Năng lực Văn Thù gia trì

Đối thoại với Đại sư Thánh Nghiêm (Sheng-yen)

--***--

alt

 

PHẦN BA

 

TÍNH KHÔNG

 

 

 

Trong Phật giáo có một sự thảo luận về điều gì ấy gọi là những dấu vết của nghiệp báo.  Điều gì chính xác là một dấu vết nghiệp báo rõ ràng là rắc rối.  Không phải là vật lý cũng không phải tinh thần nhưng gần như là hình thức của một năng lực, giống như một tiềm lực.  Chúng ta hầu như có thể nói nó là một hình thức của một sự tương tục tiềm thức.  Khi chúng ta nói về tiềm thức đôi khi nó được hiểu trong những dạng thức của một hạt giống hay tiềm năng, đôi lúc nó hoàn toàn là một dấu vết, điều gì đấy ghi khắc trong ý thức hay tâm thức chúng ta, những dấu vết thúc đẩy chúng ta hành động trong một cung cách nào đấy.

 

Có lẻ có một cách hổ trợ việc thấu hiểu làm thế nào những dấu ấn tương tục nghiệp báo này được duy trì là nhìn vào phương thức mà trong ấy những ký ức thể hiện chức năng trong đời sống một người.  Ký ức liên hệ đến sự tích tập kinh nghiệm mà một người đã từng có trước đây.  Có một khoảng trống giữa kinh nghiệm thực sự và ký ức theo sau của nó.  Phải có điều gì đấy nối kết hai thứ, kinh nghiệm trực giác của nó.  Trái lại đến điều gì chính xác là khả năng, mà trong ấy những dấu vết này được lưu trử, một số cho rằng nó là tâm thức cất chứa chủ yếu, a lại gia thức, thức thứ tám.  Một số cho rằng nó là thức thứ sáu.

 

Theo quan điểm của Tây Tạng, cấp độ cao nhất của những hành giả là những người nào đấy dâng hiến toàn bộ cuộc đời của họ để theo đuổi Giáo Pháp và tìm cầu sự tĩnh mịch.  Họ được gọi là những con sư tử trong những hành giả.  Cũng có thể có những hành giả  là những hành giả nghiêm túc có thể tiếp tục theo đuổi con đường và tiến hành tiến trình của riêng họ nhưng đồng thời chia sẻ kinh nghiệm cùng kiến thức của họ với những người khác đưa đến hình thức đời sống của một vị giáo thọ hay đạo sư.

 

Nhiều sự thực hành này đòi hỏi phải tiếp nhận một cách suy nghĩ, thể hiện, một lối sống nào đấy, và làm những tiến trình suy nghĩ này như một phần của cung cách thể hiện đời sống của chính họ.  Điều này không phải nói rằng bất cứ điều gì chúng tôi nói ở đây là việc gì đấy mà ngay cả cá nhân chúng tôi có thể đưa vào trong sự thực hành.   Không có đề xuất nào rằng bất cứ điều gì mà chúng ta biết chúng ta sẽ thể chứng được.  Điều đúng là vào lúc khởi đầu chúng ta cần phát triển một khái quát, một ý nghĩa tổng thể về phương hướng của con đường.  Đây là một trình độ thấu hiểu của nhận thức.  Chúng tôi nghĩ rằng cốt yếu tối thiểu có một bức hình tổng quát loại này.

 

Thí dụ nếu chúng ta muốn cất một ngôi nhà rộng thì không thể có toàn bộ công trình xây dựng ngay một lần.  Sự thực hành thật sự phải được hoàn thành từng bước căn bản.  Điều này nói rằng tối thiểu kiến trúc sư cần có một kế hoạch tổng thể và một khái niệm về sự xây dựng cuối cùng biểu hiện như thế nào.

 

Như câu hỏi đặc thù được đề ra về nơi khởi đầu.  Chúng tôi nghĩ điều này tùy thuộc trên tinh thần và khí chất của hành giả.  Một số nên bắt đầu với sự phản chiếu trên tính vô thường và tính tự nhiên tạm bợ của cõi sinh tử luân hồi, trái lại cho những người khác có thể sự quán chiếu trên tính không là điểm tốt hơn để bắt đầu.  Tuy thế, đối với những người khác một sự tiếp cận sùng kính hơn đối với việc tìm cầu mối liên hệ trong một vị thầy tâm linh có thể là truyền cảm hứng hơn và ảnh hưởng hơn.  Điều quan trọng là một khi chúng ta thật sự dấn thân trên con đường tu tập thế thì chúng ta nên có một sự tiếp cận bổ xung hợp nhất tất cả các khía cạnh nhờ đấy tất cả những nhân tố chìa khóa của con đường được hoàn toàn.  Chúng sẽ có một ảnh hưởng lũy tiến trên sự chuyển hóa tâm thức của  hành giả.

 

Tuy nhiên có một cấp độ rất phổ biến của một sự tiếp nối rõ ràng trên con đường.  Tầng bậc đầu tiên của sự thực tập nên được tập trung trên việc đối phó với những biểu hiện tiêu cực về vọng tưởng của chúng ta.  Sự thực hành này phải phối hợp với sự thực hành đạo đức hay giới luật, sự thực hành hạn chế khỏi mười hành vi bất thiện.  Nếu chúng ta nhìn vào những hành vi tiêu cực nào đấy như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, và v.v…, trên nhiều điểm này có một sự nhất trí giữa những vị thế hợp pháp của những hành vi ấy và những vị thế đạo đức của những hành vi ấy.  Cấm chỉ sát sinh được nói là đạo đức và được nói là hợp pháp tùy thuộc trên tình trạng của tâm thức và động cơ của con người nhằm tránh vi phạm một hành động như thế.

 

Nếu động cơ của chúng ta hoàn toàn do sợ hãi những hậu quả pháp luật của sự giết người thế thì mặc dù trong thực tế chúng ta kiềm chế khỏi một hành vi tiêu cực, chúng ta không thể nói rằng sự thực hành Phật Pháp như được thúc đẩy bởi sợ hãi những hậu quả theo luật định.  Trái lại nếu ai đấy tránh không làm việc giết người, không phải vì sợ hãi những hậu quả của luật pháp mà vì hiểu rằng một hành vi như thế là một việc làm tiêu cực, trong trường hợp này mới là một sự thực hành Phật Pháp.  Tuy thế, ở đây,  không phải là sự thực hành Phật Pháp sâu sắc khi động cơ vẫn là vị kỷ.  Nếu một người xa lánh việc giết người do biểu lộ của động cơ thúc đẩy giống như người ấy yêu mến sự sống của chính mình như yêu mến đối với người khác điều này cũng thế và vì thế giết người là một hành động vô cùng nguy hại đến người ấy, thế thì đây là một sự thực hành Phật Pháp sâu sắc.  Mặc dù trong thực tế hành động là giống nhau trong ba trường hợp nhưng tùy thuộc trên động cơ thúc đẩy hiện hữu nên có một sự khác nhau cho dù hành vi là hợp pháp, đạo đức hay sâu sắc.

 

Hiện hữu hay tồn tại, được cấu thành và do nguyên nhân của nghiệp báo và vọng tưởng, là sự bất giác tồn tại và là duyên sự khổ đau.  Điều thiết yếu ở đây là phải có một sự thấu hiểu sâu sắc  về sự tiêu cực của những vọng tưởng.  Sự nhận định của con người càng mạnh mẽ về sự tiêu cực của những vọng tưởng thì ý chí  năng lực của con người hay cảm giác kinh tởm về những hậu quả của những vọng tưởng của con người càng mạnh mẽ hơn.

 

Trong dạng thức về cố gắng để trau dồi một niềm tin vững chắc sâu sắc trong sự tiêu cực của những vọng tưởng trong tâm thức của chúng ta, có lẻ cung cách tốt nhất để làm điều này là liên hệ lại với kinh nghiệm cá nhân của chúng ta.  Khi chúng ta phán xét về thể trạng tâm thức của chúng ta, chúng ta có thể thấy rằng mỗi khi có một sự xãy ra mạnh mẽ về một cảm giác tiêu cực như thù ghét hay sân hận, chúng ta lập tức thấy một sự bất ổn trong tâm thức chúng ta.  Nó phá hủy sự định tĩnh chúng ta có thể có và tạo nên sự bồn chồn.  Từ kinh nghiệm cá nhân chúng ta có thể thấy rằng nhiều rắc rối tâm lý, mê muội và băn khoăn là hậu quả của những cảm xúc và tư tưởng.  Thực tế, trong toàn bộ lịch sử hiện hữu của nhân loại tỉ lệ to lớn từ chiến tranh đến bạo động gia đình tất cả là một hậu quả trực tiếp của những phiền não và cảm xúc tiêu cực mạnh mẽ.

 

 

Tuy nhiên, nếu chúng ta thẩm tra mối quan hệ mà chúng ta có với những cảm xúc tiêu cực của chính chúng ta, chúng ta không tỉnh thức trọn vẹn hay không chính niệm hoàn toàn với bản chất tự nhiên của chúng.  Thực sự trái lại, chúng ta có khuynh hướng bám víu chúng.  Thí dụ, nếu đối diện vớ một sự de dọa hay một sự khích động, những cảm xúc mạnh mẽ như sân hận sinh khởi trong chúng ta.  Dường như nó cho một sức mạnh hay can đảm để đối diện với hoàn cảnh tương ứng.  Gần như chúng ta bám víu một cách tự ý những xúc tình tiêu cực này và theo đuổi chúng như một loại bảo vệ.  Trong thực tế sự sinh khởi của những cảm xúc mạnh mẽ như thế nằm trong việc chúng ta tạo nên tất cả những loại rắc rối.  Bắt đầu với việc chúng ta đánh mất cảm xúc cân xứng và đánh mất sự phán xét giữa đúng và sai.  Cũng thế, sự táo bạo dâng tràn mà chúng ta cảm thấy thường là mù quáng và chúng ta không thể sử dụng nó trong một đường hướng đúng đắn.

 

Chúng ta nói về viễn ly, sự viễn ly thật sự là lòng khát vọng chân thành trong việc tìm cầu sự giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.  Chúng ta nói về tâm giác ngộ (bodhicitta) mà lòng ngưỡng mộ thật sự là để đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn vì lợi ích của tất cả chúng sinh.  Những nhân tố chướng ngại sự đạt đến những nguyện vọng then chốt này là vọng tưởng và những chướng ngại đến tuệ trí.  Chỉ có tuệ giác nội quán trong tính không mới thật sự đối trị hay thuốc giải độc để tiêu trừ những năng lực chướng ngại này.

 

Nói một cách phổ thông trên cấp độ thực tiển, những người không thực hành Phật Pháp căn cứ trên việc họ có phải là một người đã tiếp nhận tam quy hay chưa.  Sự khác biệt giữa những trường phái triết học tư tưởng Phật giáo và không Phật giáo được hình thành trên căn bản cho dù người ta tán thành hay không điều được biết là  Bốn Pháp Thù Thắng [1] (1).

 

Tất cả những hiện tượng duyên sinh là tạm bợ, vô thường (chư hành vô thường), và tất cả những hiện tượng là trống không và vô ngã (chư pháp vô ngã).  Chỉ có niết bàn là an bình thật sự (niết bàn tịch tĩnh).  Điều đầu tiên của Tứ Pháp Bản Mạt là nhận thức rằng bất cứ điều gì là một phối hợp, bất cứ gì, hình thành từ nhân duyên là tạm bợ và vô thường.  Thứ hai, bất cứ điều gì là một sản phẩm của những nguyên nhân nhiễm ô, trong sự phân tích cuối cùng là một hình thức của khổ đau (các pháp nhiễm ô là khổ đau).

 

Điều thứ ba là tất cả những hiện tượng là trống không và vô ngã hay tự ngã trống rỗng.  Sự trống vắng của sự tự tồn liên hệ ở đây là một khái niệm về anatman, vô ngã điều thông thường trong tất cả những trường phái Phật giáo.  Dĩ nhiên có một hay hai trường hợp ngoại lệ, chẳng hạn như Độc Tử Bộ[2]  (2) thừa nhận một khái niệm nào đấy về sự tồn tại thật sự của tự ngã.  Tổng quát, nói một cách triết lý, tất cả các trường phái Phật giáo phủ nhận bất cứ khái niệm nào về một tự ngã (atman) hay một nguồn gốc của linh hồn.  Do thế, giáo lý về vô ngã là triết lý căn bản cho tất cả những trường phái của Phật giáo.

 

Điều thứ tư hay điều cuối cùng là niết bàn; sự chấm dứt phiền não khổ đau, chỉ có thể trạng hỉ lạc và hòa bình vĩnh cửu.  những điều này là Bốn Pháp Thù Thắng của Phật giáo mà chúng được chia sẻ bởi tất cả những trường phái Phật giáo.

 

Như được biết rằng trong tư tưởng của tất cả những trường phái ngoại đạo Ấn Độ cổ xưa, họ thừa nhận một tự ngã (atman) hay nguồn gốc của linh hồn được nói là thường trụ, tự tồn, và độc lập khỏi tâm thức và thân thể cấu thành thực tại thường nghiệm của con người.  Trong tư tưởng của những trường phái ngoại đạo có một niềm tin trong một loại linh hồn ngoại tại nào đấy mà nó hoàn toàn riêng biệt, tuyệt đối riêng biệt, khác biệt với thân thể, tính ngẫu nhiên của con người, thân thể và tâm thức.  Những trường phái Phật giáo hoàn toàn phủ nhận loại tự ngã thế đó do thế sự nhấn mạnh là trên vô ngã, hay anatman.

 

Cũng có một cấp độ khác để thấu hiểu giáo lý vô ngã.  Vô ngã được hiểu trong dạng thức của sự phủ nhận một cái ngã là chủ nhân ông hay kẻ khống chế đối với những tập họp uẩn chẳng hạn như thân thể và tâm thức nhưng vẫn là một phần của nó.  Sự bám víu này đến một cái ngã tự trị - mặc dù cái ngã này không hoàn toàn riêng biệt với tập họp uẩn thân/tâm nhưng vẫn hưởng thụ một loại tự trị nào đấy – điều nảy cũng được nói là một hình thức tin tưởng trong một cái ngã (atman) hay linh hồn.  Những trường phái quan trọng của Phật giáo phủ nhận điều đó.

 

Khi chúng ta nói về Bốn Pháp Thù Thắng trong Phật giáo, vô ngã hay vị tha cần được hiểu trong những dòng này chứ không nhất thiết theo những giới hạn của cái vô ngã vi tế được trình bày trong những trường phái Đại thừa.  Những trường phái Phật giáo trên tổng thể phủ nhận bất cứ khái niệm nào về một cái ngã như độc lập với thân thể và tâm thức, hay những tập họp uẩn.  Khái niệm về một cái ngã thường trụ, ngoại tại và đơn nhất cũng bị phủ nhận.  Đây là vị thế căn bản của Phật giáo trên toàn bộ vấn đề cái ngã; nó phủ nhận một nguồn cội của linh hồn như vậy.  Tuy nhiên, đến vấn đề điều gì thật sự là cá nhân con người, có một sự khác nhau về ý kiến trong những nhà tư tưởng Phật giáo.  Một số vẫn cho rằng nó là toàn bộ những tập họp uẩn, là con người  chân thật.  Một có thì giữ ý kiến rằng sự hiểu biết tinh thần, hay tâm thức là con người thật sự.

 

Tất cả những trường phái Phật giáo thừa nhận con người tự nó như một khái niệm, môt cấu trúc danh tự.  Tuy thế, nhiều Phật tử tin rằng dưới cấu trúc danh tự phải có điều gì ấy liên hệ thực sự, một con người nào đấy phải được tìm thấy dưới sự phân tích cơ bản.

 

Tổng quát hầu hết lập trường Phật giáo là định rõ con người với hoặc là sự tương tục của tâm thức hay những tập hợp uẩn.  Trong trường hợp của Duy Thức học (Cittamatra) họ thừa nhận một sự tương tục tâm thức mà nó có một nền tảng vi tế, đấy là a lại gia thức, hay kho tàng tâm thức cơ bản.  Tất cả những trường phái này đồng thuận một cách căn bản  một điều binh thường là đề nghị phải có một con người thật sự về thực chất là nhân vật có thể được tìm thấy khi chúng ta tìm kiếm cho một sự liên hệ đằng sau hình sắc và khái niệm về con người.  Điều này khuyến nghị rằng những trường phái Phật giáo này không hoàn toàn chứa đựng khái niệm về một con người như một cấu trúc đơn thuần, một thực tại danh tự.  Đúng hơn họ tìm kiếm một loại nền tảng khách quan nào đấy mà con người thật sự là điều ấy, để tìm một loại liên hệ khách quan đến hình thức và khái niệm của nhân sinh.

 

Tuy thế, những tư tưởng gia Trung Quán như Nguyệt Xứng (Chandrakirti) và Buddhapalita phủ nhận tất cả những thứ đó và tranh biện rằng không có sự cần thiết thật sự để tìm kiếm một loại liên hệ nào đó cho nhận thức của con người và tự ngã và tìm một thực tại khách quan nào đó có một cấp độ của sự tồn tại thực chất hay đặc tính bên trong.  Từ quan điểm của Nguyệt Xứng (Chandrakirti) và Buddhapalita chính sự thôi thúc để tìm kiếm một loại nền tảng khách quan nào đó trong phong cách này gợi ra một sự một sự bám chấp đến một loại thực tại cụ thể nào đấy.  Nguyệt Xứng tranh biện rằng cung cách nhìn vào những thành phần của thế giới như thế này là xuất phát từ một sự tin tưởng trong một loại tồn tại cố hữu hay tự tính nào đó của mọi thứ.  Nếu mọi thứ có được một thực tại cố hữu có nghĩa rằng chúng có được một cấp độ độc lập.  Nếu mọi thứ có được sự tồn tại cố hữu thế thì sẽ mâu thuẩn với tính bản nhiên nền tảng mà nó là tính tự nhiên độc lập của thực tại.  Thực tế, những thứ ấy hình thành sự hiện hữu như kết quả của nhiều nguyên nhân và điều kiện (nhân duyên) cho thấy rằng chúng thiếu vắng sự tồn tại cố hữu (vô tự tính).  Nguyệt Xứng phủ nhận rằng ngay cả một cá nhân cũng không có bất cứ một bản chất thực sự nào.  Cá nhân con người là một cấu trúc của danh tự.

 

Điều này không đưa ra giả thuyết rằng một con người hay tự ngã không tồn tại nhưng con người và tự ngã thật sự tồn tại.  [Nhưng] chúng là một thực tại danh tự, một cấu trúc.  Mà đấy là một cấu trúc hình thành sự hiện hữu trong sự lệ thuộc trên căn bản của sự mệnh danh như những tập họp tâm và sắc của ngũ uẩn.  Không phải thân thể, không phải tâm thức, cũng không phải sự tương tục của tâm thức, cũng không phải tập họp uẩn của tâm và thân có thể được nói là con người.  Con người là điều gì ấy lệ thuộc trên những căn bản danh tự này.

 

Ngay cả nếu một người đạt đến trình độ thông hiểu về vô ngã, không phải ở trình độ vi tế nhất mà ở trình độ thô sơ của nhận thức về sự vắng mặt của tự ngã (như có được bất cứ một bản chất thật sự), trong chính nó sẽ có một tác động mãnh liệt trên đời sống cảm xúc của chúng ta.  Nó sẽ lập tức giảm thiểu năng lực của nhiều thể trạng vọng tưởng khác nhau của tâm thức.

 

Trong truyền thống Đại thừa thuộc trường phái Duy tâm (duy thức) và Trung Quán thêm vào giáo lý vô ngã của con người (nhân vô ngã), có sự thừa nhận về vô ngã của những hiện tượng (pháp vô ngã). Nếu chúng ta nhìn vào sự thấu hiểu vô ngã của những hiện tượng trong những trường phái Đại thừa, thí dụ như của trường phái Du già hay Duy thức, trường phái Duy tâm, người ta tranh luận rằng nhiều khái niệm về thế giới mà chúng ta có, đặc biệt nhận thức về những thực tại vật lý, trong những sự phân tích cuối cùng không đề ra một thực tại khách quan nào.  Chúng là những phóng chiếu của tâm thức.  Nhận thức của điều này là sự thực chứng tính không của những hiện tượng ngoại tại.

 

Những đối tượng vật lý mà chúng ta nhận thức như thật sự không có một sự tồn tại khách quan, chúng là những sự phóng chiếu của tâm thức.  Chúng ở trong ý nghĩa nối dài của tâm thức [sự biểu hiện của tâm thức].  Không có thực tại riêng biệt “ngoài kia”.  Trong Du già, Duy tâm, hay Duy thức có một hệ thống rất phức tạp của tư tưởng mà trong ấy nhận thức của chúng ta về thế giới ngoại tại là được giải thích trong những dạng thức làm thế nào chúng là những phóng chiếu hiển hiện từ tâm thức của chúng ta.  Chúng nói về mười lăm loại phóng chiếu khác nhau.  Trong bất cứ trường hợp nào chúng được vẽ thành bốn loại dấu vết chính mà chúng làm nên sự sinh khởi những loại nhận thức này.  Thứ nhất được nói là những dấu vết cho phép phát sinh những loại nhận thức tương tự.  Thí dụ, khi chúng ta thấy một đối tượng màu xanh dương, chúng ta nhận thức nó như một đối tượng màu xanh dương và khả năng này để nhận thức một đối tượng màu xanh dương được nói là kết quả của một dấu vết trong tâm thức chúng ta lưu lại bởi những kinh nghiệm liên tục trước đây của nhận thức của màu xanh dương.

 

Những nhà Duy Thức học cũng tuyên bố rằng khả năng của chúng ta liên hệ đến nhận thức “xanh dương” đến những đối tượng xanh dương do bởi một dấu vết được gọi là nhận thức tạo dấu ấn.  Điều này ghi lại trên tâm thức của chúng ta bởi những kinh nghiệm trước  đây.  Chúng gợi ý rằng nếu chúng ta thể nghiệm tư tưởng chúng ta khi nhận thức một đối tượng xanh dương không chỉ là định rõ như màu xanh dương mà cũng  là chúng ta có tương quan đến nhận thức của màu xanh dương với đối tượng xanh dương.  Xa hơn nữa nếu chúng ta thể nghiệm những nhận thức của chúng ta, chúng ta có khuynh hướng tưởng tượng giống như đối tượng xanh dương tồn tại một cách khách quan như một sự liên hệ của nhận thức màu xanh dương và thuật ngữ màu xanh dương.  Thật tế, trong mối quan hệ giữa thuật ngữ và nhận thức trên một phương diện và đối tượng xanh dương trên một phương diện khác, là thật sự không bị bó buộc.  Không có điều thật sự khách quan trên phần của đối tượng xanh dương chứng minh nó đúng là căn bản của sự mệnh danh ấy.  Tuy nhiên, điều này không nói là sự xuất hiện của nó như thế nào đến chúng ta và những nhà Duy thức học luận rằng điều này là một nhận thức sai lầm.

 

Điều này là những gì làm nên nhận thức nhị nguyên giữa đối tượng xanh dương và nhận thức xanh dương.  Sự nhị nguyên này là kết quả của dấu vết nghiệp báo.  Đó là những gì căn cứ trên gốc rể của dòng luân hồi vô minh.  Những nhà Duy thức học do bởi luận cứ triết lý căn bản của họvề vấn đề có hay không có một đối tượng thực tại hay thế giới vật lý có một sự giải thích khác biệt về Kinh Tuệ Trí Toàn Thiện (Prajnaparamitta Sutras).  Họ không tán thành sự giải thích chân thật của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamitta Sutras).  Đối với họ chìa khóa để thấu hiểu Sự Toàn Thiện của Kinh Tuệ Trí căn cứ trong Kinh Giải Thâm Mật (Samdhinirmocana Sutra) , trong ấy mà chúng ta tìm thấy một sự thảo luận về điều được biết như Ba Luận Đề Tự Nhiên. Đây là Biến Kế Sở Chấp, Y Tha Khởi và Viên Thành Thật Tính.

 

(PHỤ GIẢI: Ba Luận Đề Tự Nhiên - Tam tự tính

1 —  Biến Kế Chấp— (tính tự nhiên quy định) - Vì quên lãng và thành kiến nên chúng ta thường phủ lên thực tại một lớp cố chấp, vì vậy thực tại bị mang màu sắc “Biến Kế Chấp.” Biến Kế Chấp là cái thấy sai lầm về thực tại, cho rằng thực tại là những thực thể tách biệt, những cái ngã, nguyên nhân của sự phân biệt, kỳ thị, giận hờn. Để đối trị Biến Kế Chấp, hành giả nên quán niệm tự tánh Y Tha Khởi, tức là sự tương duyên của vạn hữu trong quá trình sinh diệt.

2 — Y Tha Khởi — (tính tự nhiên phụ thuộc) - Y Tha Khởi cần được sử dụng như một dụng cụ quán chiếu chứ không được nhận thức như một triết thuyết. Cố chấp vào Y Tha Khởi như một hệ thống khái niệm thì sẽ bị mắc kẹt. Quán chiếu Y Tha Khởi là để thực chứng thực tại, để thể nhập thực tại chứ không phải là để bị kẹt vào Y Tha Khởi, cũng như chiếc bè được dùng để qua sông, chứ không phải để vác trên vai. Ngón tay chỉ trăng không phải là mặt trăng.

3—Viên Thành Thực Tánh— (tính tự nhiên chân thật tối thượng của thực tại) - là một từ được dùng để chỉ thực tại khi thực tại đã được thoát khỏi màn Biến Kế Chấp. Viên Thành Thực Tánh có nghĩa là thực tại là thực tại, nó siêu việt khái niệm; bất cứ khái niệm nào cũng không miêu tả được thực tại, dù cho đó là ý niệm Y Tha Khởi. Để chắc chắn hơn, Duy Thức Học đề ra Tam Vô Tánh hầu dung hòa với Tam Tự Tánh, và để người học Duy Thức không bị mắc kẹt vào Tam Tự Tánh. Tam Vô Tánh là tinh túy của giáo lý Phật Giáo Đại Thừa.— Trích từ Buddhist Glossary – Người dịch)

 

Những nhà Duy thức học diễn giải giáo nghĩa của Kinh Tuệ Trí Toàn Thiện luận rằng chúng ta không thể  tiếp nhận  chúng từng chữ một như một sự thừa nhận trực giải,  [vì như thế nó] sẽ đi đến một hình thức của hư vô chủ nghĩa như chúng ta sẽ phủ nhận bất cứ một khái niệm đồng nhất nào.  Những nhà Duy Thức học vì thể tái diễn giải  lời tuyên bố trên rằng tất cả những hiện tượng là trống không, tất cả  những hiện tượng là thiếu vắng đặc tính, bằng sự giải thích khái niệm về đặc tính một cách khác biệt trong những phạm vi khác nhau.  Thí dụ, khi thảo luận Hiện Tượng Tướng Vô Tính hay Biến Kế Sở Chấp Vô Tính chúng ta có thể thấu hiểu nó trong dạng thức tự định  nghĩa những đặc tính và v.v…

 

Họ luận rằng sự nhận thức thế giới ngoại tại sinh khởi như kết quả của những dấu vết (hạt giống) hiện hữu trong tâm thức.  Họ nói về những loại dấu vết khác nhau.  Những dấu vết cho sinh khởi nhận thức về những đối tượng và những dấu vết cho sinh khởi những những nhận thức vọng tưởng và v.v… Chúng ta tìm thấy trong những văn bản Duy Thức học một tiến trình rất phức tạp của lý trí mà trong ấy họ diễn tả trong dạng thức của Bốn Con Đường hay Bốn Tầng Bậc trong sự đòi  hỏi của một người cho sự thấu hiểu chân lý tối hậu qua phân tích danh tự, sự tham khảo, nhận dạng, và những đặc tính.  Vì thế chúng ta đến tại điểm cuối cùng nơi mà nhận thức của chúng ta về thực tại thường nghiệm, thực tại bên ngoài như có được một loại tồn tại khách quan nào đấy, [và đó là] là trong sự phân tích tối hậu một vọng tưởng.

 

Chính nhận thức của sự chấp trước tại một loại tin tưởng nào đấy trong sự nhị nguyên này của chủ thể và đối tượng là nền tảng của vô minh.  Việc vượt thắng tính nhị nguyên này xãy ra qua sự thực chứng về sự vắng mặt của tính nhị nguyên này giữa chủ thể và đối tượng.  Vì thế, đối với những nhà Duy Thức học việc vắng mặt của tính nhị nguyên chủ thể/đối tượng là tính không tối thượng, chân lý tối hậu.

 

Bất chấp vị trí giá trị của trường phái Duy Thức học, sự hiểu biết thế này về tính bản nhiên của thế giới ngoại tại rõ ràng có một giá trị rất cao trong tâm lý trị liệu, và giá trị giải thoát.  Đây là trong ý nghĩa mà sau khi phủ nhận bất cứ khái niệm về một loại nguồn gốc linh hồn bất biến, ngoại tại rồi thì khi chúng ta chuyển sự tập trung của mình đối với tính bản nhiên của thế giới ngoại tại và bắt đầu nhìn chúng trong một sự phân tích rốt ráo như một kết quả của sự phóng chiếu từ chính tâm thức chúng ta, điều này trong tự nó sẽ có một tác động to lớn trong việc giảm thiểu cường độ của sự chấp trước của chúng ta đối với thế giới ngoại tại.  Một khi chúng ta đã thể nhận sâu như thế của những gì chúng ta nhận thức thực tại “ngoài kia” như một sự sáng tạo của tâm thức chúng ta, nó sẽ tự động ảnh hưởng [đến] một sự suy giảm sức mạnh chấp trước, mãnh lực bám víu, đến sự tồn tại thực sự “ngoài kia”.  Chúng ta không thể phủ nhận giá trị giải thoát của giáo thuyết Duy Thức học.

 

Theo quan điểm của Trung Quán luận với vị thế của Duy Thức luận là, trong một ý nghĩa nào đấy họ chỉ là đang ở nửa chặng đường.  Họ có thể phủ nhận thực tại khách quan hay bản chất của thế giới ngoại tại nhưng trong tiến trình phủ nhận tính nhị nguyên giữa chủ thể và đối tượng, họ chấm dứt sự củng cố sự tồn tại của ý thức và tâm thức để lại một loại tồn tại hay thực tại tuyệt đối hay bản chất tâm thức.  Theo quan điểm của Trung Quán tông thậm chí loại tin tưởng này trong sự tồn tại của tâm và ý  sẽ có sự ảnh hưởng làm thui chột chúng ta như là nó có thể hướng đến nhiều tùy phiền não.

 

Trong tư tưởng Trung Quán luận chúng ta có thể thấy rằng bởi vì không có tuyên bố rõ ràng trong phần của Long Thọ đến vấn đề của việc thế giới ngoại tại hay vật lý có sở hữu một loại thực tại khách quan nào đó hay không, có một ý kiến chia rẻ.  Thí dụ, một trong những luận giải sớm nhất về Long Thọ, Thanh Biện [3](3) đã cho rằng không cần thiết phủ nhận thực tại khách quan của thế giới ngoại tại.  Mặc dù chúng ta có thể cho rằng tất cả các hiện tượng vạn pháp trong sự phân tích tối hậu là trống vắng sự tồn tại độc lập, không cần phủ nhận một cách hoàn toàn một mức độ nào đấy của thực tại khác quan đến thế giới ngoại tại.

 

 

Cũng có những tư tưởng gia khác của Trung Quán Tông như Tịch Hộ [4] (4) và Liên Hoa Giới [5](5) những người cùng chia sẻ nhiều lý thuyết của trường phái Duy Thức học.  Một cách đặc biệt họ phủ nhận thực tại khách quan của thế giới ngoại tại trong khi trong khi hợp nhất loại tuệ gián nội quán ấy vào trong toàn bộ quan điểm của Trung Quán Tông mà trong sự phân tích tối hậu cả chủ thể và đối tượng là trống rỗng sự tồn tại độc lập.  Có một sự bất đồng ý kiến hoàn toàn trong những nhà tư tưởng Trung Quán.

 

Tuy nhiên, có một hệ thống thứ ba diễn giải tư tưởng của Long Thọ đại diện bởi những người như Buddhapalita [6] (6), Nguyệt Xứng và Tịch Thiên, ba đại biểu chủ yếu của hệ tư tưởng này, những người xa rời hoàn toàn trường phái Duy Thức cũng như sự giải thích của Thanh Biện, Tịch Hộ, và Liên Hoa Giới.  Họ khác với trường phái Duy Thức [cũng] như  những luận sư của Duy Thức và làm một sự phân biệt  giữa sự không thực của thế giới vật lý ngoại tại và sự tồn tại chân thật của tâm thức.  Buddhapalita, Nguyệt Xứng và những người khác nữa phủ nhận điều này.  Họ luận rằng giống như trường phái Duy Thức, khi đưa ra khái niệm thế giới vật lý ngoại tại như được bao gồm những cấu trúc nguyên tử trong dạng thức của tính tự nhiên bất khả phân và giới hạn của nguyên tử đến một sự phân tích tỉ mỉ rằng cuối cùng chính khái niệm của thực tại vật lý hướng đến sự biến mất.  Buddhapalita và Nguyện Xứng luận rằng chúng ta có thể áp dụng sự phân tích tàn hoại cùng loại đến ngay cả những sự kiện tinh thần chẳng hạn như tâm ý.   Điều này được hoàn tất bằng sự đưa ra nhữn sự kiện này đến những sự phân tích trong dạng thức của những thành phần của chúng, những lớp tạm thời của sự tương tục của tâm ý.  Khi chúng ta đưa tâm ý đến loại phân tích này, chúng ta một lần nữa bắt đầu đánh mất chính khái niệm về điều gì chính xác là sự kiện tinh thần.  Họ luận rằng không cần phân biệt giữa thế giới ngoại tại và tâm ý khi mà có sự tồn tại cố hữu (hay có tự tính).

 

Tương tự thế họ khác với những người như Thanh Biện (Bhavaviveka) do luận rằng cuối cùng ông tin tưởng trong một loại bản chất tự nhiên nào đấy mà có thể là sáng tạo một cách hợp lệ bởi tâm ý.  Trái lại những người như Buddhapalita và Nguyệt Xứng (Chandrakirti) phủ nhận điều này luận rằng không có điều gì trong một nhận thức thông thường mà không bị nhiễm ô bởi nhận thức của bản chất thực tại.  Chỉ là khi chúng ta đạt đến tâm vô phân biệt, sự thực chứng trực nhận về tính không mà chúng ta mới có thể đạt đến một thể trạng tâm thức hoàn toàn tự tại với những sự nhiễm ô hay vọng tưởng.  Do thế, Nguyệt Xứng và Buddhapalita luận rằng chỉ bởi vì một hình thức của nhận thức là lừa dối (vọng chấp) không nhất thiết có nghĩa là nó không có giá trị.  Chúng ta có thể có một nhận thức về một đối tượng nhưng cùng lúc trình độ nhận thức có thể có một cấp độ về sự lừa dối hay vọng tưởng.

 

Điểm mà Buddhapalita và Nguyệt Xứng đang nói là cho đến khi mà chúng ta không chống nổi sự cám dỗ để tìm một loại nền tảng khách quan cho nhận thức của chúng ta, tìm kiếm một thực thể  tồn tại thưởng thức một thực thể bản chất “ngoài kia”, thế thì chúng ta vẫn ở dưới năng lực của chấp thủ, bám víu đến một loại tồn tại thực sự nào đấy, một loại tồn tại cố hữu.  Do thế, chúng ta có thể có một thế giới quan có căn cứ trong phạm vi giá trị quy ước (thế đế) nơi mà chúng ta không thể tìm ra một loại nền tảng thiết yếu.  Chúng ta có thể thấu hiểu những nhận thức của chúng ta ở trình độ quy ước (thế đế) nơi mà nhân quả hay chủ thể và đối tượng có thể được chấp nhận trong những dạng thức liên hệ.

 

Chúng ta có thể xác định tối thiểu năm mức độ khác nhau của tính không hay vô ngã.

 

1-    Đầu tiên là tính không của một linh hồn mà nó được nói là thường trực cố định trọn vẹn đặc thù, v.v…

2-    Thứ  hai là sự vắng bóng của tự ngã  như một loại thực tại vật chất.

3-    Thứ  ba tính không của chủ thể/đối tượng nhị nguyên.

4-    Thứ tư là tính không của một loại thực thể bản chất mà nó không phụ thuộc trên nhận thức của tâm.

5-    Trình độ thứ năm của tính không là tính không của trường phái Hệ Quả Trung Quán mà nó là tính không của sự tồn tại cố hữu (vô tự tính).

 

Khi chúng ta nói về tính tự nhiên vô ngã của thực tại hay tính không, có nhiều trình độ khác nhau về thấu hiểu, năm cấp độ đã được thấy rõ ở đây.  Nếu chúng ta nhìn vào năm trình độ khác nhau này về tính không, mặc dù chúng đều bình đẳng trong sự thể hiện một nhận thức của sự thấu hiểu về tính không, sự khác biệt là trong khi chúng ta có thể nhận ra trình độ thứ nhất điều này không bảo đảm rằng chúng ta không bị rơi vào sự cám dỗ của chấp thủ ở sự tồn tại thật sự.  Thí dụ, chúng ta có một nhận thức về sự vắng bóng của một linh hồn như một sự thực thể thường còn bất biến trọn vẹn đặc thù trong khi cùng lúc chúng ta có thể tiếp tục giữ lấy một niềm tin tưởng về một thực thể vật chất của tự ngã.  Ngay cả nếu chúng ta đã nhận ra sự thiếu vắng của một thực thể vật chất của tự ngã, chúng ta có thể tiếp tục tin tưởng trong một thực tại thường nghiệm về một thế giới vật lý như có một loại tồn tại độc lập nào đấy.

 

Điều này gợi ý rằng ngay cả nếu chúng ta đạt đến trình độ thứ nhất, thứ hai hay thứ ba của sự thể nhận tính không, chúng ta vẫn không tự do khỏi sự bám víu hay chấp trước tại một loại nào đấy của sự hiện hữu hay luân hồi về bản chất.  Do thế, chúng ta sau đấy không hoàn toàn tự do hay giải thoát khỏi cơ cấu nguyên nhân của sự sản sinh trong cảm xúc tiêu cực như dính mắc.  Trái lại nếu chúng ta đã thể chứng trình độ cao nhất của tính không, tính không của sự tồn tại cố hữu (vô tự tính), và nó đầy khí lực và sống động mạnh mẽ trong tâm thức, nó thật sự loại trừ không chỉ bất cứ khả năng hay bất cứ không gian nào cho bám víu hay chấp trước ở bất cứ khái niệm nào về bản chất tồn tại.  Điều này cho thấy rằng những trình độ sau là vi tế hơn những trình độ ban đầu.

 

Trên nền tảng nào mà khi chúng ta đạt đến sự kết luận rằng không có điều gì thật sự sở hữu sự tồn tại cố hữu (tự tính)?  Chúng ta có thể liên hệ điều này đến kinh nghiệm riêng của chúng ta.  Trong nhận thức si mê của chúng ta về thế giới, hay một nhận thức về một đối tượng thường nghiệm, chúng ta hướng đến tin tưởng trong một thực tại cố hữu của những điều này giống như chúng thật sự tồn tại “ngoài kia”.  Chúng ta cảm thấy rằng là hiện tướng rõ ràng mà chúng ta có thể chỉ ngón tay mình vào đối tượng.  Khi chúng ta thẩm tra một cách cẩn thận và khảo sát kỷ lưỡng cho những gì nó là, thế rồi đối tượng bắt đầu biến mất.

 

Tuy nhiên, điều này không phải để gợi ý rằng không có điều gì tồn tại.  Chính kinh nghiệm quán chiếu trực tiếp của chúng ta về  sự hiển hiện trong thế giới chứng tỏ đến sự tồn tại của chính chúng ta như những chúng sinh và cũng là sự phản ứng của chúng ta với những đối tượng trong thế giới chúng ta  chứng tỏ sự tồn tại của thế giới chung quanh chúng ta.  Câu hỏi là nếu mọi thứ không thể tìm thấy được sự tồn tại khi chúng ta thẩm tra tính bản nhiên căn bản của chúng nhưng nếu cùng lúc ấy kinh nghiệm quán chiếu của chúng ta gợi ý rằng chúng thật sự tồn tại, trong ý nghĩa nào chúng ta có thể thấu hiểu chúng như là tồn tại?  Vì thực tại khách quan với một loại tồn tại độc lập nào đấy trở nên hoàn toàn không thể đứng vững được, điều này để lại duy nhất một sự lựa chọn, đó là để nói sự tồn tại của mọi thứ phải được thấu hiểu ở trình độ danh tự như thực tại danh tự.

 

Một khi chúng ta đã đạt được loại thấu hiểu này rằng sự tồn tại của những hiện tượng, sự vật, sự kiện, có thể được thấu hiểu chỉ trong những dạng thức của một thực tại danh tự, chúng ta lại tập trung trên sự chú ý của chúng ta đến tự ngã của chúng ta và những đối tượng chung quanh chúng ta, rồi thì chúng ta sẽ nhận ra điều này không phải là việc chúng ta có khuynh hướng nhận thức chính chúng ta và thế giới như thế nào.  Qua tiến trình loại này của phân tích chúng ta có thể đi đến kết luận rằng mặc dù thế giới và chính chúng ta xuất hiện là giống như chúng có được một loại tồn tại độc lập nào đấy, nhưng trong thực tế nhận thức này là sai lầm hay là vọng tưởng.

 

Về sự ứng dụng những hình thức lý trí để đạt đến một loại kết luận như thế, chúng ta tìm thấy trong Trung Quán Luân lý do tìm kiếm sự vắng mặt của sự đồng nhất và khác nhau.  Như một kết quả sự phân tích dài lâu của chúng ta khi chúng ta đạt đến một sự thuyết phục nào đó rằng sự vật và sự kiện rõ ràng là trống rỗng sự tồn tại cố hữu (vô tự tính), chúng ta đi đến một điểm mà sự thông hiểu của chúng ta với điều này thật vững vàng.  Như một kết quả của sự thuần thục lâu dài với loại thấu hiểu này có thể đạt đến tại một điểm mà nhận thức hay sự thực chứng của chúng ta sẽ tự tại hoan hỉ giống như nó là sự vắng mặt đơn thuần [của đồng nhất và dị biệt].

 

Mặc dù chúng tôi không gợi ý rằng sự thực chứng về tính không đòi hỏi sự đạt đến tịch tĩnh bất biến, tam muội hay chính định, nhưng điều dường như rằng thật sự là  nếu không đạt đến tịch tĩnh bất biến, chính định hay tam muội, sự thực chứng của chúng ta về tính không không thể thật sự tiến bộ nhiều.  Điều dường như đúng thật sự là sự tin chắc của chúng ta trong tính không của sự tồn tại bản chất hay tồn tại cố hữu (tự tính) càng sâu, chúng ta càng giải thoát hơn khỏi những hình thức của chấp thủ và bám víu vào những đối tượng và tự ngã.  Do vậy, chúng ta cũng bắt đầu cởi trói những tiến trình giam hảm thông thường mà bởi vì đó mà chúng ta hướng tới chấp thủ vào mọi việc và đối tượng với sự dính mắc mạnh mẽ và những phản ứng  của cảm xúc.

 

Cũng thế điều dường như thật sự là nếu chúng ta thẩm tra tính tự nhiên của nhiều vọng tưởng và phiền não của tâm thức, chúng ta thấy một sự chấp thủ mạnh mẽ vào đối tượng của cảm xúc đó cho dù nó là tham dục, thù hận, hay ái luyến.  Bất cứ sự thông hiểu về tính không sẽ có một ảnh hưởng trực tiếp trên việc xói mòn vọng tưởng.  Sự thông hiểu này cắt ngang trái tim của sự tồn tại cố hữu của đối tượng vọng tưởng của chúng ta.  Mặt khác nếu chúng ta nhìn vào những thể trạng tích cực của tâm thức, chúng tự do khỏi những sự bám víu và chấp thủ này; do thế, sự thể chứng tính không không thể làm tổn hại [những thể trạng tích cực] mà lại tăng cường những thể trạng tích cực.

 

Có phải là toàn bộ sự thấu hiểu và những tiến trình tư tưởng đi đôi với tính không làm xói mòn thực tại quy ước của thế gian (thế đế), thực tế kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta hay không?  Trong sự liên hệ này Đạo sư Tông  Khách Ba đã đưa ra một điểm quan trọng trong Ba Phương Diện Chính Yếu của Con Đường Giác Ngộ là ngài nhắc nhở chúng ta rằng đối với việc phát biểu phổ quát trong tất cả những giáo lý đấy là khái niệm về hiện tướng chính nó xua tan cực đoan không tồn tại  (chấp không) và khái niệm về tính không chính nó xua tan cực đoan tồn tại (chấp có).

 

Buddhapalita thật sự tổng kết vị trí của Trung Quán Luận trên vấn đề làm thế nào sự thấu hiểu về tính không thúc đẩy sự tin tưởng của chúng ta trong hiện thực của thế giới giả huyển, đời sống quy ước hằng ngày.  Ngài tổng kết những điểm tuyên bố trong một đoạn nổi tiếng của  Căn Bản Trung Quán Luận Tụng của Long Thọ.  Trong ấy Long Thọ tuyên bố rằng bất cứ điều gì là duyên sinh được giảng là trống rỗng hay tính không và điều này lệ thuộc vào tên gọi (danh xưng).  Đây là con đường trung đạo.  Buddhapalita giải thích ở đây rằng sự thông hiểu thật sự của chúng ta về tính không phải xãy ra trong những dạng thức của duyên khởi.  Hầu như chúng ta có thể nói rằng có một sự tạo dựng giữa duyên khởi và tính không.  Sự thật của sự lệ thuộc của mọi vật và mọi sự kiện trong tự nó gợi ra tính không của sự tồn tại độc lập hay sự tồn tại cố hữu.  Sự kiện rằng mọi vật là trống rỗng sự tồn tại cố hữu gợi ý chính tính tự nhiên lệ thuộc ấy.  Do vậy, trong một ý nghĩa nào đấy chúng ta là hai mặt của một cùng một vật, hai cung cách nhìn khác nhau vào cùng một vật.  Do thế, Buddhapalita đã từng đề nghị một cách thấu hiểu những giáo huấn của Long Thọ về tính không trong một cung cách đặc biệt nơi mà tính không và duyên khởi là đồng đẳng với nhau.

 

Khi chúng ta đã phát triển một sự thông hiểu như thế điều ấy nói rằng chính nhận thức về hiện tướng xua tan cực đoan không tồn tại (chấp không) và chính khái niệm về tính không đẩy lùi cực đoan tồn tại (chấp có).  Điều xãy ra ở đây là một tiến trình đảo ngược về những gì thông thường trong những trường phái tư tưởng khác bởi vì hiện tướng đề ra một cung cách liên hệ với thế giới mà điều ấy là trong thực tại danh xưng (tên gọi).  Do bởi điều này nó phủ nhận bất cứ một hình thức tồn tại bản năng và bởi vì tính không được thông hiểu trong những dạng thức của duyên khởi, cho nên chính khái niệm tính không gợi ý sự vật thực sự tồn tại.

 

Những gì thật sự là tiêu chuẩn bởi điều mà chúng ta có thể xác quyết sự vật gì ấy tồn tại hay không?  Ở đây chúng ta có thể phân biệt ba tiêu chuẩn:

 

1-    Thứ nhất là một đối tượng của ý thức hay kiến thức mà nhận thức của nó tồn tại.

2-    Thứ hai là quy ước được biết là không mâu thuẩn bởi một khái niệm giá trị khác.

3-    Tiêu chuẩn thứ ba được dùng là một sự quy ước như thế không bị phủ nhận bởi một phân tích căn bản mà nó thẩm tra vào trong khuôn mẫu thật sự của sự tồn tại.

 

Nếu chúng ta lấy thí dụ của sừng thỏ, chúng ta có thể có một khái niệm về điều này.  Chúng ta có thể có hình ảnh của nó và chúng ta cũng có thể dùng những thuật ngữ như sừng thỏ.  Mặc dù khái niệm có thể hiện hữu nhưng chúng ta không thể nói rằng sừng thỏ là thật, như nhận thức của sự không tồn tại của sừng thỏ sẽ trực tiếp mâu thuẩn với hình ảnh của một con thỏ có sừng.  Tiêu chuẩn thứ ba cần thiết bởi vì một triết lý nào đó đòi hỏi chẳng hạn như a lại gia thức, kho tàng của tâm thức, và khái niệm về tự ngã là những khái niệm được thừa nhận như một kết quả của tư tưởng triết học lý trí.  Do vậy, nếu những thứ này là thật chúng phải có thể đứng vững với sự phân tích căn bản tuy thế điều này không là thế.  Đấy là trên căn bản của ba tiêu chuẩn này mà chúng ta có thể quyết định điều gì đấy là tồn tại hay không.

 

Nguyệt Xứng đã cố gắng để đưa ra một sự thông hiểu về bản chất tự nhiên của sự tồn tại dựa trên đó không có một sự tin tưởng nào về sự tồn tại cố hữu được thừa nhận mà cùng lúc chúng ta có khả năng làm một sự phân biệt thật sự quan trọng giữa một thực tại sai lầm và một sự tồn tại thật sự.  Một thí dụ là sự khác biệt giữa một người mộng và một người thật.  Chúng ta phải có một cách phân biệt giữa hai người này.  Đây là căn bản của triết lý của Nguyệt Xứng  nơi mà một cung cách của thấu hiểu sự tồn tại được phát triển mà nó sẽ không liên hệ đến việc thúc đẩy một sự tin tưởng vào trong một loại thực tại bản nhiên nào đó của mọi sự vật và sự kiện.

 

Nó là căn bản của sự phát triển một tuệ giác nội quán vào trong tính không thậm thâm mà chúng ta có thể đạt đến sự giải thoát khỏi vòng luân hồi bằng sự phá hủy nền tảng si mê và những thể trạng bắt nguồn vọng tưởng của tâm thức hay khi được bổ sung đầy đủ bởi tâm giác ngộ (bodhicitta) mà chúng ta có thể đạt đến giác ngộ hoàn toàn qua sự thực tập về tính không.  Vì thế với giáo huấn này về Ba Phương Diện Chính Của Con Đường Giác Ngộ của Tông Khách Ba chấm dứt với một lời cổ vũ tuyệt vời để thực hành được đọc như sau, “Này con, khi con nhận ra những chìa khóa của Ba Phương Diện Chính Của Con Đường như chúng thật sự là, hãy tìm một nơi tĩnh  mịch và phát triển nổ lực mạnh mẽ và nhanh chóng đạt đến mục tiêu sau cùng.”  Đây là một lời khuyến khích mà chúng ta cần tiếp nhận.

--

Nguyên tác: The Spirit of Manjushri.

Tác giả: His Holiness the Dalai Lama- New York, New York May 1998

  • Session Three: Emptiness

Tuệ Uyển chuyển ngữ - 22/05/2010

http://www.lamayeshe.com/index.php?sect=article&id=253&chid=510

]]>
tcanhco@yahoo.com (Tuệ Uyển ) frontpage Fri, 23 Jul 2010 16:03:45 +0000
Chiếc áo mẹ may http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6406-chiec-ao-me-may.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6406-chiec-ao-me-may.html Ngày còn bé tí tẹo, tôi thường theo bà nội đi chùa vào những ngày rằm hay mùng một Âm lịch. Ngôi chùa trong làng cách nhà tôi chừng nửa cây số. Trong khuôn viên chùa trồng rất nhiều hoa phượng. Loại cây nầy thường được trồng ở các ngôi chùa cổ miền Trung. Ngày đó tôi thường mặc duy nhất một chiếc áo ngắn màu trắng. Dù tôi có vài chiếc màu khác nhau, bà nội tôi cứ vẫn bảo tôi phải thay chiếc áo màu trắng ấy mỗi khi đi chùa. Cho đến khi nó quá chật, tôi không thể mặc được nữa thì bà cẩn thận gói nó và cất vào tủ. Nó không những chật mà còn cũ và rách vài chỗ nữa.

Cho đến một buổi chiều mùa đông kia, bà nội cùng tôi ngồi nhìn mưa rơi, bất chợt bà nội hỏi rằng có biết tại sao bà thường bảo tôi mặc chiếc áo màu trắng kia không. Hai mắt bà lúc đó nhìn xa thẳm buồn vời vợi. Bà nói: “Cháu thật tội nghiệp! Nếu má cháu còn sống thì cháu đâu đến nỗi quần áo rách rưới như thế này”. Suốt tuổi thơ của tôi, bình thường, chỉ có vài bộ áo quần ngắn ngủn, cũ kỹ do bà nội đi xin từ mấy gia đình giàu có. Đi học hay đi chơi đâu cũng chỉ quanh quẩn mấy bộ đồ cũ kỹ ấy, chỉ khi nào đi chùa thì bà mới cho tôi mặc chiếc áo màu trắng mới hơn một chút. Bà nói khi mẹ tôi còn sinh tiền thì mỗi khi đi đâu xa, mẹ tôi thường đi bộ chứ không đi xe, hoặc có đi đâu xa quá mà phải đi xe thì mẹ tôi thường dành tiền uống nước dọc đường lại. Số tiền dành dụm đó, mẹ mua vải và tự tay may chiếc áo trắng kia cho tôi. Mẹ nói là phải có một chiếc áo cho đàng hoàng để tôi đi chùa lạy Phật với bà nội. Từ ngày mua được miếng vải, mẹ tôi thường chong ngọn đèn dầu lạc bên cạnh chiếc võng dứa đưa tôi ngủ trong những ngày hè nóng bức và may chiếc áo đó cho tôi. Ban ngày mẹ phải tảo tần đi làm thuê, làm mướn, hết chỗ này đến chỗ nọ; ban đêm phải lo việc nhà, nào cơm nước cho gia đình, giặt giũ áo quần cho ông bà nội, cho ba và cho tôi. Bao nhiêu công việc đó cũng ngần đến khuya. Công việc xong xuôi đâu vào đấy, mẹ mới chong đèn may áo và cũng để tiện bề chăm sóc tới khi tôi ngủ hẳn, mẹ mới lên giường nghỉ lưng một chút. Công việc may áo lúc đó không phải bằng máy mà bằng tay. Mỗi mũi kim luồn qua vải là mỗi tấm ân tình, mỗi nỗi nhọc nhằn. Mẹ đã may cho tôi một chiếc áo chỉ, với mong ước nhỏ nhoi là khiến cho tôi vui và mỗi khi đi chùa có được chiếc áo mới. Bà nội ôm tôi vào lòng với một giọng run run nói tiếp rằng chỉ vì chiếc áo đó mà mẹ tôi ngã bệnh nặng. Sau ba ngày hoàn thành chiếc áo mẹ tôi đã ra đi vĩnh viễn. Với tấm thân hạc mảnh khảnh, mẹ tôi lại làm việc quá sức, nào là phải sớm hôm tần tảo nuôi cả gia đình bên chồng, chăm sóc mẹ già, nào là tiết kiệm không dám ăn uống lặt vặt để dành tiền may chiếc áo. Bao nhiêu đó đã khiến mẹ kiệt sức, gầy gò, cơ thể ngày một yếu kém. Mẹ không đủ sức chống chọi với mưa chiều nắng sớm của khí hậu miền Trung. Tất cả những thứ đó đã thực sự cướp đi mạng sống của mẹ tôi vào cái tuổi 25.

Cái ngày tôi xuất gia, bà nội soạn trong tủ lấy ra một cái gói nho nhỏ. Bên ngoài gói một lớp vải cũ bạc màu. Bà đưa tôi gói đó và nói rằng dù đi đâu, ở đâu hay làm gì, thì tôi cũng phải trân trọng cái vật trong ấy. Vì thương nội quá nên tôi nhận cái túi vải ấy mà không biết bên trong là gì nữa. Từ ngày sống cuộc sống thiền môn, tôi thực sự quên hẳn tất cả. Ban ngày hầu thầy, lo công việc chùa tháp, ban đêm tụng kinh ngồi thiền và học kinh, luật tới khuya. Chuông hôm mõ sớm đã thực sự nuôi lớn tôi. Bây giờ tôi là một tu sĩ được rèn luyện kỹ nơi chốn thiền môn quy củ, được mọi người kính mến.

Một ngày nọ, đang lưu học nơi thành phố xa, tôi nghe tin bà nội qua đời. Lòng quá xót xa thương cảm, tôi quyết định về quê để gặp mặt bà lần cuối và cũng để tụng một thời kinh chú nguyện cho bà như lời bà tôi trăng trối. Chính bà nội đã đem lại hạt giống từ bi, mầm trí tuệ giải thoát gieo vào đầu óc trẻ thơ của tôi. Bà nội là thiện tri thức của tôi. Đêm đó, đang sửa soạn hành lý để lên đường về quê, tôi chợt nhớ tới gói vải mà nội đã trao cho tôi cách đây 20 năm. Tôi bèn mang nó theo với ý định là sẽ bỏ nó vào quan tài của nội để bà mang xuống “suối vàng”. Khi về tới chùa đã khuya, giữa tiếng côn trùng và tiếng dế buồn, tôi lặng lẽ mở gói vải ra xem thử vật gì trong ấy. Lặng người giây lát, tôi nhẹ nhàng nâng vật ấy lên. Một chiếc áo trẻ con màu trắng đục! Nhìn chiếc áo cũ ngày xưa lòng tôi càng bồi hồi xao xuyến. Nhiều miếng vá trên vai, vài chỗ vẫn còn thủng, cái cổ áo nhuốm màu lốm đốm đen như ai đã rắc mè lên đấy. Giờ đây tôi đã trở thành một tu sĩ, nhưng khi cầm trên tay kỷ vật thiêng liêng này, những kỷ niệm thời thơ ấu lại dần dần xuất hiện. Hình dáng mẹ tôi dưới ánh đèn dầu khuya, một tay giữ lấy áo, một tay cầm kim đưa lên đưa xuống, thỉnh thoảng ngừng tay kim để đẩy nhẹ chiếc võng cho tôi ngủ. Từng mũi kim xuyên qua làn vải mỏng là mẹ tôi đã khâu kết trọn quãng đời trẻ trung của người vào đấy với một hy vọng nhỏ nhoi như ngọn đèn dầu đêm khuya. Giờ đây ngọn đèn đã đi về đâu? Nó mang theo một kỷ niệm của thời quá khứ, mang theo hình bóng người mẹ suốt đời hy sinh cho con. Tôi có thể mua bao nhiêu ngọn đèn dầu cũng được. Tôi cũng có thể đốt lên bao nhiêu ngọn đèn trong đêm khuya cũng được, nhưng tôi không thể tạo ra được ngọn đèn mà năm xưa nó chứng kiến cảnh mẹ tôi cặm cụi may áo trong đêm. Giá như tôi có thể tạo ra ngọn đèn ấy, nhưng còn mẹ tôi thì sao? Đây là một mất mát lớn không thể tìm lại được trong đời tôi. Tôi nghĩ không những riêng tôi mà hầu hết con người sống trên đời này đều phải chịu cảnh thiệt thòi đó. Cái gì mất cũng có thể tìm lại được, một khi mất mẹ thì ngàn muôn năm vẫn là đứa con mồ côi. Nhưng may thay, trường hợp của tôi hạnh phúc hơn; tôi có chiếc áo đã gói trọn cuộc đời của mẹ và nó thay thế mẹ để theo tôi suốt cuộc đời và sẽ theo tôi xuống lòng đất lạnh.

Từ ngày đó, tôi không còn mẹ nữa, nhưng tôi có cả một quãng đời của mẹ trong chiếc áo cũ kia. Trong chiếc áo đó không những có hình dáng mẹ âm thầm đưa từng mũi kim sợi chỉ, mà còn có cả tiếng ầu...ơ ru con giữa trưa hè hay trong đêm vắng nữa. Tuổi thơ của tôi, cuộc đời trẻ trung của mẹ và lòng thành kính của nội đã gói trọn trong chiếc áo cũ đó. Cho dù chiếc áo đó có bị thời gian bào mòn, không gian thay đổi trong quy luật vô thường. Một ngày nào đó nó sẽ tan hoại đi, nhưng 3 yếu tố: Tuổi thơ của tôi, cuộc đời của mẹ và lòng thành của nội sẽ không bao giờ phai mờ. Chính ba yếu tố đó đã tạo ra cuộc sống đạo hạnh của tôi. Chiếc áo cũ rách đó quý hơn tất cả những thứ gì tôi có trên đời.

Khi nhận ra giá trị của chiếc áo, tôi quyết định không bỏ vào quan tài của nội. Nếu bà nội tôi biết được sự thay đổi này, thì bà cũng vui vẻ nơi “chín suối”. Tôi nghĩ đó cũng là ý nghĩ của nội tôi khi trao nó cho tôi. Chiếc áo có một tiềm lực vô biên. Tuổi thơ của tôi đã đi qua. Cuộc đời trẻ trung của mẹ cũng lùi vào quá khứ và nay bà nội tôi cũng ra đi vĩnh viễn. Chỉ có chiếc áo vẫn còn bên tôi, có nghĩa là tôi mất mẹ, mất nội, nhưng thực ra chưa mất gì cả. Nếu trong cuộc đời hành đạo của tôi có làm được điều gì ích lợi cho đời, cho chúng sanh, phần lớn cũng do nơi chiếc áo cũ rách kia. Đó là do đức hy sinh của nội, lòng thương bao la của mẹ gói trọn trong đó. Không những thế, mà mỗi khi nhìn chiếc áo đó thì tôi không thể lơ đãng trong tu tập, trong đạo hạnh để thời gian trôi qua vô ích. Khi nào tôi giải đãi, yếu kém thì chiếc áo cũ rách kia là lời khuyên hữu hiệu nhất, động viên cho tôi tiếp tục lý tưởng của mình. Tôi tin rằng nội và mẹ sẽ thảnh thơi an lạc nếu tôi tu hành nghiêm túc.

Khi viết lên những dòng này để tưởng nhớ một kỷ vật giá trị, người đọc chắc sẽ khinh thường vì lẽ tôi xuất thân hàn vi. Một lo ngại khác là các pháp hữu (bạn đạo) cho rằng tôi xuất gia không phải vì một lý do chính đáng, như là mến mộ đạo Phật, say mê nghiên cứu giáo lý hay mang một lý tưởng cao thượng. Nếu quả như thế thì tôi sẽ không biện minh lời nào, vì đó là sự thật đời tôi. Chính tôi cũng thấy xấu hổ rằng ngoài những nguyên nhân ấy ra, tôi thật sự không có một hoài bão cao xa hay tâm nguyện nào khi cất bước xuất gia. Khi tôi thực sự chấp nhận nếp sống thiền môn, với chuông chiều mõ sớm, thời gian ấy tôi rất xúc động và say mê với ý nghĩa câu: “Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập. Như nhất chúng sanh vị thành Phật. Chung bất ư thử thủ Nê-hoàn”, nghĩa là (tôi nguyện sẽ không chứng Phật quả cho tới khi nào trong cõi đau khổ này không còn một chúng sanh nào chưa giác ngộ giải thoát). Trong sinh hoạt hằng ngày trong chốn thiền môn, tôi cũng bị thuyết phục bởi tất cả những động tác dù lớn hay nhỏ cũng đều đặt trọng tâm vào sự quan tâm chú nguyện tới chúng sanh. Tất cả những động tác đều đi kèm với một bài kệ, mỗi bài đều có mang câu “đương nguyện chúng sanh”. Đó là tiếng sét lý tưởng đã đánh mạnh vào đầu óc trẻ thơ của một chú tiểu. Khi còn là một chú điệu để chỏm, tôi không ân hận thân phận thấp hèn của mình. Trái lại tôi rất cảm ơn thân phận và hoàn cảnh đó. Chính cái thân phận ấy và hoàn cảnh ấy đã mang tôi vào chốn thiền môn và cũng chính hoàn cảnh ấy đã khiến tôi siêng năng tu tập. Thành quả mà tôi có được như hôm nay đều xây dựng trên căn bản bần cùng khốn đốn trong suốt quãng thời gian thơ ấu của tôi.

Tôi về thăm lại chùa xưa, đồng thời dự đám tang bà nội lại đúng vào mùa hoa phượng nở đỏ sân chùa, gợi cho tôi nhớ lại những kỷ niệm ấu thơ, những ngày đầu đi chùa. Hoa còn đó, vẫn nở như xưa mà cảnh vật và con người đổi thay nhiều quá. Tôi vẫn đứng trước cảnh chùa đầy hoa phượng giờ đây khác với tôi năm xưa theo nội đi chùa giẫm lên hoa phượng tại nơi này. Ngày xưa, tôi là thằng bé đi theo nội và còn có cả mẹ may áo cho tôi. Ngày nay, hoa phượng vẫn nở đỏ, bầu trời vẫn xanh, sân chùa vẫn rợp bóng, mà bà không còn, mẹ cũng khuất bóng từ lâu. Đứng giữa cái thường và cái vô thường đó, đầu óc tôi bối rối giữa quá khứ và hiện tại, vừa rõ ràng mà cũng vừa mơ hồ. Đứng giữa thường và vô thường, giữa quá khứ và hiện tại, con người tự tìm cho mình một lẽ sống thật có ý nghĩa là một chuyện không dễ dàng. Miên man trong ý nghĩ đó, tôi lặng lẽ cúi xuống nhặt một chiếc hoa phượng nhẹ nhàng ép vào trong chiếc áo cũ rách kia và cất bước tiến về phía trước để đi cho hết con đường mà nội và mẹ đã gởi gắm trong chiếc áo đó. Hy vọng một ngày nào đó tôi trở lại chốn xưa, ôm chiếc áo vào lòng nằm trên tấm thảm hoa phượng trước sân chùa xưa để nhìn mây trắng ngàn muôn năm cứ vô tình trôi qua trước mắt.

 

Trí Nguyệt

 

alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Trí Nguyệt) frontpage Fri, 23 Jul 2010 16:01:04 +0000
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ ĐỐI VỚI ĐẠO VÀ ĐỜI http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6405-vai-tro-cua-nguoi-phat-tu-doi-voi-dao-va-doi.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6405-vai-tro-cua-nguoi-phat-tu-doi-voi-dao-va-doi.html  

A. Tình trạng chung của Phật tử Cần Thơ

Chúng tôi không dám đề cập đến các tỉnh thành như Huế, Đà Nẵng, Bình Dương…về việc phát triển Gia đình Phật tử rất tốt, sinh hoạt đều đặn, thường xuyên giáo dục sống tốt đời đẹp đạo, sống mẫu mực của một người con Phật. Riêng tại TP Cần Thơ, Phật tử rất nhiều, nhưng tồn tại một lý do nào đó vẫn chưa thành lập được Gia đình Phật tử. Đó cũng là niềm trăn trở nhiều nhất của Ban Hướng dẫn Phật tử nói riêng và Thành hội Phật giáo TP Cần Thơ nói chung.

Cần Thơ trung tâm của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, là của ngõ kinh tế, văn hoá... Chính những điều kiện địa lý thuận lợi nói trên và khí hậu điều hoà của bốn mùa cây trái nên con người Cần Thơ, Phật tử Cần Thơ cũng mang trong tâm hồn của mình những nét đẹp tâm linh thuần lương đôn hậu, sống trong tinh thần đạo đức và luôn lạc quan hiếu khách.

1/. Ưu diểm của Phật tử Cần Thơ

Nói một cách khiêm tốn hơn 50% dân cư sống tại TP Cần Thơ đều có truyền thống theo đạo Phật. Cuộc sống của Phật tử luôn định hướng cho mình theo con đường đạo đức. Quy y Tam bảo là nền tảng căn bản của người dân Cần Thơ. Có rất nhiều gia đình văn hoá là những người Phật tử sống trong tinh thần tốt đạo đẹp đời, trong cuộc sống tràn đầy ý nghĩa.

a/. Đối với đạo

Phật tử Cần Thơ luôn được hướng dẫn luôn được giáo huấn từ chư Tôn Thiền đức Tăng Ni lãnh đạo Thành hội Phật giáo Cần Thơ. Ban Hướng dẫn Phật tử, được sự trợ duyên nhiệt tình của các Ban trong Thành Hội. Cụ thể như Ban Hoằng Pháp, Ban Từ thiện Xã hội… đã hoạch định cho Phật tử Cần Thơ một hướng đi, một hành trình tìm về chốn bình yên.

Tại Cần Thơ, có rất nhiều chùa mở khoá tu, mở đạo tràng hướng dẫn Phật tử tu tập. Phật tử đến các đạo tràng ngoài việc thực hành các thời khoá Niệm Phật còn có các giảng sư triển khai, bổ sung kiến thức Phật giáo làm hành trang cho hàng con Phật sống đúng chánh pháp, hiểu đúng chánh pháp, làm đúng chánh pháp, tu đúng chánh pháp.

b/. Đối với đời

Ngoài việc tu tập và tu học Phật pháp để kiến tạo cho mình một thân thể khỏe mạnh, một tình thần yêu thương tha thứ, Phật tử cần Thơ còn tham gia các hoạt động Phật sự và xã hội cụ thể như: các phong trào từ thiện cứu trợ đồng bào thiên tai lũ lụt, tai nạn rủi ro, các mảnh đời bất hạnh, các hoàn cảnh neo đơn, trẻ em khuyết tật, trẻ em nghèo hiếu học…Phật tử Cần Thơ còn tham gia các phong trào hiến máu nhân đạo, bảo vệ môi trường, xanh hoá đô thị, thực hiện nét sống văn minh.

2/. Những tồn tại

Bên cạnh những ưu điểm sẵn có của Phật tử Cần Thơ còn có những tồn tại cần phải giải quyết dứt điểm:

- Thứ nhất, tuy Phật tử Cần Thơ siêng tu, thích học, có lòng từ bi hỷ xả, vô ngả vị tha, nhưng vẫn còn rời rạc mang tính tự phát, chưa được đồng bộ, cũng như chưa được tập hợp lại thành một tập thể thống nhất.

- Thứ hai, đó đây vẫn còn một vài đạo tràng mang nặng cái nhìn “chùa nhà chùa mình” nên việc hoạt động Phật sự và xã hội gần như co cụm lại.

- Thứ ba, vẫn còn một số ít Phật tử nghiên cứu Phật học, nhưng không chịu xả bỏ não phiền, quãng gánh lo âu không ứng dụng lời dạy của Phật làm thuốc trị lành phiền não mà trái lại dùng sự nghiên cứu chấp mê ngôn ngữ rồi vấn nạn bạn đồng tu, chê bai pháp môn, kết bè lập nhóm, gây phân hoá nội bộ.

- Thứ tư, thế hệ thanh thiếu niên được gia đình dạy dỗ, đến chùa tu học theo sự hướng dẫn của chư Tôn đức Tăng Ni thấm nhuần lời dạy của Đức Phật phát huy rất tốt tiềm năng của tuổi trẻ, nhưng vẫn còn một số ít tuổi trẻ còn sống lang thang không nơi nương tựa huân nhiễm tật xấu, sống mất phương hướng, sa đọa trụy lạc, huỷ hoại tương lai. Đó là những tồn tại cơ bản mà chúng tôi đang đề ra hướng khắc phục.

B/. Hướng khắc phục

Hoà theo xu thế phát triển của Phật giáo nước nhà, Phật giáo Cần Thơ cũng sẽ hoạch định cho mình một điểm đến hoàn hảo hơn, trọn vẹn hơn.

Trọng trách hướng dẫn Phật tử không chỉ là nhiệm vụ riêng của Ban Hướng dẫn Phật tử mà là của các Ban ngành của Giáo hội. Phật tử là nguồn nhân lực mạnh mẽ hộ trì chánh pháp, là nguồn nhiên liệu dồi dào phục vụ cho bộ máy Phật giáo đi thẳng tới tương lai Chân-Thiện-Mỹ.

Vì thế chúng tôi Ban Hướng dẫn Phật tử Thành hội Phật giáo TP Cần Thơ cùng với các Ban ngành của Giáo hội Phật giáo TP Cần Thơ cố gắng hết sức mình để đào tạo, để xây dựng tập thể Phật tử TP Cần Thơ trở thành một tập thể thuần thành, thống nhất toàn tâm toàn lực hộ trì chánh pháp cũng như hộ trì phần thân tâm của Phật tử. Chúng tôi cũng rất mong chờ sự quan tâm đúng lúc kịp thời của Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương để tạo điều kiện, tạo thêm lực đẩy giúp chúng tôi thành công trong công tác thành lập Gia đình Phật tử.

Nhờ vậy, chúng tôi sẽ tiếp nhận nhiều hơn tầng lớp thanh thiếu niên nhất là thanh thiếu niên còn lang thang chưa có cái nhìn đúng hướng. Chúng tôi sẽ kết hợp với Ban trị sự Phật giáo TP Cần Thơ mở các trại hè Gia đình Phật tử giúp cho thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống bình yên và cuộc sống tràn đầy ý nghĩa, tạo sự gần gũi gắn kết giữa tâm linh Đạo và cuộc sống Đời, để cho Đời và Đạo luôn gặp nhau trong cùng một tần số an lạc.

Chúng tôi cũng rất chờ sự cộng tác các huynh trưởng Phật tử thuần thành, biết hy sinh, biết phụng sự cho đạo cùng với chúng tôi gần gũi với các em lang thang để kịp thời kéo các em ra khỏi nẻo sai quay về đường đúng, giúp cho các em phát huy đúng mực những tiềm năng của tuổi trẻ. Và chúng tôi cũng sẽ không quá lời khi nói rằng: Thế hệ trẻ là thế hệ của Phật giáo, tương lai tươi sáng…là hậu duệ tuyệt vời cho Phật giáo mai sau./.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

Ban Hướng dẫn Phật tử TP Cần Thơ

http://www.giaohoiphatgiaovietnam.vn/

alt

 


]]>
tcanhco@yahoo.com (Ban Hướng dẫn Phật tử TP Cần Thơ) frontpage Fri, 23 Jul 2010 15:58:06 +0000
VÀI GÓP Ý ĐỊNH HƯỚNG SINH HOẠT CHO GIỚI TRẺ http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6404-vai-gop-y-dinh-huong-sinh-hoat-cho-gioi-tre.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6404-vai-gop-y-dinh-huong-sinh-hoat-cho-gioi-tre.html

Theo thống kê, hiện nay có bao nhiêu thanh thiếu nhi Phật tử trong số những Phật tử Việt Nam? Từ thực tế khảo sát tình hình tu học, thính pháp, sinh hoạt tại các tự viện, chúng ta cũng có thể thấy thanh thiếu nhi Phật tử hiện nay tuy số lượng có tăng trong những năm gần đây; thế nhưng, so với tín đồ trẻ của các tôn giáo bạn thì con số đó chưa tương xứng với quá trình phát triển của một tôn giáo đã có mặt gần 2.000 năm trên đất nước Việt Nam. Thực trạng đó là một nỗi ưu tư sâu đậm cho những ai quan tâm đến lứa tuổi thanh thiếu nhi, và đây cũng là một niềm trăn trở của những người làm Phật sự trong thời kỳ hội nhập. Phải chăng vì Phật giáo quá già cỗi, cứng nhắc đến nỗi giới trẻ không thể đến gần?

Thực chất, đạo Phật là đạo trí tuệ, giáo lý Phật giáo rất uyển chuyển linh động, có khả năng làm cho con người có sự năng động sáng tạo rất phù hợp với giới trẻ. Nhưng làm thế nào để tưổi trẻ tìm về với Phật giáo?

Nguyên nhân thực tế

Đức Phật đề cập đến 4 điều không nên xem thường: Đóm lửa nhỏ, con rắn nhỏ, Tỳ kheo trẻ, vị hoàng tử trẻ. Điều này đã khẳng định Đức Phật rất quan tâm đến giới trẻ dù xuất gia hay tại gia. Lời dạy của Ngài cũng cho chúng ta một bài học về sự chú trọng đến các vấn đề tuy rất nhỏ nhưng cần phải được nuôi dưỡng, chăm sóc và cảnh giác… Đó là một quy luật phát triển tất yếu của cả nhân loại trong tương lai.

Đức Phật khuyên chúng ta hãy thực hành giáo pháp của Ngài để thực nghiệm trạng thái an lạc giải thoát . Đặc tính này rất phù hợp với tính hiếu kỳ, tính tự lập và tính thực tế của giới trẻ. Giới trẻ là những con người luôn muốn chứng minh mình có đủ khả năng để nghiên cứu tìm tòi, có đủ khả năng để tự tạo dựng cuộc sống của bản thân trong tương lai, và cũng có đủ khả năng để công hiến cùng vận mệnh đất nước.

Tuổi trẻ không muốn đi theo một lối mòn, không muốn bị đúc khuôn mà luôn khám phá bản thân và thế giới xung quanh, muốn kiến tạo một cuộc sống mới. Vì vậy, giới trẻ chỉ tin vào những gì mang lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống hiện tại mà không tin những gì mơ hồ huyền ảo. Chính vì tính chất này mà đôi khi dẫn tuổi trẻ mải mê chạy theo cuộc sống vật chất mà quên đi yếu tố truyền thống đạo đức tâm linh. Vì vậy cần phải giáo dục giới trẻ có một trình độ hiểu biết, tư duy phân biệt rõ tốt xấu, hiểu rõ nhân quả để có khả năng kiểm soát các hành vi của chính mình. Lấy đạo đức làm nền tảng để xây dựng một con người hoàn thiện có đủ tố chất Chân-Thiện-Mỹ, có ích cho xã hội và nhân loại.

Tìm phương pháp sinh hoạt

Đề cập đến Gia đình Phật tử: một tổ chức có bề dày lịch sử hơn hai phần ba thế kỷ, dù trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử. Trong suốt quá trình sinh hoạt, Gia đình Phật tử cũng gặp không ít chướng duyên, nhưng vẫn tồn tại bền vững trong sự thương yêu đùm bọc của chư Tôn đức tăng ni trong Giáo hội.

Hiện nay, Có thể do hình thức sinh hoạt thiếu tính sáng tạo, không đủ sức hấp dẫn tầng lớp thanh, thiếu, đồng niên??. Mặc dù các anh chị huynh trưởng lãnh đạo tổ chức Gia đình Phật tử đã có nhiều cố gắng nhằm cải cách và nâng cao trình độ sinh hoạt nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời đại mới. Tự nhìn lại mình thấy có thể do chính chúng ta cũng đã già nua, bảo thủ và trì trệ không còn sự linh hoạt và nhiệt tâm của tuổi trẻ nữa. Do vậy, chúng ta cần đặc biệt phải quan tâm bồi dưỡng các đoàn sinh có năng lực, đức hạnh để kế tục thế hệ trẻ trong tương lai.

Tại các tỉnh thành phía Bắc, phải chăng hình thức Gia đình Phật tử chưa tiếp cận được với thanh niên Phật? Có thể do nhiều nguyên nhân bởi hoàn cảnh, tập quán, bản sắc văn hóa địa phương, tâm lý, nhận thức, sở thích?

Sự biến đổi của hoàn cảnh, sự phát triển của thời đại, luôn đưa tới phát sinh nhu cầu mới. Do vậy tư tưởng thanh niên Phật giáo cũng phát triển nhiều hình thức và mô hình sinh hoạt như Câu lạc bộ đoàn thanh niên Phật tử (điển hình tại Hà Nội). chúng ta phải suy nghĩ và lý giải hiện tượng này.

Khi đã phát hiện những yêu cầu mới nảy sinh, phải tìm cách bổ sung những hình thức sinh hoạt mới để thích hợp và thu hút giới trẻ. Hình thức sinh hoạt mang tính chất tổ chức Gia đình Phật tử truyền thống cần được duy trì như hình thức cốt lõi, cơ bản. Trên nền tảng đã có chúng ta xây dựng cải cách mô hình và hình thức sinh hoạt mới, phù hợp với những yêu cầu hoàn cảnh mới, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu thời đại, theo kịp được sự phát triển thực tế là điều cần thiết.

Những kiến nghị

-Ban Hướng dẫn Phật tử TW phải có giáo trình, tài liệu cho thanh thiếu nhi thống nhất trong toàn quốc để hướng dẫn các em theo tôn chỉ giáo luật và pháp luật của nhà nước, sống hướng thiện đạo đức, có khuôn phép kỷ luật, sống có mục đích có lý tưởng.

-Thường xuyên mở các khóa huấn luyện ngắn hạn để đào tạo thanh thiếu niên nòng cốt trong các tỉnh thành hội và Tự viện tại phía Bắc.

-Ngoài ra tổ chức cho các em tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, cũng là một cách thiết lập sợi dây gắn kết thanh thiếu niên với Phật giáo làm tốt Đạo đẹp Đời.

Điều quan trọng nhất đòi hỏi các quý thầy trụ trì tại các cơ sở có tổ chức thanh thiếu niên phật tử phải là người có tâm huyết, có lòng vị tha rộng mở, bao dung độ lượng và yêu quý trẻ, đồng thời phải trang bị đầy đủ kiến thức Phật học lẫn thế học, nhất là kiến thức về tâm lý của lứa tuổi thanh thiếu nhi, biết sử dụng thành thạo các phương tiện truyền thông hiện đại như vi tính, kết nối mạng .v.v… sẽ dễ dàng thu hút tạo ra cầu nối đưa giới trẻ đến chùa. Ngôi chùa thực sự là chỗ dựa tinh thần vững chắc là nơi sinh hoạt văn hóa lành mạnh đem lại lợi ích cho mọi người, cùng nhau đoàn kết góp phần xây dựng một thế giới an lành, hạnh phúc…

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

Cư sĩ Xuân Loan

Phó thư ký Ban Hướng dẫn Phật tử TWGHPGVN

http://www.giaohoiphatgiaovietnam.vn/

hoa Sen .jpg, 19 KB

 


]]>
tcanhco@yahoo.com (Cư sĩ Xuân Loan) frontpage Fri, 23 Jul 2010 15:55:33 +0000
PHƯƠNG THỨC TÔ CHỨC HỘI TRẠI DÀNH CHO PHẬT TỬ TRẺ http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6403-phuong-thuc-to-chuc-hoi-trai-danh-cho-phat-tu-tre.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6403-phuong-thuc-to-chuc-hoi-trai-danh-cho-phat-tu-tre.html

Chủ đề chúng tôi xin trình bày hôm nay với toàn thể Quý đại biểu hội nghị là “Những điều kiện cần có để tổ chức tốt hội trại thanh thiếu niên Phật tử, trại hè sinh viên học sinh Phật tử được thành công”.

Thứ nhất, về nhân sự của ban tổ chức, chúng ta cần phải có những nhà lãnh đạo giỏi, thiết kế mô hình, dự đoán được các tình huống xây ra. Những nhà lãnh đạo có đức độ, có uy tín, ngoại giao rộng. những vị này giữ các vị trí như Trưởng ban và Phó ban. Về điểm này, gần như tất cà các hội trại Phật giáo đều nghiêm túc cũng như làm rất tốt khi thỉnh mời.

Thứ hai, dưới hai chức vị Trưởng ban và Phó ban, chúng ta cần có những chuyên viên có khả năng chuyên nghiệp, nhiệt tình. Những vị này không nhất thiết phải các thầy cô nhằm đảm trách một số bộ phận quan trọng như sau:

- Ban truyền thông, báo đài: Ban này có nhiệm vụ truyền tải đến các cơ quan ban ngành, hoặc các đoàn thể hữu quan. Nhiệm vụ thứ hai là đưa tin hội trại đến quần chúng.

- Ban âm thanh, ánh sáng. Ban này nhằm khắc phục một số sự cố như cúp điện, âm thanh bị trục trặc, bóng đèn bị hỏng…nói chung là đáp ứng mọi tình huống, mọi lúc mọi nơi diễn ra các chương trình của hội trại.

- Ban xướng ngôn, dẫn lễ. Một buổi lễ hoành tráng, một hội thảo quy mô càng khắc khe đối với người dẫn chương trình. Vị này phải quán triệt nội dung, diễn biến nhằm thông báo kịp thời các thông tin đến tất cả các thành viên tham gia hội trại. Khi phát ngôn, cần đảm bảo một vài yếu tố như: chất giọng truyền cảm, âm thanh rõ ràng, tốc độ phù hợp cho các chương trình…

- Ban trang trí. Nếu như Ban xướng ngôn cho người ta cảm nhận được các thông tin từ thính giác thì Ban trang trí cho khách dự các thông tin từ thị giác. Quy mô của hội trại cũng có thể được tính trên khoảng không gian mà nhà trang trí quan tâm. Vẻ đẹp mỹ quan được định giá theo từng centimet gam màu và hình ảnh tượng trưng, các băng roll, khẩu ngữ, các bảng thông tin, thông báo cho chúng ta biết được sự chu đáo, chuẩn mực và tính chất phong phú của nhà trang trí.

- Ban ẩm thực. Người ta có thể thiếu các thông tin, tri thức nhưng vẫn sống nhưng nếu thiếu dưỡng chất và thức uống thì người ta không thể sống. Các đại biểu là những vị khách quý do chúng ta mời thỉnh thì cách bố trí phù hợp và khoa học phải đặt lên hàng đầu. Tất nhiên, chúng ta phải có một bộ phận chuyên viên chế biến thực phẩm và phân phối bố trí đáp ứng được hai tiêu chuẩn là đúng giờ và không thiếu hay thừa so với số lượng khẩu phần.

- Ban vệ sinh. Nhiệm vụ của Ban này giải quyết những vật liệu không cần thiết, làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan và sức khỏe

- Ban trật tự. Nhằm tránh các tình huống mất trật tự đáng tiếc xảy ra, ban trật tự luôn đặt trong tình trạng cảnh giác cao độ. Và cũng nhằm tạo nên vẻ đẹp trên lộ trình thực hiện các nghi lễ, nghi thức cho trang nghiêm đòi hỏi các vị nằm trong ban trật tự phải phối phối hợp chặt chẽ với Ban tổ chức.

- Ban điều phối. Phân công, phân nhiệm, sắp xếp nơi ăn chốn nghỉ, xử lý các tình huống xảy ra là nhiệm vụ chính của Ban điều phối.

- Ban biên tập. Công việc biên tập kỹ yếu rất phức tạp, từ khâu duyệt bài, dàn trang, chèn hình ảnh, xử lý các tình huống nộp trễ…cho ta thấy các công đoạn rất công phu của những người làm công tác biên tập. Ngoài ra còn công đoạn in ấn cũng không kém phần nhiêu khê.

- Ban nghi lễ. Bất kỳ lúc nào diễn ra các nghi thức có sự chứng minh của chư Tôn giáo phẩm, chư Tôn đức chứng minh đều phải phải có Ban nghi lễ. Tùy theo tính chất quan trọng của buổi lễ mà thành phần Ban nghi lễ nhiều hay ít. Có khi thì chỉ cần bốn vị nhưng đôi khi thì vài chục vị. Đôi khi phải có kèn trống, có lúc lại có chương trình múa lân…mọi việc nhất nhất đều theo sự điều khiển của Ban xướng ngôn.

- Ban thư ký, thủ quỷ. Ban thư ký có thể làm công tác ghi nhận phần tịnh tài, phẩm vật hiến cúng, cũng có thể ghi nhận sự có mặt của các đoàn, ghi nhận các tiết mục đăng ký tham gia. Thủ quỷ là người bảo quản phần tịnh tài và chi xuất theo công việc mà Ban tổ chức đã phê duyệt.

- Ban chăm sóc sức khỏe. Hội trại Thanh thiếu niên Phật giáo gồm các đối tượng trẻ tuổi, có thể chưa thích nghi với việc đi xe, chốn đông người, chưa quen khí hậu thời tiết, giờ giấc hội trại khác với nhịp sống hằng ngày nơi tư gia nên có các bệnh lý khó chịu. với các tình huống đó hội trại cần phải có các y bác sĩ chăm sóc, đảm bảo sức khỏe cho các thành viên cho tới ngày ra về là trọng trách của Ban sức khỏe.

- Ban giám khảo, khen thưởng. Hội trại Phật giáo là nơi diễn ra các chương trình tu học và vui chơi giải trí lành mạnh. Để trắc nghiệm những trại sinh xuất sắc, những tập thể đạt chuẩn trong các kỳ thi đòi hỏi phải có Ban giám khảo để khẳng đinh và Ban khen thưởng tuyên dương các danh hiệu và tặng những phần quà khích lệ của Ban tổ chức.

Thứ ba, chúng ta cần có một nhóm người thiện nguyện, thuật ngữ chuyên dùng là các tình nguyện viên. Những người này phải có kiến thức cơ bản về Ban tổ chức, diễn biến hội trại, nhất là bộ phận mình đang đảm trách. Kế đến, người tình nguyện viên cần có thêm một số kiến thức đặc thù về địa lý, nét văn hóa tại nơi diễn ra hội trại có thể nhân lúc trên xe có thể giới thiệu thêm cho quý khách hiểu thêm về địa phương mình. Điều quan trọng nữa là người tình nguyện viên phải có sức khỏe tốt, khi phải đóng vai người hành đường dọn và dẹp thức ăn đảm bảo thời gian cho đại biểu; khi phải đóng vai người thị giả làm công tác giúp việc cho Ban tổ chức…Ngoài ra, người làm tình nguyện viên cần phải có phẩm chất đạo đức tốt như lịch sự, lễ phép, ân cần, chu đáo…điều này làm tăng thêm uy tín cho Ban tổ chức cũng như tạo cảm giác dễ chịu, gây ấn tượng đẹp cho quý vị đại biểu trong suốt thời gian diễn ra hội trại.

Thứ tư, chúng ta cần phải có một khuôn viên vừa chừng, không quá rộng cũng không quá hẹp, nói chung là có đủ sức chứa cho các nhu cầu sinh hoạt nhất là đáp ứng được chương trình chò chơi, thi cử,… hay hội hợp. Bởi lẽ, nếu quá rộng thì khi di chuyển đến các địa điểm khác nhau theo chương trình sẽ mất rất nhiều thời gian, có nơi phải tốn thêm một tuyến xe trung chuyển, điều này không chỉ mất thời gian mà còn gây khó khăn cho Ban tổ chức khi phải huy động một lực lượng xe hùng hậu, tiêu thêm một khoản phí nếu muốn đảm bảo yếu tố thời gian. Nếu hội trại kéo dài vài ngày, chúng ta cần phải có nơi nghỉ ngơi cho đại biểu, khách mời.

Thứ sáu, chúng ta cần phải có nguồn tài chính đủ sức cho suốt thời gian diễn ra hội trại. Muốn có được điều đó, chúng ta cần phải có được cảm tình với các Phật tử có điều kiền, với các thương gia, mạnh thường quân, các đơn vị tài trợ. Ngòai ra, chính quyền địa phương cũng còn là một nhà tài trợ rất quan trọng đối với Ban tổ chức.

Thứ bảy, người quản trò: với các hội thảo nhằm báo cáo kinh nghiệm thì không cần người quản trò, nhưng với thanh thiếu niên thì đây là điều bắt buộc không thể thiếu. Bởi lẽ, ngoài các buổi nghe pháp, thi cử, các em còn cần một khoảng lớn thời gian cho các trò chơi, những bài hát tập thể…nếu không phải là những chuyên viên thiện nguyện, có năng khiếu thì hội trại trở nên tẻ nhạt và đơn điều, nếu không muốn nói là chưa hiểu tâm lý của các em.

Như vừa nêu trên là một vài điều kiện cần thiết cho một hội trại thanh thiếu niên Phật tử, sinh viên học sinh Phật tử. Nếu nói đầy đủ hơn, chúng ta phải kể đến yếu tố thời gian diễn ra hội trại. Bởi lẽ, các trại viên đều là học sinh; đã là học sinh thì không thời điểm nào tốt hơn là 3 tháng hè, thời điểm nghỉ học của học sinh.

Chúng ta cũng phải đề cập đến trình độ học Phật của các đơn vị tham gia. Gặp phải các trại viên chưa từng tham gia bất kỳ chương trình nào cho đến thời điểm tham dự hội trại thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến một vài chương trình hội trại như thi giáo lý, thi ứng xử, thi cắm hoa,…có thể nói hội trại chỉ là thành quả miệt mài của Ban hướng dẫn Phật tử, Ban Hoằng pháp đã làm trước đó.

Tóm lại, chúng tôi vẫn biết Ban tổ chức rất khiêm tốn khi đưa ra đề tài tham khảo này nhưng chúng tôi cũng cố nêu lên như một lời chia sẻ chân thành sự nhọc nhằn, vất vã của Ban tổ chức. Lý do kế nữa cho việc chọn đề tài này của Ban Tổ chức là nhằm chia sẻ một phần kinh nghiệm cho một vài người bạn cũng như một vài địa phương còn quá mới với chương trình này xem như là một động thái biểu hiện cho sự tùy hỷ với tâm nguyện phát triển Phật pháp đến tầng lớp thanh thiếu niên, một tầng lớp trẻ được kỳ vọng rất nhiều cho Phật pháp tương lai cũng như cho thế hệ kế thừa cho đất nước mà Ban tổ chức đã đặt niềm tin vào các đại biểu, những đồng nghiệp chân chính, những sứ giả tin cậy có thể thực hiện được hoài bảo “Hoằng pháp lợi sanh, thực hiện phương châm Giáo hội: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội”./.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

ĐĐ. Thích Huệ Phổ

Thư ký Ban Hướng Dẫn Phật tử tỉnh Bạc Liêu

http://www.giaohoiphatgiaovietnam.vn/

 
]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Huệ Phổ) frontpage Fri, 23 Jul 2010 15:53:45 +0000
PHẬT HÓA GIA ĐÌNH http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6402-phat-hoa-gia-dinh.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6402-phat-hoa-gia-dinh.html I/ Tại sao phải Phật hóa gia đình

1) Vì đạo Phật là đạo giác ngộ tỉnh thức. Đạo của từ bi và trí tuệ.

2) Vì đạo Phật dạy các pháp đều do tâm tạo. Tâm tạo ác sẽ lãnh quả báo ác, tâm tạo thiện sẽ hưởng quả an vui niết bàn.

3) Vì đạo Phật là đạo hiếu thảo. Phật dạy “tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”.

4) Vì đạo Phật là đạo ông bà: Đạo Phật từ lâu đã trở thành đạo của người Việt. Đạo Phật đã đi vào ca dao tục ngữ Việt Nam:

"Đạo Phật là đạo ông bà

Hễ ai phá phách thì trời phạt cho

Khuyên ai khéo giữ đạo nhà

Ông bà cho phước ngàn đời an vui"

5) Đạo Phật là đạo hộ quốc an dân. Đạo Phật đã đóng góp nhiều công sức cho dân tộc. Hòa Thượng Thích Trí Thủ đã tổng kết bằng câu nói nổi tiếng làm châm ngôn hoạt động của Giáo hội. “Những gì tôi làm cho đạo pháp chính là làm cho dân tộc. Những gì tôi làm cho dân tộc cũng chính là làm cho đạo pháp”. Có thể nói đạo Phật là đạo hộ quốc an dân.

II/ Ý nghĩa của Phật hóa gia đình

Phật giáo đã đi vào đất nước, dân tộc, con người Việt Nam từ rất sớm. Văn hóa Phật giáo đã trở thành một bộ phận của văn hóa dân tộc Việt. Nếp nghĩ, nếp làm, nói năng, tư tưởng hành động, đã khắc họa nên tính cách của con người Việt Nam: ăn hiền ở lành, siêng năng, ham học hỏi, cần cù thông minh, hiếu thảo mến khách, yêu quê hương đất nước, yêu chuộng hòa bình, tôn trọng sự sống bảo vệ môi trường sống con người và muôn loài. Có ý thức bảo vệ dân tộc, bảo vệ nền văn hóa tâm linh mà cha ông đã bao đời gây dựng. Con người Việt Nam có chất Phật thật sự nó đã trở thành ý thức của dân tộc, của đại bộ phận người dân. Đó là truyền thống đoàn kết chung sức chung lòng thông qua các cuộc đấu tranh bảo vệ bình an, đất nước thoát khỏi cảnh đô hộ của các thế lực.

Ngược dòng lịch sử, thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần tất cả người dân đều tu học theo đạo Phật. Thời đại ấy là thời đại vàng son của dân tộc Việt. Các thời hưng thạnh ấy cho đến hôm nay vẫn còn là bài học lịch sử có ích cho thế hệ hôm nay tôn thờ và biết ơn. Ý thức được điều này sẽ hướng cho con cháu bảo vệ và xây dựng một nền tảng Phật Pháp trong sáng hưng thạnh.

A/ Ý nghĩa Phật hóa

1) Phật là bậc sáng suốt, giác ngộ, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.

2) Hóa có nghĩa là dùng gương hạnh lành và nguyện lực của chư Phật Bồ tát mà cảm hóa người thân đi theo con đường tỉnh thức.

3) Hóa cũng có nghĩa là hướng dẫn người thân trở về nẻo thiện, nẻo chánh.

4) Hóa cũng có nghĩa là ngăn cấm không cho theo đường trái ngược với luân thường đạo lý.

5) Đức hóa cũng có nghĩa là lấy ân nghĩa và lòng từ của chư Phật và Bồ tát làm chất liệu cảm hứng mà cảm hóa lòng người, bỏ ác tùng thiện.

6) Hóa cũng có nghĩa là đồng hóa vì đạo nghĩa cao thượng, vì lý tưởng phụng sự chúng sanh nên khiến cho gia đình sinh khởi tín tâm lòng thiện mà cho, mà giúp.

Phật hóa là đem tất cả tâm tình, lý trí, sự nghiệp hàm dưỡng, tất cả những gì tốt đẹp nhất của chư Phật, chư Bồ tát mà nhiếp hóa mọi người đều có tâm hướng thiện tu theo chánh đạo. Từ đó làm cơ sở xây dựng con người cá nhân thánh thiện, xây dựng gia đình thánh thiện, xây dựng xóm làng thánh thiện, xã hội thánh thiện, đất nước thánh thiện, thiết lập cảnh tịnh độ nhân gian trên đất nước Việt Nam này.

B) Mục liêu của Phật hóa gia đình.

1) Mục tiêu gần:

- Giúp cho Phật tử hiểu Phật giáo về số lượng càng nhiều càng tốt .

- Tổ chức Quy y Tam bảo ở khắp các chùa.

- Có thể tổ chức Quy y ở gia đình Phật tử.

2) Mục tiêu xa:

- Giúp Phật tử hiểu đúng về Tam tạng Giáo điển.

- Giúp Phật tử thực hành theo đúng truyền thống Phật giáo: Thiền định, thực hành Bát Chánh đạo.

- Chỉ rõ và hiểu thấu sự mê tín dị đoan còn len lỏi trong đại bộ phận quần chúng, có cảm tình với Phật Giáo.

- Xây dựng đời sống chánh tín cho Phật tử.

- Đem đạo vào đời, giữ gìn truyền thống văn hóa tâm linh của dân tộc.

- Hướng dẫn, định hướng xây dựng đời sống thánh thiện cho Phật tử.

III/ Phương thức Phật hóa gia đình

Phật hóa gia đình là một chương trình hoạt độ rộng lớn quan trọng, nội dung phong phú, phải có thời gian dài mới triển khai chương trình này thành công được mĩ mãn.

- Trước tiên Ban Trị sự Tỉnh có sự thống nhất với các ngành giao cho Ban Hoằng Hoằng Pháp, Ban Hướng dẫn Phật tử lập kế hoạch phổ biến đến các trường hạ, các đạo tràng tu tập đông trong tỉnh. Các khóa bồi dưỡng Trụ trì, đặc biệt các vị giảng sư phải nắm vững nội dung tài liệu, chương trình hoạt động, thuyết giảng ở các lớp giáo lý, các ngày giảng ở chùa vào ngày 14 và 30, ngày giảng Vu Lan, giỗ Tổ, các lễ cầu an, cầu siêu ở gia đình Phật tử, đều có chương trình lồng ghép Phật hóa gia đình.

- Ban Trị sự ban hành bảng phát nguyện Phật hóa gia đình của Trụ trì của các cơ sở tự viện và các Phật tử thuần thành muốn tạo điều kiện hướng dẫn gia đình mình đều quy theo Phật.

- Sau một năm thực hiện chương trình có báo cáo tổng kết ở các chùa làm điểm. Chùa nào nhiều gia đình có ba thế hệ đều là Phật tử thì ban Đại diện có khen thưởng bằng tuyên dương công đức. Trong phạm vi gia đình Phật tử có nhiều người theo quy y Phật. Trụ trì có giấy khen và tuyên dương công đức trong ngày tổng kết công tác Phật sự cuối năm.

- Nội dung giảng dạy Phật tử: Gồm các bài kinh căn bản. Bổn phận người Phật tử Tam quy Ngũ giới. Kính lễ lạy lục phương, dạy con. Tình yêu chung thủy theo Phật giáo. Phật Hóa gia đình, hiếu thảo. Cầu an, cầu siêu, chúc thọ. Lợi ích của việc tổ chức lễ Vu Lan, giỗ Tổ .v.v….

- Đặc biệt ở các đạo tràng chuyên tu, niệm Phật, một ngày, bảy ngày các giảng sư hướng dẫn khai thị các phương pháp niệm Phật tập thể lớn tiếng.Tu niệm một ngày đều có giảng sư thuyết giảng luôn lồng vào chương trình Phật hóa gia đình.

- Các buổi lễ cầu siêu trai tăng tại tư gia.Trong thời đáp từ, các vị giảng sư đều nhắc đến chương trình Phật hóa gia đình có nơi phát tâm Quy y tại nhà lên đến trên 50 vị Phật tử mới phát tâm Quy y mới.

IV/ Đạo đạt kiến nghị

1/ Trong khi lập kế hoạch chương trình Phật hóa gia đình, Ban mở khóa học bồi dưỡng và đào tạo giảng sư có thấu hiểu hoan hỷ với chương trình Phật hóa gia đình.

2/ Quy định thời gian chương trình này ít nhất hoạt động theo nhiệm kỳ là 5 năm.

3/ Có báo cáo sơ kết tổng kết và khen thưởng cuối năm cuối nhiệm kỳ.

4/ Có lập sổ theo dõi từ tỉnh đến huyện và các cơ sở tư viện.

5/ Phân công giảng sư chịu trách nhiệm khu vực hoặc huyện của mình thuyết giảng, chăm sóc, theo dõi đôn đốc nhắc nhở thường xuyên.

6/ Có kế hoạch mỗi năm xây dựng thêm các đạo tràng tu học ở các huyện để phát triển chương trình Phật hóa gia đình.

7/ Mỗi năm đều có tuyên dương công đức cho các giảng sư có nhiều công đức và thành tích trong chương trình Phật hóa gia đình.

8/ Chương trình này sẽ mất nhiều công sức và nhiều thời gian, đòi hỏi nhiều ngành quan tâm, hỗ trợ và hợp tác. Giáo hội nên đào tạo bồi dưỡng giao cho Tăng Ni trẻ phụ trách và cập nhật hàng tháng chương trình này.

9/ Nếu được, Giáo hội nên có khóa bồi dưỡng ngắn hạn hoặc bồi dưỡng ở an cư kiết hạ.

10/ Có chương trình hướng dẫn giáo lý và thực tập chuyên sâu cho Phật tử đã Phật hóa gia đình.

V/ Phật hóa gia đình là tinh thần Đại thừa nhập Bồ Tát đạo.

Hòa thượng Tuyên Hóa đề cập nói tinh thần Phật hóa gia đình như là hành Bồ tát đạo.

- Bố thí: Là thành viên trong gia đình tu Phật luôn có ý thức cho việc kiếm tiền cùng lo sinh hoạt hằng ngày là bố thí ngoại tài. Nội tài là dùng thể lực, sức lực của mình mà phục vụ trong gia đình được an vui. Lập kế hoạch hoạt động cho gia đình có nề nếp là làm viên mãn ba điều trên là bố thí Ba La Mật cho gia đình.

- Trì giới là ta sửa sang nhà cửa ngăn nắp, sạch sẽ, tươi mát, khiến cho sinh hoạt của người nhà được thoải mái, từ đó khiến cho hàng xóm mến mộ tức là trì giới Ba La Mật.

- Nhẫn nhục: Với tâm trí chịu đựng, thương yêu, làm việc không mệt mỏi, không chán nản, không bỏ cuộc, khi gặp khó khăn biết tìm cách vượt qua đó là nhẫn nhục Ba La Mật.

- Tinh tấn: Mỗi ngày cần cải tiến, hy vọng ngày hôm sau sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm trước, mới mẻ hơn. Đó là tinh tấn Ba La Mật.

- Thiền định: Tuy mỗi ngày rất nhiều công việc nhưng hành giả rất thanh tịnh, an vui, không suy nghĩ tạo ác nghiệp đó là thiền định Ba La Mật.

- Trí tuệ: Trong tâm thanh tịnh thường sanh trí tuệ, tràn đầy pháp lành an lạc niềm vui với mọi thành viên trong gia đình đó là trí tuệ Ba La Mật.

Vậy Bồ tát tại gia, Phật hóa gia đình hằng ngày là nấu cơm, cuốc đất, hái rau, cày ruộng, buôn bán, bồng em, học hành, quét nhà, lau bàn, rửa chén đều là hành động của người con Phật thể hiện nếp sống tỉnh thức của Phật giáo vì người mà phục vụ.

Bạn làm việc nhà tốt rồi tức là làm một người chủ nhà gương mẫu ở thế gian, gương mẫu cho tất cả gia đình. Như thế có thể độ được người hàng xóm; suy rộng có thể ảnh hưởng đến xã hội, quốc gia, thế giới cho đến tận hư không biến pháp giới.

Như đã trình bày ở trên, thấy rõ lợi ích của việc Phật hóa gia đình. Tăng Ni Phật tử phải phát nguyện Phật hóa gia đình cho bằng được ở cơ sở mình quảng lý, hướng dẫn tín đồ tu học, làm trung tâm tu học cho khu vực, làm nơi nương tựa cho người dân quanh vùng./.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

ĐĐ. Thích Đức Hoàng

Trưởng Ban Hướng dẫn Phật tử Long An

http://www.giaohoiphatgiaovietnam.vn/

alt

 


]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Đức Hoàng) frontpage Fri, 23 Jul 2010 15:51:52 +0000
Bắc Kinh tìm thấy lợi ích chung với Phật tử Trung Quốc http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6401-bac-kinh-tim-thay-loi-ich-chung-voi-phat-tu-trung-quoc.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6401-bac-kinh-tim-thay-loi-ich-chung-voi-phat-tu-trung-quoc.html

Cách đây 4 năm, khi 8 vị cao tăng đắp y màu đỏ và vàng nghệ, tiến lên lễ đài trước tôn tượng Đức Phật, cử hành nghi thức tụng kinh ở thành phố Hàng Châu, miền đông Trung Quốc, đã đánh dấu khúc ngoặc quan trọng trong thái độ của Trung Quốc đối với vấn đề tôn giáo. Đó là Diễn đàn Phật giáo Thế giới lần thứ I, được tổ chức tại Trung Quốc với sự tham dự của hơn 1000 Tăng Ni. Trước đó, quốc gia này chưa từng bảo trợ chính thức cho một hội nghị tôn giáo nào với quy mô hoành tráng như thế.

 

Thời điểm báo hiệu phương thức tiếp cận chủ động tiên phong mới của Bắc Kinh đối với tôn giáo, đặc biệt ủng hộ Phật giáo, có thể là sự đối trọng  đối với sự bùng nổ Ki-tô giáo ở Trung Quốc. Căng thẳng vẫn còn trong mối quan hệ của Bắc Kinh với Phật giáo Tây Tạng, nhất là đối với các tín đồ trung thành với lãnh tụ tinh thần lưu vong của họ - Đức Dalai Lama. Bắc Kinh coi Đức Dalai Lama là phần tử “ly khai”, với mục đích gây chia rẽ Trung Quốc. Tuy nhiên, Phật giáo Trung Quốc không được coi là vấn đề nan giải về chính trị theo cách này. Một số chuyên gia ước tính có khoảng 200 triệu Phật tử ở Trung Quốc, và Phật giáo đã đi đầu trong việc làm thay đổi vai trò của các tổ chức tôn giáo, khi nó đến với công tác từ thiện.

 

namphoda1.bmp

Đông đảo du khách đến tham quan chùa Nam Phổ Đà hàng năm

 

Tiên phong trong công tác từ thiện Phật giáo

Chư Tăng của ngôi chùa ngàn năm lịch sử Nam Phổ Đà (Nanputuo Temple) ở thành phố ven biển đông nam Hạ Môn (Xiamen) đã đi đầu theo lối này. Năm 1994, họ đã thành lập tổ chức từ tế Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc, Hòa thượng Zhengxin, một chức sắc của hội này cho biết. “Sự kiện này đã thúc đẩy các tổ chức Phật giáo khác tham gia công tác từ thiện,” Hòa thượng Zhengxin nói.

 

Hiện nay, quỹ tài trợ này là một trong những quỹ tài trợ tôn giáo phát triển nhất ở Trung Quốc, cùng với sự kiểm toán hàng năm, một tờ báo và một tạp chí. Phần lớn nguồn thu của hội do 45,000 hội viên đóng góp, trong đó mỗi hội viên tự nguyện đóng góp 1,5 USD/ 1 tháng. Một nhân viên văn phòng tên Lei cho biết anh tham gia hội này là do bạn bè vận động. “Một trong số những bạn bè của tôi đang đóng góp tiền cho quỹ tài trợ. Và bạn ấy đã tác động đến tôi,” Lei chia sẻ.

 

Sự đóng góp cho hội ngày càng gia tăng vì mọi người có nhiều nguồn thu nhập ổn định. Theo số liệu thống kê riêng của hội, năm 2009, sự đóng góp đã tăng hơn 11% so với các năm trước đó. Và hội cũng chưa bao giờ từng chi tiêu nhiều như thế. Tổng chi năm 2009 khoảng 1.75 triệu USD. Sau 16 năm thành lập, quỹ cứu tế chùa Nam Phổ Đà đã ủng hộ tổng cộng khoảng 7 triệu USD, trong đó tính luôn cả việc trợ cấp y tế miễn phí cho 210,000 người, xây dựng 25 trường học mới và sửa chữa 67 trường học khác.

 

Ni sư Putuo, thành viên quản trị khác của quỹ này cho biết: các quan chức chính quyền địa phương chọn các dự án được nhận tiền tài trợ. “Mỗi dự án đều có sự điều tra khảo sát. Chúng tôi dựa vào sự khảo sát đó của các quan chức trong Ban Tôn giáo chính quyền địa phương để tài trợ. Họ xem xét nơi nào khó khăn hoặc thiết bị y tế hay bất cứ cái gì khác trị giá bao biêu. 16 năm qua, mỗi dự án chúng tôi tài trợ đều kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương,” sư cô Putuo thổ lộ.

 

Sự hợp tác với các tổ chức tôn giáo như thế đã đánh dấu bước tiến đáng kể từ lịch sử bất ổn gần đây của chính quyền Trung Quốc đối với đức khoan dung tôn giáo. Trong cuộc Cách mạng Văn hóa cách đây 4 thập niên, tất cả sự thờ phượng mang tính tôn giáo bị hạn chế, trong đó có Phật giáo. Chùa chiền, đình đền, miếu mạo bị phá hủy hoặc bị biến thành các nhà máy, hoặc trở thành các phương tiện lưu trữ; các di tích quý giá bị hủy hoại và chư Tăng bị giam cầm, thậm chí một số trường hợp còn bị sát hại.

 

namphoda2.bmp

Quỹ tài trợ chùa Nam Phổ Đà đã ủng hộ 20.000 USD

trường tiểu học Neicuo để xây trường mới

 

Chính quyền địa phương hoan nghênh sự hỗ trợ

 

Nhưng ngày nay, các tổ chức tôn giáo ở Trung Quốc đang bắt đầu đóng vai trong rộng lớn hơn nhiều trong công tác cứu trợ. Trận động đất ở tỉnh Tứ Xuyên năm 2008 là một khúc ngoặt. Vào thời điểm đó, các quan chức mời các đoàn thể tôn giáo gồm: Phật giáo, Tin lành, Công giáo La Mã tham gia công tác cứu trợ. Ở cấp độ địa phương, không hiếm các đoàn thể tôn giáo tham gia hoạt động mở phòng y tế từ thiện, xây cô nhi viện hoặc ủng hộ tiền cho người nghèo. Thậm chí, một số hội từ thiện đang tài trợ cho các dự án công trình công cộng như xây dựng cầu, đường xá.

 

Ông Andre Laliberte thuộc Đại học Ottawa đang nghiên cứu về hoạt động từ thiện Phật giáo ở Trung Quốc nói: “Những chính quyền địa phương bị kẹt về tiền mặt thì rất vui vẻ nhận tiền tài trợ từ các tổ chức tôn giáo muốn giúp đỡ họ.” Nhưng ông nói rằng việc này đang xảy ra một cách rất kín kẽ “vì chính quyền địa phương không muốn cung cấp thẻ tín dụng khi mà có thể tăng thêm lượng vốn xã hội cho các cơ quan này. Nó cũng tỏ ra nguy hiểm cho nhà nước. Nếu nhà nước không thể cung ứng cơ quan dịch vụ xã hội, thì nó trở thành một vấn đề hợp pháp của chính quyền.”

 

Sự gắn liền giữa nhà chùa và kinh tế địa phương

 

Một cơ sở nhận được bảo trợ từ quỹ tài trợ của chùa Nam Phổ Đà là một bệnh viện nhỏ, đơn sơ dành cho bệnh nhân phong, tọa lạc gần một trang trại chăn nuôi heo thuộc vùng ngoại ô thành phố Xiamen. Ban đầu nó tọa lạc trên đỉnh đồi, cách xa khu dân cư vì dân chúng sợ bệnh phong. Một số bệnh nhân đã sống tại cơ sở này trong nhiều thập niên, do bị gia đình bỏ rơi. Quỹ tài trợ cung cấp cho bệnh viện này khoảng 3000 USD/ 1 năm. Tuy khoản tiền tài trợ ấy không nhiều lắm, nhưng giám đốc bệnh viện Chen Xichen nói nó tạo nên sự khác biệt lớn đối với bệnh nhân. “Quỹ tài trợ của chùa Nam Phổ Đà tặng cho chúng tôi tiền mặt, quạt máy, nồi cơm điện, quần áo, chăn màn, và giường chiếu,” ông giám đốc bệnh viện vừa nói vừa đưa tay chỉ hầu hết mọi đồ đạc sở hữu cá nhân trong một phòng bệnh nhân. “Thỉnh thoảng tôi hỏi các bệnh nhân có cần những thứ gì khác, nhưng họ chẳng bao giờ nghĩ đến bất cứ thứ gì khác.”

 

Chức năng kinh tế của các chùa vẫn còn có thể đi xa hơn. Mỗi năm, ít nhất có khoảng 2 triệu khách đến chùa Nam Phổ Đà. Ngôi chùa này là nơi hái ra tiền. Nhà hàng chay của chùa phục vụ hàng chục ngàn lượt khách, và nó đã làm phát sinh những người buôn bán nhang và đồ lưu niệm Phật giáo.

Theo Li Xiangping, thuộc Viện Phát triển Tôn giáo và Xã hội của Đại học Sư phạm Đông Hoa, du khách trả tiền vé tham quan chùa gần 900,000 USD/ 1 năm. Một phần thu nhập trong số đó dành để phát triển và tu bổ chùa, và một phần trong số đó cũng phải nộp cho chính quyền địa phương. “Sự phát triển kinh tế Phật giáo thường gắn liền với kinh tế chính quyền địa phương khi họ cùng đang lái xe với nhau. Hai bên có thể hợp tác qua việc quy hoạch các điểm du lịch và huê lợi du lịch. Việc này cũng giúp xây dựng hình ảnh của Phật giáo,” Li nói.

 

Trong quá khứ, vấn đề tiền bạc đã trở thành nguyên nhân gây nên sự tranh cãi trong các hành lang nơi mà âm nhạc Phật giáo ngày nay đã được hát. Trong những năm 1990, sự bất đồng trong việc quản lý nhà hàng tại chùa Nam Phổ Đà đã lên đến cực điểm của sự cách biệt, chư tăng đã bắt giữ các quan chức chính quyền qua đêm, dẫn đến cuộc tấn công vào chùa của các lực lượng đặc biệt. Tuy nhiên ngày nay, mối quan hệ giữa nhà chùa và chính quyền địa phương trong tương quan kinh tế là hai bên cùng có lợi.

 

 

namphoda3.bmp

Hội sở của quỹ tài trợ chùa Nam Phổ Đà

 

Ủng hộ Phật giáo phát triển

 

Các chuyên gia nghiên cứu như Laliberte tin rằng Bắc Kinh cũng đang ủng hộ Phật giáo vì lý do khác: để đối trọng với sự bùng nổ của Ki-tô giáo ở Trung Quốc. “Tôi có lý do để tin rằng chính phủ Trung Quốc có thể đang khuyến khích các tổ chức Phật giáo chỉ vì họ lo lắng về sự truyền bá nhanh chóng của Thiên chúa giáo và Tin lanh nói riêng,” ông Laliberte nhận định. Chính phủ không thể ngăn chặn nhu cầu giúp đỡ tâm linh, ông Laliberte nói nhưng thêm rằng: “Họ có thể thử chuyển nó và Phật giáo là ứng viên tốt. Cơ sở hạ tầng nằm ở đó và các tu sỹ Phật giáo đang sẵn sáng chấp nhận vai trò đó.”

 

Giới lãnh đạo Trung Quốc huy động tất cả mọi nguồn – trong đó có Phật tử - để xây dựng một “xã hội hòa hợp”, khẩu hiệu gần đây nhất của họ. Khi mọi người trở nên giàu có hơn, các chùa đang trở nên giống các tập đoàn đa quốc gia hơn với những tờ quyết toán của họ đang dày lên. Sự đóng góp của họ cho kho bạc chính phủ có thể chưa nhiều, nhưng chúng chắc chắn sẽ tăng theo thời gian. Và các lãnh đạo thực dụng Trung Quốc cầm chắc rằng chính quyền đang được lợi từ hiệu quả kinh tế của việc hồi sinh tôn giáo này.

Tân Nguyễn (theo NPR)

]]>
tcanhco@yahoo.com (Tân Nguyễn) frontpage Fri, 23 Jul 2010 15:50:00 +0000
Nhân Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo lần thứ 5 : Ước mơ tiếp nối những ước mơ http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6400-nhan-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-thu-5--uoc-mo-tiep-noi-nhung-uoc-mo.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6400-nhan-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-thu-5--uoc-mo-tiep-noi-nhung-uoc-mo.html

Khi số báo này đến tay bạn đọc thì hơn 1.500 trại sinh Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo lần 5 - 2010 đã có mặt tại Khu du lịch Minh Trí, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu để cùng hội ngộ và sinh hoạt Hội trại trong 2 ngày 24, 25-7. Qua các lần tổ chức, có lẽ đây là Hội trại được đầu tư và kỳ vọng nhiều nhất bởi sự đặc biệt khi tròn đúng 5 tuổi.

 

5 tuổi không phải là nhiều đối với một đời người, nhưng để kiến tạo nên một sân chơi đúng nghĩa và duy trì được sự thu hút người trẻ không hề đơn giản. Nói như thế để thấy, đã nhiều thế hệ trại sinh đến rồi đi nhưng đều chung một tấm lòng với Hội trại. Ngay cả chư tôn đức và anh, chị thành viên Ban Tổ chức, Ban Quản trại cũng thế, nối tiếp nhau cống hiến trong tinh thần chia sẻ, mong ước được làm điều ích lợi, đem niềm vui đến với số đông. Và hiện giờ ở cương vị nào cũng đều dõi theo các hoạt động của trại mỗi khi được tổ chức. Chúng tôi thật sự xúc động khi một bạn trẻ đang du học ở nước Đức xa xôi những vẫn luôn hướng về Hội trại với tất cả tình cảm chân thành và mỗi mùa hè đều trở về quê hương chỉ để tham gia Hội trại. Và còn nhiều du học sinh khác cũng chung một tấm lòng.

hoitrai-3.jpg

Có thể nói rằng Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo đã trở thành một tên gọi đặc biệt nằm trong sâu thẳm ký ức của nhiều trại sinh trẻ tuổi, mang nhiệm vụ chuyên chở ước mơ và khát vọng cho cuộc sống mỗi ngày một đổi thay và chuyển động. Chính vì lẽ đó mà số lượng trại sinh luôn tăng theo thời gian và 2 năm nay, Ban Tổ chức đều phải kết thúc đăng ký trước thời hạn. Vẫn biết rằng sẽ có nhiều bạn trẻ ngẩn ngơ khi đặt chân đến tòa soạn lại nhận được thông tin này nhưng không còn cách nào khác. Trách nhiệm và ý nghĩa của Hội trại không cho phép Ban Tổ chức thiên nặng về số lượng làm ảnh hưởng đến chất lượng trong ý nghĩa của Hội trại, và các bạn trẻ cần tự hào rằng khi mình được trở thành trại sinh Hội trại nhân dịp khá đặc biệt, hy hữu. Đó là niềm tự hào cần có để bạn trẻ trải lòng và hòa nhịp vào các hoạt động, tuân thủ kỷ luật và thực hiện theo chương trình định sẵn. Sự thành công và dấu ấn của Hội trại không nằm ở sự điều động của Ban Tổ chức và Ban Quản trại mà là sự đồng điệu trong tâm hồn của trại sinh, tham gia hết lòng, chắt chiu từng phút giây trên đất trại.

Trong trái tim người trẻ, ai cũng có ước mơ và khát vọng và Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo là một trong những dịp để tiếp thêm năng lượng cho ước mơ, khát vọng ấy. Một bạn trẻ ở Hà Nội từng tham gia trại đã bảo với chúng tôi như thế. Đây cũng là tâm sự chung mà chúng tôi đọc được từ nhật ký trại của những năm qua. Và giờ đây, hơn 1.500 trại sinh đang trong thời khắc tô bồi những ước mơ, khát vọng cho riêng mình. Hãy hòa nhịp con tim, hãy trao cho nhau những nụ cười ấm áp, hãy siết chặt tay nhau để Hội trại mãi là nhịp cầu cho ước mơ tiếp nối những ước mơ.

 

2.jpgthienbao.jpg

TT.Thích Thiện Bảo,

Phó Tổng Biên tập, Trưởng ban Tổ chức Hội trại:


Lời nhắn gởi đến với trại sinh

Trong 2 tháng qua, Ban Tổ chức và Ban Quản trại đã hết lòng chuẩn bị, kiến tạo nên sân chơi thật sự ý nghĩa và ấn tượng để hôm nay hơn 1.500 trại sinh có mặt và hội ngộ trong tinh thần người con Phật. Chúng ta thật tự hào khi hiện diện trong không gian thân thương tràn đầy sức trẻ của một Gala 5 năm kỷ niệm Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo. Dấu ấn sẽ đọng lại không chỉ ở Ban Tổ chức, Ban Quản trại mà ở tất cả trại sinh, hy vọng rằng các bạn sẽ gặt hái nhiều niềm vui, hòa nhập được môi trường thánh thiện và tô bồi thêm lòng nhiệt huyết đối với cuộc sống thông qua những gì đạo Phật mang đến cho các bạn trẻ”. 

Gia Trúc

]]>
tcanhco@yahoo.com (Gia Trúc) frontpage Fri, 23 Jul 2010 15:47:50 +0000
Nhân Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo lần thứ 5: Hội tụ khát vọng… http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6399-nhan-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-thu-5-hoi-tu-khat-vong.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6399-nhan-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-thu-5-hoi-tu-khat-vong.html

Nói đến tuổi trẻ là nhắc đến những cụm từ như lý tưởng, khát vọng, ước mơ, cống hiến… Người trẻ thời nào cũng vậy, cũng cần có lý tưởng và khát vọng sống có ích. Khát vọng chính là kim chỉ nam để mình men theo, định hình con người tương lai và lối sống hiện tại cho mỗi người. Lịch sử đã ghi nhận, tất cả những người anh hùng, họ đã tỏa sáng nhờ những khát vọng tuổi trẻ.

 

hoitrai.jpg

Khát vọng là…

Khát vọng được đánh giặc giữ nước nên Trần Quốc Toản đã "bóp nát quả cam", rồi ông cũng trở thành một trong những tướng tài của nhà Trần. Khát vọng tìm ra con đường cứu nước cho dân, cho nước nên chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã dám vượt trùng dương với hai bàn tay trắng vào năm 1911. Và vì khát vọng đổi đời mà biết bao chàng trai, cô gái đã miệt mài với từng trang sách, "lai kinh ứng thí" trong mùa thi vừa khép lại cách đây không lâu… Những ví dụ ấy, những con người ấy đã mang khát vọng nơi trái tim mình để rồi chính nó đã thôi thúc cho họ hành động, tìm cho mình con đường sáng để đi và đi đến những đích tốt đẹp.

Tôi đọc lại cuốn sách "Nói với tuổi 20" của Thiền sư Nhất Hạnh và thích thú với cách Thiền sư nói về lý tưởng: "Tôi muốn định nghĩa lý tưởng là ước vọng, và là nhu cầu đạt tới sự thực hiện những ước vọng của một người hoặc một nhóm người. Vậy thì lý tưởng là một cái gì phải có đối với con người, bởi vì ít nhất và cạn nhất con người cũng muốn có cơm ăn khi đói, áo mặc khi rét. Xa hơn, con người còn muốn được thương yêu khi cô độc, được khám phá khi óc tò mò bị kích thích…". Và tôi hiểu từ khát vọng được hội tụ lâu ngày sẽ hình thành nên lý tưởng để mình đeo đuổi suốt đời, ai cũng cần điều này. Ngược lại, khi có lý tưởng sống thì khát vọng thực hiện lý tưởng ấy đồng thời sẽ thôi thúc con người bước đi theo hướng mà con người định hình.

Tôi lại nghĩ đến lời nguyện vãng sanh, một trong những yếu chỉ của pháp môn niệm Phật. Làm việc gì cũng cần "kiềng ba chân" là tín - hạnh - nguyện. Tín là niềm tin; hạnh là việc thực tập, làm việc mà mình đã tin; còn nguyện chính là phát nguyện, thể hiện khát vọng, mong muốn của mình đạt được điều mình đang làm. Nếu tuổi trẻ thiếu khát vọng có nghĩa là thiếu một lời nguyện cho hành trang đi về phía tương lai. Vậy khát vọng chính là một trạng thái tâm lý tốt, giúp mình có thêm nghị lực để làm việc, học tập, cũng như định hướng tương lai cho mình theo những chiều hướng nào đó…

Bạn có khát vọng không?

Tôi đã gặp nhiều người trẻ, có những vị tôn túc đã xuất gia và cả những thanh niên bình thường. Hỏi: quý thầy (và bạn) có khát vọng không? Có. Đó là câu trả lời không cần suy nghĩ. Nhưng, đó là khát vọng gì? Khát vọng cũng có cái chân chính và không chân chính. Khát vọng đi trên con đường giác ngộ, giải thoát như quý thầy, sư cô đã, đang đi là một khát vọng đẹp, là "Bồ đề tâm" thôi thúc một người từ bỏ ái, danh, sắc, tài… để đi trên con đường của Tăng thân. Nhưng, cũng rất nhiều người có khát vọng không chính đáng hoặc không dựa trên cơ sở của năng lực mình đang có. Nổi tiếng, giàu có, thành đạt… ai mà chẳng khát khao, nhất là đối với người trẻ? Thế nhưng làm giàu như thế nào, con đường đi tới thành đạt, nổi tiếng nhiều khi các bạn lại không chuẩn bị hoặc không hình dung được nội dung mình sẽ tạo dựng cho mình. Chính vì vậy nhiều bạn trẻ chênh vênh khi đeo đuổi khát khao, lý tưởng mang tính… ảo tưởng của mình.

Cuộc thi Vietnam Idol đang diễn ra và chúng ta dễ dàng cười đến đau bụng khi xem những đợt sơ khảo của cuộc thi. Rất nhiều thí sinh có khát vọng trở thành thần tượng trong lòng mọi người nhưng… không có thực lực. Những màn trình diễn tự tin nhưng không thể không nhịn cười được vì quá lố, quá buồn cười của những bạn trẻ đã cho thấy một sự thật: người trẻ bây giờ có khát vọng lớn nhưng lại thiếu thực tế nên trở thành tham vọng hão huyền. Lằn ranh giữa khát vọng chính đáng và tham vọng thực sự rất mong manh, nếu thiếu kiểm soát thì các bạn dễ dàng đánh mất mình, mà cụ thể là đã có những cuộc đổi chác tiền, tình để được nổi tiếng. Và cuối cùng những người trẻ non nớt, thích đi nhanh và ảo tưởng về chính mình đã phải "tiền mất tật mang".

Những ngày gần đây, dư luận cảm thấy "đắng lòng" khi sau kỳ thi tuyển sinh đại học 2010 một học sinh giỏi, Trường chuyên Lê Khiết (Quảng Ngãi) đã tự tử vì nghĩ rằng mình không làm bài được, không vào được Trường ĐH Y Dược - một ngôi trường nằm trong khát vọng của bạn. Cái chết của bạn học sinh ấy cho thấy một suy nghĩ cực đoan về sự thành, bại. Hay vì quá áp lực? Mổ xẻ nguyên nhân thì có nhiều nhưng không thể không nhắc đến chuyện cuồng trong suy nghĩ, tự đẩy mình vào chân tường để rồi tìm đến cái chết của nhiều người trẻ - một trào lưu đang lây lan trong xã hội hiện đại, gần đây Hàn Quốc nổi lên như một điểm nóng của tự tử.

Thiết nghĩ, những thông tin về những hành động tiêu cực ấy còn dài, nhưng điều tựu trung trong những hành động ấy chính là sự cực đoan, thái quá trong việc đeo theo khát vọng mà thường đó là những khát khao có dính đến những món dục của thế gian như danh, sắc, tài… Chính vì vậy mà những người tu theo Phật sẽ làm theo lời Phật dạy: cần có lý tưởng buông bỏ những cái thuộc về ái dục, danh vọng… Ban Tổ chức Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo lần 5 (Báo Giác Ngộ) lấy chủ đề "Khát vọng hội tụ" ngõ hầu tập hợp tất cả những người trẻ cùng chung về một điểm và trao truyền cho các bạn một khát vọng tuổi trẻ: là phải biết hiến tặng tình thương, sống tỉnh thức, sống chậm… thông qua những thực tập về thiền, hát thiền ca, tụng kinh, cầu nguyện và cả những kỹ năng sống.

Nét đặc sắc của hội trại do Phật giáo tổ chức cũng chính là những điều như thế, như một tiếng chuông chánh niệm để các trại sinh được dừng lại, thở thật nhẹ và mỉm cười để nhận chân khát vọng nào cần nuôi dưỡng, tưới tẩm và khát vọng nào cần được nhận diện là nó mang nhiều độc tố, không mang lại hạnh phúc…

 

hoitrai-2.jpg

HT.Thích Trí Quảng

Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN,Tổng Biên tập Báo Giác Ngộ:

"Tuổi trẻ luôn mang trong mình hoài bão về tương lai tươi sáng, hạnh phúc cho bản thân gia đình và đất nước. Đất nước chúng ta đang ở giai đoạn hội nhập và phát triển, chính vì thế trong sự giao lưu với thế giới, người trẻ bao giờ cũng nhạy bén và biết cách tô bồi thêm hoài bão để tiếp cận và học hỏi các nền văn minh tiến bộ. Đó là nhu cầu chính đáng, nếu được các thế hệ đi trước quan tâm, chia sẻ thì chắc chắn sẽ đạt được.

Hội trại Tuổi trẻ - Phật giáo là dịp để những người trẻ khắp mọi miền đất nước gặp gỡ và giao lưu trong môi trường thánh thiện. Tôi hy vọng rằng ngoài sự vui chơi, hòa nhịp vào các hoạt động của trại, các em cũng nên làm quen, trao đổi và xây dựng nên hoài bão chung, tạo cơ duyên để cùng giúp đỡ nhau trên bước đường đi đến tương lai".

LƯU ĐÌNH LONG

]]>
tcanhco@yahoo.com (Lưu Đình Long) frontpage Fri, 23 Jul 2010 15:46:35 +0000
Thanh Hoá: Khai mạc Hội trại "Tuổi trẻ Phật giáo" lần thứ II http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6398-thanh-hoa-khai-mac-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-thu-ii.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/httpdaitangkinhvietnamorglich-su-phat-giao120-phat-tu-viet-namhtml/6398-thanh-hoa-khai-mac-hoi-trai-tuoi-tre-phat-giao-lan-thu-ii.html

Ngày 21 tháng 07 năm 2010, Ban trị sự Phật giáo tỉnh Thanh Hoá kết hợp với Ban đại diện Phật giáo thị xã Bỉm Sơn tổ chức Hội trại “ Phật giáo với tuổi trẻ” tỉnh Thanh Hoá lần thứ II cho hơn 500 thanh thiếu niên Phật tử tại chùa Khánh Quang – xã Quang Trung - Thị xã Bỉm Sơn – Thanh Hoá.

 

alt

Tham dự và chứng minh buổi lễ có TT Thích Thanh Điện - Uỷ viên Thường Trực  HĐTS  Phó TT ban hướng dẫn Phật tử TW đặc trách phía Bắc. ĐĐ Thích Tâm Đức - Uỷ viên HĐTS  Trưởng BTS Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hoá - Trưởng ban tổ chức Hộ trại cùng lãnh đạo Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hoá, Ban đại diện Phật giáo thị xã Bỉm Sơn và các huyện, thị

Về phía chính quyền có ông Lê Văn Dũng – Phó Bí thư kiêm chủ tịch thị xã Bỉm Sơn, ông Nguyễn Xuân San - Chủ tịch MTTQ thị xã Bỉm Sơn cùng đại diện các cơ quan ban ngành, chính quyền sở tại cùng về tham dự.

alt

Sau nghi lễ niệm hồng danh đức Bản sư ĐĐ Thích Tâm Chính –Phó thư ký kiêm chánh văn phòng BTS Phật giáo tỉnh Thanh Hoá- Chánh đại diện Phật giáo Thị xã Bỉm Sơn – Phó ban tổ chức đọc lời khai mạc.
Đại đức đã nhấn mạnh hội trại nhằm mục đích giúp cho bạn trẻ Thanh thiếu niên có hướng đi đúng cho bản thân và góp phần xây dựng được đất nước ngày càng giàu mạnh, tạo môi trường sinh hoạt Phật pháp cho Thanh thiếu niên nhân dịp hè 2010, giúp cho các bạn trẻ có một môi trường vui chơi lành mạnh theo tinh thần Từ Bi – Trí Tuệ - Bình đẳng của đạo Phật, có cuộc sống hướng thiện cũng như thúc đẩy nhanh việc thực hiện chương trình Phật hoá gia đình.

alt

ĐĐ Thích Thiện Mỹ - Phó ban điều phối đọc báo cáo tổng quát nội quy Hội trại.

alt

Phật tử Cù Minh Khôi đại diện cho toàn thể trại sinh đọc lời tuyên hứa.

alt

Ông Nguyễn Xuân San – thay mặt chính quyền địa phương phát biểu chúc mừng

alt

TT Thích Thanh Điện – thay mặt TW GHPGVN ban đạo từ và tặng hoa chúc mừng

alt

alt

ĐĐ Thích Tâm Đức thay mặt ban tổ chức phát biểu cảm tạ

alt

Phật tử Diệu Nhân - Nguyễn Thị Xuân Loan –Phó thư ký ban hướng dẫn Phật tử TW tặng quà lưu niệm tới ban tổ chức Hội trại” Phật giáo với tuổi trẻ”.

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

Chư tôn đức cùng quý vị đại biểu và toàn thể trại sinh chụp hình lưu niệm.

alt

 

Tin,ảnh Hoàng Tuấn

]]>
tcanhco@yahoo.com (Hoàng Tuấn) frontpage Fri, 23 Jul 2010 03:06:07 +0000
Hà Nội: Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton ký đối tác giữa chính phủ Mỹ & Việt Nam tại chùa Ngọc Lâm http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6397-ha-noi-ngoai-truong-my-hillary-clinton-ky-doi-tac-giua-chinh-phu-my-viet-nam-tai-chua-ngoc-lam.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-vn-quoc-noi/6397-ha-noi-ngoai-truong-my-hillary-clinton-ky-doi-tac-giua-chinh-phu-my-viet-nam-tai-chua-ngoc-lam.html

(GNO-Hà Nội): Ngày 22-7, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đến ký kết hiệp ước đối tác giữa chính phủ Mỹ và Việt Nam.tại chùa Ngọc Lâm, Hà Nội - Địa bàn thực hiện dự án của tổ chức HealthRight Internationnal.

 

alt

Hiệp ước đối tác sẽ được ngoại trưởng Mỹ và đại diện lãnh đạo cấp cao của chính phủ Việt nam ký kết, đánh dấu một hiệp ước song phương 5 năm về hợp tác giữa chính phủ Mỹ và Việt Nam cùng các đối tác khác cam kết hành động để chống lại HIV/AIDS qua việc cải cách chính sách, nâng cao dịch vụ, hỗ trợ tài chính và điều phối.

Tham dự buổi lễ ký kết về phía Giáo hội Phật giáo Việt Nam có ĐĐ Thích Đức Thiện - Uỷ viên thư ký HĐTS - Phó văn phòng I TW GHPGVN.

Tổ chức HealthRight là một trong những đối tác hoạt động tích cực để ngăn chặn sự lan truyền HIV/AIDS ở Việt Nam và đảm bảo rằng những người bị nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ họ tránh được sự kỳ thị. Hiệp ước đối tác sẽ được ký tại Trung tâm Nụ cười của mặt trời, một mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng được thành lập bởi tổ chức HealthRight. Hội Liên hiệp phụ nữ Hà Nội, Mạng lưới Vì ngài mai tươi sáng và chùa Ngọc Lâm hoạt động như một mô hình để cung cấp sự hỗ trợ và các dịch vụ vận động cho trẻ em và gia đình sống chung và bị ảnh hưởng bởi HIV.

alt

alt

alt

alt

alt

Bà Mila Rosenthal, Giám đốc điều hành tổ chức HealthRight, người cũng tham dự buổi lễ ký kết hiệp ước đối tác nói rằng: “Trung tâm Nụ cười của mặt trời là nơi dành cho trẻ em sống chung và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và cha mẹ của các em đều vui chơi, được tư vấn và được là chính mình. Trung tâm cũng mang lại cho những người chăm sóc trẻ một cơ hội để giúp chính mình. Các nỗ lực như vậy làm giảm sự kỳ thị mà những người nhiễm HIV đang phải đối mặt để ngăn chặn và đây là cách duy nhất để đảm bảo rằng sự lan tràn của dịch bệnh được giảm bớt và những người đang nhiễm sẽ được điều trị. Chính vì vậy sự hỗ trợ của chính phủ Mỹ này rất quan trọng. Khi nói rằng chính phủ Mỹ sẽ giúp Việt Nam phát triển và có các giải pháp tài chính. Ngoại trưởng Clinton đang mang lại hy vọng cho hàng trăm nghìn người Việt Nam đang đối mặt với HIV.”

alt

alt

alt

 

Tin, ảnh Phùng Anh Tuấn

]]>
tcanhco@yahoo.com (Phùng Anh Tuấn) frontpage Fri, 23 Jul 2010 03:03:59 +0000
TÀI NĂNG VÀ ÐỨC HẠNH http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6396-tai-nang-va-euc-hanh.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6396-tai-nang-va-euc-hanh.html

Tài năng và đức hạnh là mục tiêu hướng đến để tự hoàn thiện của moãi con người. Tài là năng lực, khả năng của con người được biểu hiện tốt trong một lãnh vực, cũng như ta gọi làm việc giỏi, có hiệu quả là tài. Tài, đức là cái đạo để lập thân. Những phẩm chất tốt có nơi con người goïi là đức, khi biểu hiện ra hành động việc làm thì mới gọi là hạnh. Có nhiều quan điểm bất đồng về đạo đức, song khái niệm đạo đức đúng đắn và chân chính nhất vẫn là những phẩm chất tốt của con người, những hành động việc làm có ích cho bản thân và nhân quần xã hội.

Ðức hạnh và tài năng là hai yếu tố chủ yếu mà con người  cần có để hoàn thiện mình. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất lên cao thì con người nghĩ rằng tài năng là điều kiện tiên quyết quyết định mọi vấn đề. Những công trình nhà cửa, máy móc. v.v.... đều là sản phẩm của tài năng, trí tuệ. Ðó là những thành quả của quá trình lao động và sáng tạo, nó có giaù trị làm cho đời sống con người trở nên sung mãn và thoải mái. Con người rất hãnh diện về những thành tựu ngày nay và đã không ngần ngại mạnh dạn đưa tài năng lên vị trí hàng đầu. Nhưng họ đã quên rằng điều cần hướng đến của mỗi con người là một đời sống an lạc, hạnh phúc.

Thời đại ngày nay con người đã thật sự tìm thấy hạnh phúc chưa? Nó chỉ là một cái bóng mờ không hơn không kém. Ðời sống vật chất càng cao, nhu cầu về công việc càng nhiều. Con người phải làm việc như một cái máy không tìm được chút thảnh thơi. Con người tiếp xúc với máy móc nhiều hơn là tiếp xúc lẫn nhau. Họ không có thời gian để gần gũi nhau, san xẻ tình cảm cho nhau hay trao đoåi với nhau những điều cần thiết. Con người trở nên khô khan tình người, sống máy móc và đối đãi với nhau tệ hại. Khoa học càng phát triển, con người càng lo sợ nhiều hiểm họa. Chiến tranh chết chóc, bệnh tật là mối đe doïa lớn nhất. Con người sống trong nỗi lo âu thấp thỏm không an. Những nơi đang diễn ra chiến tranh, con người sống trong nỗi kinh hoàng sợ hãi. Nguy cơ hủy diệt bởi những vũ khí tối tân như bom hạt nhân, nguyên tử, vũ khí sinh học v.v... là hậu quả ghê gớm nhất của nền văn minh hiện đại.

Một đời sống vật chất dồi dào chưa hẳn đưa đến hạnh phúc cho con người. Nó cần nhưng không có vai trò quyết định. Hạnh phúc thật sự chỉ có khi tâm hồn an ổn; cuộc sống có niềm vui, khi con người biết đủ.

Hạnh phúc không thể xây dựng bằng lòng tham lam không cùng tận, bằng sự sống loạn thác cuồng.

Con người nghĩ rằng có tài năng thì có thể lấp bể vá trời, tự làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, nắm hạnh phúc trong tay. Con người bỏ quên đạo đức, xem nhẹ giá trị đạo đức, không quan tâm trau giồi những phẩm chất mà một con người cần phải có. Con người mãi chạy đuổi theo những lý tưởng ngông cuồng và dại dột để rồi làm xã hội ngửa nghiêng, đời mình điên đảo. Càng có tài năng càng gây ra nhiều tác tệ một khi tài năng đó không được sử dụng vào mục đích có ích cho mình và cho nhân quần xã hội. Một người coù đầu óc sắc xảo nắm giữ vị trí quan trọng trong xã hội mà không có đạo đức thì nguy hiểm biết chừng nào. Một kẻ hành nghề trộm cướp còn không đáng sợ, tác hại không to lớn bằng một ông giám đốc tham lam của công và ưa ăn hối lộ, hay một kẻ nắm quyền cầm cân nảy mực mà không công chính nghiêm minh. Nói như thế không có nghĩa là không cần phải có tài năng. Một người ngu dốt thì cũng chẳng làm được gì, thậm chí còn có khi vô tình trơû thành kẻ phá hoại. Người không có trình độ hiểu biết, không có tài năng thì không giúp ích được gì cho bản thân và xã hội, làm việc gì cũng chẳng xong, nhưng người có tài mà không có đức hạnh thì sự tàn phá của nó coøn lớn hơn.

Chúng ta mỗi con người cần có đủ đạo đức và tài năng, cũng như trong xã hội cần có những con người có đức tài toàn vẹn. Một người có đủ tài năng và đạo đức là một người hữu dụng. Xã hội loài người có phát triển và tồn tại vững bền hay không, con người có thực sự tìm ra hạnh phúc cho chính mình hay không, điều đó còn tùy thuộc vào nhận thức đúng hay sai về tài và đức. Có tài để xây dựng xã hội và có đức để bảo vệ giữ gìn.

 

Thiện Tài

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP. HCM

TĂNG NI SINH KHÓA V

Tập San Vạn Hạnh số 2 


alt

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thiện Tài) frontpage Thu, 22 Jul 2010 21:31:19 +0000
HỌC TẬP, HÀNH TRÌ ÐẠO PHẬT TRONG THỜI ÐẠI HIỆN NAY http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6395-hoc-tap-hanh-tri-eao-phat-trong-thoi-eai-hien-nay.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6395-hoc-tap-hanh-tri-eao-phat-trong-thoi-eai-hien-nay.html

Tôi viết bài này với tâm tư hướng tới những Phật tử có mặc cảm rằng, cuộc sống hiện nay quá bận rộn, khiến họ không thể học tập và hành trì Ðạo Phật được. Họ có quá ít thời giờ giành cho lễ Phật, tụng kinh, đi chùa, ăn chay, họ thiếu trình độ Hán – Việt để đọc Kinh hay những sách viết về Ðạo Phật thường hay dùng những từ Hán – Việt khó hiểu v.v....

Chúng ta nên nhớ rằng, đức Phật từng nói Ngài dạy một phương pháp Trung đạo, giúp cho không phải số ít mà là số đông người có thể học và hành trì được. Và Phật cũng nói là Như Lai xuất hiện ở đời là vì hạnh phúc của số đông loài Trời và loài người. Cho nên, nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là tìm tòi một phương pháp học tập và hành trì đạo Phật, để cho đa số người Việt Nam, không kể tuổi tác, giới tính và trình độ văn hóa cao hay thấp đều có thể thực hành được.

Như vậy yêu cầu thứ nhất của phương pháp hành trì đó là phải phục vụ được đa số, chứ không phải là thiểu số mà sách Phật gọi là “đại căn, đại trí”.

Yêu cầu thứ hai là tuy phương pháp đó giản dị, nhiều người hành trì được, nhưng nó phải phản ảnh được tinh thần cốt lõi của Ðạo Phật, là hướng người tu tập đến giác ngộ và giải thoát, đến sự an lạc hiện tiền cũng như mai sau.

Yêu cầu thứ ba là hướng vào nội tâm, hướng nỗ lực chính chứ đừng bao giờ để sai lệch là điều phục tâm, khiến cho tâm dần dần được bình lặng. Vì như lời của vua Trần Thái Tông nhắc lại lời của quốc sư Viên Chứng trong Khóa Hư Lục: “Tâm lặng mà biết, đó là ông Phật thật”.

Vì tâm có lặng mới sáng, đã sáng thì thấy. Thấy gì ? Thấy rõ thiện, ác, phải, trái, thấy rõ con đường dẫn tới giác ngộ và giải thoát. Tâm lặng, trong sáng, chính là cái chìa khóa của chân hạnh phúc và trí tuệ.

Sau đây là những bước đi tuần tự dẫn tới tâm bình lặng và trong sáng, những bước đi, theo tôi nghĩ, vì nó tuần tự, không vội vã, không gây căng thẳng, cho nên bất cứ người nào cũng theo được.

Bước thưù nhất là mở rộng tình thương, cũng như Phật dạy là mở rộng lòng từ bi, yêu thương mọi người, mọi vật. Tình thương là xu thế tâm lý tự nhiên của con người, từ khi con người mới lọt lòng mẹ và được nuôi dưỡng, sưởi ấm baèng tình thương của mẹ. Con người càng lớn lên thì tình thương đó càng mở rộng bao quát hơn, từ mọi người trong gia đình, họ hàng thân thích cho đến bạn bè, người quen, đối với tất cả, kể cả loài vật. Tình thương là phương thuốc đối trị hay nhất bệnh vị kỷ, bệnh chấp ngã là đầu mối của mọi đấu tranh, mâu thuẫn và bất hạnh đối với cá nhân cũng như xã hội.

Tình thương là xu thế bản năng của con người, cùng phát triển với trí tuệ, nó là động lực hướng người tới giác ngộ và giải thoát, trước hết là giác ngộ về cái ta không có thật, giải thoát khỏi cái ta không có thật. Vì ý nghĩa và giá trị của tình thương lớn lao như vậy, cho nên ngài Ðạt Lai Lạt Ma nói: “Trái tim của tôi là ngôi chùa của tôi, tình thương là triết lý của tôi ...”(1)

Bước thứ hai cũng rất là tự nhiên, đó là sống theo nếp sống tám lời dạy của đức Phật, mà sách Phật chữ Hán gọi là Bát Chánh Ðạo. Tôi ghi lại đây bằng chữ Việt thông thường, kèm theo chữ Hán – Việt trong ngoặc đơn, để độc giả khỏi bỡ ngỡ. Tám lời dạy đó thật là giản dị, dễ hiểu, ai cũng có thể làm theo kể cả những người không phải là Phật tử.

Lời daïy thứ nhất: là thấy biết đúng đắn (Chánh tri kiến). Không những biết mà còn thấy là đúng như vậy, cái biết đó mới thực sự sâu sắc. Có thấy biết đúng đắn, tức là nhận thức đúng thế nào là khổ, vui, là ác, thiện, phải, trái, thì mới quyết tâm diệt khổ tìm vui, tránh điều ác, điều trái làm điều thiện, điều phải.

Lời dạy thứ hai: là động cơ đúng đắn (Chánh tư duy). Tư duy là suy nghĩ, nghĩa rộng hơn từ động cơ, nhưng từ động cơ của Kinh Tạng Pàli lại có nghĩa cụ thể hơn. Làm việc gì, muốn thành công đều phải có động cơ đúng đắn.

Lời dạy thứ ba: là nói đúng đắn (Chánh ngữ). Cụ thể là không nói dối, mà nói thật không nói lời ác mà nói lời dịu hiền, không nói lời chia rẽ mà nói lời đoàn kết, không nói lời vô nghĩa mà nói lời có ích. Lời dạy này của Phật về nói, đúng đắn cụ thể và sáng tỏ, không cần phải bàn, là Phật tử hay không phải Phật tử, chúng ta đều có thể và nên làm theo lời Phật.

Lời dạy thứ tư: là hành động đúng đắn (Chánh nghiệp), tức là không giết, không trộm cắp, không tà dâm.

Lời dạy thứ năm: là sinh sống đúng đắn (Chánh mệnh), tức là sống bằng lao động lương thiện, không gian lận lừa đảo, không tham nhũng.

Lời dạy thứ sáu: là siêng năng đúng đắn (Chánh tinh tấn), tức là siêng năng tránh mọi điều ác, làm mọi điều lành, làm trong sạch tâm ý mình.

Lời dạy thứ bảy: là nghĩ nhớ đúng đắn (Chánh niệm), không nghĩ nhớ bậy bạ, luôn luôn chánh niệm tỉnh giác.

Lời dạy thứ tám: là định tâm đúng đắn, hay là tập trung tư tưởng đúng đắn (Chánh định).

Tám lời dạy trên của đức Phật thật là dễ hiểu, dễ thực hành, ai cũng theo được, kể cả những người không phải là Phật tử. Ðặc sắc của con đường Bát chánh đạo chính là ở chỗ đó: cho dù là ai, ở đâu, làm nghề gì đều cũng có thể theo được.

Bước thứ ba và bước thứ tư là hành thiền tích cực và hành thiền tuyệt đối.

Hành thiền tích cực: là mọi hành động, lời nói và suy nghĩ của chúng ta đều phải thực hiện với tất cả tâm của mình, hết lòng , hết sức với cái tâm luôn luôn hiện hữu và tỉnh giác. Như vậy, theo đạo Phật là sống với cái tâm không phóng dật, không buông lung.

Chúng ta nhớ bài kệ 21 của Kinh Pháp Cú:

Không phóng dật, đường sống.

Phóng dật là đường chết.

Không phóng dật, không chết.

Phóng dật như chết rồi

(Bản dịch của HT. Thích Minh Châu)

Hành thiền tích cực không có nghĩa gì khác là làm tất cả mọi việc hết lòng, hết sức, với cái tâm mình luôn có mặt. Các thiền sư Tây Tạng thường nói một cách hình ảnh: Ðưa cái tâm về nhà. Ðưa tâm về nhà, nghĩa là đừng để cho tâm mình chạy lung tung.

Hành thiền tích cực là như vậy, chứ không nhất thiết là ngồi tĩnh tọa, không động thân. Hành thiền tích cực tức là sống bình thường hàng ngày, làm mọi việc với cái tâm tập trung vào công việc đang làm.

Ở đây, cần mở dấu ngoặc để nói về Thiền quán. Thiền quán là một hình thức của hành thiền tích cực. Thiền quán là tập trung suy nghĩ theo chiều sâu vào một số chủ đề như bốn vô lượng tâm ( Từ, bi, hỷ, xả) thân không trong sạch (bất tịnh), mọi pháp đều là nhân duyên sanh, v.v..

Hành thiền tuyệt đối: Với hành thiền tuyệt đối, hành giả ngồi thiền bán già hay kieát già, giữ tâm thật tĩnh lặng, giữ thân thật thư giãn, trút bỏ mọi ý nghĩ, mọi niệm. Tâm của hành giả như mặt nước hồ thu, không gợn sóng, hành giả dần dần đi vào một cảnh giới siêu việt, không thể nghĩ bàn.

Trong bốn bước nói trên, các bước 1, 2, 3 chính là nếp sống đạo đức hàng ngày, mọi người đều có thể làm được nếu cố gắng và chú ý và là bước chuẩn bị tuần tự cho bước thứ tư là hành thiền tuyệt đối, đưa hành giả đến một caûnh giới siêu việt, không thể nghĩ bàn. Vì là không thể nghĩ bàn, cho nên không bàn. Hãy đi thì khắc đến!



(1) Xem “Cuốn sách Tây Tạng của sống và chết”, Sogyal Rinpoche.
GS. Minh Chi

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP. HCM

TĂNG NI SINH KHÓA V

Tập San Vạn Hạnh số 2

 
alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Minh Chi) frontpage Thu, 22 Jul 2010 21:28:31 +0000
CHUYỆN VOI HIẾU DƯỠNG MẸ (Tiền thân Màti - Posaka) http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6394-chuyen-voi-hieu-duong-me-tien-than-mati-posaka.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6394-chuyen-voi-hieu-duong-me-tien-than-mati-posaka.html

“Cho dù voi chúa phải đi xa”.

Chuyện này Bậc Ðạo Sư kể lại trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỳ-kheo còn mẹ phải cấp dưỡng.

Hoàn cảnh chuyện này cũng giống như chuyện Sàma (số 540, tập VI). Trong dịp này, Bậc Ðạo Sư nói chuyện với chúng Tăng, Ngài bảo:

- Này các Tỳ-kheo, chớ giận Tỳ-kheo này. Ngày xưa, bậc hiền nhân, ngay cả lúc sinh ra từ bụng loài vật và cách xa mẹ mình, cũng không chịu ăn uống gì trong bảy ngày, cứ gầy héo, mỏi mòn. Dù được cung cấp đồ ăn vương giả, vị ấy cũng chỉ đáp : “Không có mẹ ta, thì ta không muốn ăn”. Lúc gặp lại mẹ, vị ấy mới chịu ăn như trươùc.

Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ :

Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sanh làm Ðại tượng vương ở vùng Tuyết Sơn. Toàn thân Voi màu trắng rất hùng vĩ, là chúa đàn gồm tám mươi ngàn con voi vây quanh Ngài, song mẹ Ngài bị mù. Ngài thường đưa cho bầy voi những quả rừng thật ngon để đem về dâng mẹ. Tuy thế, chúng chẳng đem gì về dâng voi mẹ, mà chúng ăn hết. Khi hỏi thăm và biết được việc ấy, Ngài baûo:

- Ta muốn rời đàn để nuôi mẹ ta.

Thế là một đêm thuận lợi, bầy voi không hay biết, ngài đưa mẹ đến đỉnh núi Candonara (Chiên-đô-già). Tại đó, Ngài để mẹ ở trong một hang dưới đồi, gần một hồ nước và nuôi nấng mẹ raát chu đáo.

Bấy giờ, một người thợ rừng ở Ba-la-nại đi lạc đường và không thể nào tìm lối ra được nên bắt đầu than khóc ầm ĩ. Nghe tiếng này, Bồ-tát thầm nghĩ : “Ðó là một người đang cơ hoạn nạn, khi ta đang ở đây mà gã gặp tai họa, thật chẳng phải lẽ”. Vì vậy, Ngài đến gần gã, song gã bỏ chạy vì quá sợ hãi. Thấy thế, Chúa voi bảo gã :

- Này người kia, anh không cần phải sợ ta, đừng chạy trốn, hãy nói tại sao anh vừa đi vừa khóc thế ?

- Tâu chúa tể, kẻ hèn này bị lạc đường đã bảy ngày qua.

Chúa voi đáp :

- Anh đừng sợ !  Ta sẽ đưa anh ra đường đi của dân chúng.

Sau đó, Ngài bảo người ấy leo lên ngồi trên lưng Ngài và đưa gã ra khỏi rừng, xong Ngài quay về.

Còn con người độc ác kia quyết vào thành phố báo tin cho vua biết. Vì thế, gã đánh dấu các cây cối, các ngọn đồi, rồi tiến về Ba-la-nại. Lúc ấy, vương tượng của Hoàng đế vừa từ trần. Ngài cho truyền lệnh bằng một hồi trống :

- Nếu kẻ nào thấy ở đâu có con voi xứng đáng để Hoàng thượng ngự du thì hãy báo ngay.

Sau đó, gã kia đến triều kiến vua và tâu :

- Tâu Chúa thượng, tiểu thần thấy một con voi tuyệt mỹ, toàn thân màu trắng, một vật tối thắng xứng đáng để Chúa thượng ngự lên. Tiểu thần xin chỉ đường. Song, xin đưa các người quản tượng đi theo để bắt voi.

Vua chấp thuận, bảo một người thợ rừng cùng đi với gã ấy và một đoàn tùy tùng lên đường.

Người thợ rừng cùng đi với gã và trông thấy Bồ-tát đang ăn uống trong một hồ nước. Khi Bồ-tát thấy gã thợ rừng, Ngài nghĩ : “Hiểm họa này, chắc chắn không phát xuất từ ai khác, ngoài kẻ kia. Song, ta rất mạnh, ta coù thể đánh tan tành cả ngàn con voi trong lúc thịnh nộ, ta lại đủ sức tiêu diệt cả đàn voi ra trận của một vương quốc. Tuy nhiên, nếu ta bị lòng phẫn nộ chi phối, thì công đức của ta sẽ bị tổn hại. Vì vậy, hôm nay ta sẽ khoâng nổi giận, cho dù có bị gươm giáo đâm vào da thịt”. Với quyết định này, Ngài cúi đầu, đứng bất động.

Người thợ rừng bước xuống hồ sen, khi thấy vẻ tuyệt mỹ của các chóp ngà voi, gã bảo :

- Này con, hãy đến đây.

Rồi nắm lấy cái vòi giống như sợi dây thừng bằng bạc, gã dẫn Voi về thành Ba-la-nại trong vòng bảy ngày.

Khi mẹ Bồ-tát thấy con mình không trở về, bà đoán chắc hẳn Ngài bị quan quân nhà vua bắt rồi, bà than khóc :

- Giờ đây cây cối vẫn mọc, song con ta đã đi xa rồi.

Và bà đã ngâm hai vần kệ sau :

1.Dù cho Voi chúa phải đi xa,

Dược thảo, nhũ hương vẫn mọc ra,

Lúa cỏ, trúc đào, cùng súng trắng,

Kèn xanh chỗ khuất vẫn đơm hoa.

 

2.Tượng vương hẳn đến tận phương nao,

Sung túc nhờ bao kẻ tước cao,

Trang điểm ngọc vàng vua chúa cỡi,

Oai hùng thắng địch thủ mang bào.

Bấy giờ, người luyện voi kia, đang lúc còn đi đường đã gởi về triều một tờ sớ dâng vua. Nhà vua liền ra lệnh cả kinh thành trang hoàng thật lộng lẫy. Người luyện voi dẫn Bồ-tát vào một cái chuồng được tô điểm bằng các dây tua, tràng hoa và vây quanh mỗi bức màn đủ màu rực rỡ, xong đến trình nhà vua. Vua mang các món cao lương mỹ vị ra bảo đưa cho Bồ-tát, nhưng Ngài không ăn chút nào cả : “Nếu không có mẹ ta, ta không muốn ăn gì đâu”.

Vua van nài Ngài ăn và ngâm vần kệ thứ ba :

3.Nào ăn đi một miếng, Voi này,

Ðừng có buồn chi, chớ héo gầy,

Ðể phụng sự vua, còn lắm việc

Mà Voi sẽ đảm trách sau này.

Nghe vậy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ tư :

 

4.Không, trên đỉnh núi Chiên-đồ-gia,

Khốn khổ bà kia, mắt lại lòa,

Dậm một chân vào gốc cổ thụ

Vì không Voi chúa, ấy con bà.

Vua ngâm vần kệ thứ năm để hỏi ý nghĩa lời Ngài :

5. Ai ở trên đồi Chiên-đồ-gia

Nào ai khốn khổ, lại mù lòa ?

Dậm chân vào một gốc cây nọ,

Vì chẳng chúa Voi, con của bà ?

Voi đáp lời qua vần kệ thứ sáu:

6. Mẹ ta trên núi Chiên-đồ-gia

Khốn khổ, mù lòa thật xót xa,

Dậm một chân vào gốc cổ thụ,

Bởi vì Voi chúa ấy là ta.

Khi nghe nói vậy, vua liền cho Ngài được tự do và ngâm vần kệ thứ bảy :

7. Voi hùng phụng dưỡng mẫu thân mình,

Nên thả tự do, cứ mặc tình,

Thôi để Voi đi về với mẹ

Và cùng sum họp với gia đình.

Vần kệ thứ tám và thứ chín là xuất phát từ trí tuệ tối thắng của Ðức Phật :

8. Khỏi cảnh giam cầm được thoát thân,

Hết dây ràng buộc chúa Voi rừng,

Vài lời khuyên nhủ cùng vua ấy, (1)

Voi trở về nơi chốn núi ngàn.

 

9. Rồi xuống hồ kia mát lạnh trong

Nơi này, Voi vẫn tới bao lần,

Dùng vòi hút nước từ hồ ấy

Tung vẫy khắp mình của mẫu thân.

Song, mẹ của Bồ-tát tưởng là trời bắt đầu mưa, nên ngâm vần kệ thứ mười để trách cơn mưa :

10. Ai đó đem mưa thật trái thời

Thần nào độc ác quá, trời ơi !

Vì nay con trẻ đà đi vắng

Con trẻ xưa thường phụng dưỡng tôi.

Lúc ấy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ mười một để trấn an mẹ :

 

11. Sao mãi nằm kia vậy, mẹ ơi !

Này đây con mẹ đã về rồi,

Ca-thi Ðại đế, ngài thông tuệ,

Cho trẻ bình an được tái hồi.

Bà mẹ liền đáp lời, cảm tạ vua qua vần kệ cuối cùng :

12. Vạn tuế trường tồn đấng Ðại vương !

Cầu ngài đem lại nước hùng cường,

Tự do ngài trả cho con đó,

Với mẹ, con tròn vẹn kính thương !

Vua rất hoan hỷ về đức độ của Bồ-tát nên ra lệnh xây một thị trấn không xa hồ ấy vaø nhà vua thường đến phụng sự Bồ-tát cùng mẹ Ngài. Sau đó, khi mẹ Ngài từ trần, Ngài đi thật xa đến một tinh xá tên là Karandata. Tại đây, có năm trăm bậc Trí giả an trú và vua thường đến cúng dường chư vị ấy. Vua lại truyền tạc một tượng bằng đá có hình Bồ-tát và thường đến chiêm bái để tỏ lòng ngưỡng mộ Ngài. Dần dần, dân chúng khắp cõi Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ) tụ tập lại đó, cùng nhau cử hành ngày hội gọi là Hội Voi.

Khi Bậc Ðạo Sư chấm dứt pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các Sự thật và nhận diện tiền thân :

- Bấy giờ, lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỳ-kheo phụng dưỡng mẹ đã an trú vào quả Dự Lưu.

- Vào thời ấy, Ànanda là nhà vua; Mẫu hậu Mahaø Màyà là mẹ Voi và chính ta là chúa Voi đã nuôi dưỡng mẹ mình.

NHẬN XÉT:

Hiếu hạnh là một trong những đức tính được Ðức Phật đề cao trong đời hiện tại cũng như trong các tiền thân của Ngài.

Mỗi khi nghe nói có một Tỳ-kheo phải cấp dưỡng cha mẹ già, dù đã xuất gia theo đạo Giải thoát, Ngài đều tán thán vị ấy và kể một chuyện tiền thân để chứng minh lòng hiếu thảo. Ðó cũng là một trong những đức tính mà Bồ-tát tiền thân của Ngài đaõ thể hiện ở nhiều hình thức tái sinh : Chim muông, thú vật hay loài người.

Bồ-tát đã từng làm chim Anh vũ hiếu thảo trong tiền thân “Cánh Ðồng Lúa” (số 484), là Nai hiếu thảo trong tiền thân “Sàma” (số 540) và với lòng hiếu thảo trong tiền thân này.

Qua các tiền thân trên, Bồ-tát đã thể hiện lòng hiếu thảo cao độ ngay khi bị bắt vào thòng lọng hay khi sắp bị bắn hoặc đã bị trọng thương. Ngài không hề nghĩ đến nỗi đau khốc liệt của chính bản thân, mà chỉ nghĩ đến nỗi đau khổ của cha mẹ già yếu hoặc mù lòa không thể kiếm sống nếu Ngài phải chết trước.

Chính lòng hiếu thảo đặc biệt ấy đã cảm hóa được những vị chủ nhân hoặc những vị vua bắt Ngài, khiến cho họ tràn đầy xúc động liền thả Ngài được tự do. Rồi từ đó về sau, họ chuyên tâm thực hành Ngũ giới và Thập thiện để được tái sinh cõi trời.

Nhân dịp lễ Vu Lan tượng trưng ngày Báo hiếu của mọi người con Phật, tôi xin gởi đến các đạo hữu gần xa câu chuyện Tiền thân đầy Ðạo vị này, là một trong những chuyện cổ tích khích lệ mọi người thực hành một đức tính mà Bồ-tát, tiền thân Ðức Phật, đã thể hiện qua biết bao đời sống trước khi thành Phật.


(1) Bồ-tát khuyên vua hành trì Ngũ giới và Thập thiện trước khi từ giã.

 

GS. Trần Phương Lan

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP. HCM

TĂNG NI SINH KHÓA V

Số 1. Ðặc san kỷ niệm Mùa Vu Lan PL.2546


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Trần Phương Lan) frontpage Thu, 22 Jul 2010 21:25:06 +0000
Chữ hiếu của người xuất gia http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6393-chu-hieu-cua-nguoi-xuat-gia.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6393-chu-hieu-cua-nguoi-xuat-gia.html  

Cứ mỗi độ thu về, mỗi người chúng ta dù là một Phật tử hay đơn thuần chỉ là tín đồ của một tôn giáo nào đi nữa, không ai lại không nhớ đến một ngày thiêng liêng và trọng đại, đó chính là ngày lễ Vu-lan – Rằm tháng bảy.

Thật vậy, ngày Vu-lan không chỉ là ngày lễ hội văn hóa truyền thống đặc thù của dân tộc Việt Nam, mà nó còn thể hiện truyền thống đạo đức của người con dân Việt Nam đối với cha mẹ của mình.

Nói đến Vu-lan người ta thầm liên tưởng đến ngày hiếu, ngày mà mỗi người con chúng ta gởi gắm vào đấy tất cả tâm tư và nỗi nhớ về công ơn sanh thành dưỡng dục.

Lâu nay đã có bao bài viết, bao tác phẩm, bao kiệt tác bất hủ nói lên công ơn hai đấng sanh thành, cũng như bổn phận của người con hiếu đối với cha mẹ. Nhưng những phần được đề cập ấy, đa số chỉ nói đến bổn phận của người Phật tử tại gia. Chính vì lẽ đó, đã không ít người xuất gia cho rằng, chữ Hiếu chỉ dành riêng cho người Phật tử taïi gia, còn chúng ta, những người xuất gia là những bậc xuất trần, đã cắt ái từ thân, không còn bổn phận với cha mẹ nữa. Nhưng thật ra, nói như vậy là đã quên nghĩ đến việc thân này từ đâu mà có. Phải chăng nhờ vào sự cưu mang và nuôi dưỡng của cha mẹ ?

Cũng vậy, quả vị Vô thượng Bồ-đề mà Ðức Phật chứng đạt, một phần là nhờ có những duyên lành này mà được thành tựu. Vì vậy, Ngài dạy rằng: “Hiếu thuận như một nguyên tắc đạo đức, nó trở thành mọi giới điều buộc mọi người phải tuân giưõ”. Trong đó, cha mẹ là nhân duyên đầu tiên và trước hết.

Ðiều ở đây muốn nói, chính là vấn đề hàng xuất gia báo hiếu không phải bằng vật chất, hay những món ngon vật lạ dâng cúng cho cha mẹ như quan niệm thường tình ở thế gian. Bổn phận chính đáng của chúng ta ngoài những việc ấy là đem lại cho cha mẹ chánh kiến và chánh tín đối với ngôi Tam bảo, hướng dẫn cha mẹ vào con đường giải thoát, xa lìa sanh tử khổ đau. Cách báo hiếu ấy, đối với người xuất gia là một việc làm thiết thực đúng theo lời Phật dạy và có nhiều thuận duyên hơn cả. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Ðức Phật đã dạy: “Những ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với của cải, vật chất, tiền bạc,... thời không bao giờ đủ trả ơn cho cha mẹ. Nhưng này các Tỳ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin thì khuyến khích cho cha mẹ an trú vào lòng tin. Ðoái với cha mẹ theo ác giới thì khuyến khích hướng dẫn cha mẹ an trú vào thiện giới... Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, tức là làm đủ và trả ơn đủ cho cha và mẹ.

Thật vậy, trong xã hội ngày nay, không ít những bậc cha mẹ đang sống trong giàu sang, tiện nghi đầy đủ do con cái mang lại. Thế nhưng hàng ngày hàng giờ họ phải sống trong tâm trạng khổ đau bởi sự ràng buộc của tiền tài vật chất và dường như sự ràng buộc ấy dần đã trở thành một phần cuộc sống của họ từ bao giờ.

Người xuất gia tuy không có đầy đủ phương tiện vật chất như những người thế tục, nhưng chúng ta luôn sống trong niềm vui của tỉnh thức, vì đã đổi những vật chất bình thường để nhận lấy những gì cao quý hơn, đó là sự giải thoát và an lạc, để rồi cùng hướng dẫn cha mẹ trở về an trú trong niềm an lạc vô biên của hiện tại và tương lai.

Ngược dòng thời gian của lịch sử, chúng ta sẽ thấy một hình ảnh vô cùng cao đẹp của Ðức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni, khi còn là một Thái tử ở vương triều. Dầu đang sống trong cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, bên sự thương yêu chìu chuộng của bậc song thân khả kính, nhưng Ngài đã từ bỏ tất cả để đổi lấy một cuộc sống bình thường giản dị, hầu tìm ra con đường giải thoát và giác ngộ. Với quan niệm thường tình, có lẽ một số người sẽ vội cho rằng Ngài thật bất hiếu vô tâm, vì đã ra đi để lại sau lưng hai đấng sanh thành đang mỏi mòn thất vọng. Nhưng nhìn sâu xét kỹ chúùng ta mới thấy được ý nghĩa sâu sắc về việc làm của Ngài, một người con chí hiếu, mà trên cuộc đời này khó tìm được người thứ hai.

Sau ngày thành đạo, Ðức Phaät đã hóa thân lên cung trời Ðao Lợi thuyết pháp độ mẹ. Trở về Ca-tỳ-la-vệ, Ngài thuyết pháp độ cho Vua cha tỏ ngộ, chứng quả Tu-đà-hoàn. Ðích thân Ngài đã chăm sóc Vua cha từ những ngày lâm bệnh cho đến khi quá vãng vaø Ngài đã dùng đôi vai của chính mình để nâng đỡ nhục thân Phụ hoàng đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Bằng những việc làm thiết thực đó, Ðức Phật đã thể hiện rõ tinh thần hiếu đạo của một bậc xuất trần và cũng là tấm gương sáng cho các hàng đệ tử soi chung. Nối theo gót Ngài, đã có biết bao tấm gương hiếu tuyệt vời, điển hình là Tôn giả Mục Kiền Liên, thật đáng để cho chúng ta kính lễ.

Gần gũi với chúng ta nhất, là lòng hiếu thảo của Thiền sư Nhất Ðịnh. Mặc cho mọi người gièm pha, đàm tiếu, Ngài trở về quê chăm sóc mẹ già bên mái tranh đơn sơ, giản dị. Về sau, để tỏ lòng tôn kính một vị Cao tăng hiếu thảo, am tranh ấy đã được vua Tự Ðức cho xây dựng laïi thành một ngôi chùa và sắc tứ là “Từ Hiếu Tự”, để ghi lại cho người đời sau dấu tích của một vị Thiền sư đại hiếu.

Ngoài ra, mỗi khi ghé về thăm Hà Nội, không ai lại không biết đến ngôi chùa Hòe Nhai. Nơi đó cũng đã lưu lại hình ảnh hiếu thuận của một vị Thiền sư mà ngày nay người bình dân Việt Nam ta thường gọi là “Hòa thượng Cáy”, tức là Thiền sư Tông Diễn.

Những tấm gương đại hiếu của các bậc xuất gia đã minh chứng rõ một tinh thần hiếu đạo cao cả. Sự báo hiếu ấy không dừng lại nơi việc cung dưỡng đầy đủ vật chất mà còn đem đến cho cha mẹ những pháp tu tập, hầu mang lại sự an lạc giải thoát ở hiện tại cũng như tương lai.

Thế mới thấy được tinh thần hiếu kính cao cả của người xuất gia. Cho nên, bậc Cổ đức có dạy: “Nhất nhân thành đạo, cửu huyền siêu thăng”. Nghĩa là: Trong gia đình nếu có người xuất gia đạt thành Chánh quả, thì cả gia đình giòng tộc ấy đều được nương nhờ ân đức.

Thời gian quá khứ dần khép lại, để rồi mỗi Tăng, Ni trẻ chúng ta sẽ cùng kết lên những đóa hoa hiếu hạnh kính dâng lên hai đấng sanh thành dưỡng dục với tất cả lòng chí thành hiếu kính nhân mùa VU LAN – RẰM THÁNG BẢY.  

 

Nhuận Ân

 

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP. HCM

TĂNG NI SINH KHÓA V

Số 1. Ðặc san kỷ niệm Mùa Vu Lan PL.2546


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Nhuận Ân) frontpage Thu, 22 Jul 2010 21:22:46 +0000
XIN DÂNG TRỌN CUỘC ĐỜI http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6392-xin-dang-tron-cuoc-doi.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6392-xin-dang-tron-cuoc-doi.html  

Hạt mưa chánh pháp thấm nhuần mặt đất, vạn vật chuyển mình như lấy lại sức hồi sinh. Đưa tay tôi đón giọt nước hữu tình mà lòng nghe trỗi dậy một niềm vui an lạc, khi chợt nhận đâu là khởi điểm báo hiệu đã đến rồi mùa hạ tháng tư.

Hạt mưa hôm nay tạm gọi là đầu mùa, nhưng hương vị trời hè kể từ ngày ấy trong tôi không còn ranh giới, sức nóng thêm nóng bức, thì hạt mầm sẽ mạnh bung khi mưa đến.

Trăng tháng Tư lung linh ảo huyền man mác. Những cánh chim Ca Lăng tập tành bay lượng về đâu trong bầu trời mang dung lượng mùi hương giải thoát, tỏa ra không tháng ngày hạn định thời gian. Mạch máu trí tuệ chảy hoài trong vô tận của cơ thể chánh pháp. Những sông nước nào khô cạn của hoàng sa gởi hồn về đây trong xanh biếc của phong cảnh tâm hồn tơ mịn. Rừng hoang của vô minh tăm tối đang lụn dần trước ánh sáng của tỉnh thức kiên cường. Hạnh phúc khổ đau nào phải thế lực tương khắc trên đỉnh trời giác ngộ. Ta không xây nhà trên bờ Ni Liên cát lở để góp thêm lượng nước mắt cho vô lượng kiếp trần thế mây mù ngăn lối, trong cát bụi phù du. Dấu chân ta đã miệt mài trên sỏi đá, dáng hình ta đã đậm nét phong sương. Nhưng hãy cố gắng tìm lại tấm lòng kiên cố nặng gánh gian truân, dậm chân trên lửa nóng thấu da, trong sa mạc hoang vắng, trong ánh nắng gắt trưa hè. Vì đó là những gì thiêng liêng nhất, những gì thơ mộng nhất, những gì cao đẹp nhất, những gì chân lý nhất mà lý tưởng và sứ mệnh ta hằng ước.

Đời tu sĩ như mây bay trong tiếp nối, như suối reo, như chim non tìm về tổ ấm, như cơn mưa đầu mùa làm dịu nắng hạn, như ánh đuốc giữa đêm đen soi sáng. Cho tôi gởi tâm hồn vào đây với hương đồng nội để làm hành lý cho trang sử đầu tiên, và tất cả đã qua đi, để lại trong tôi và hậu thế những tháng ngày thầm lặng thiên thu. Trang giấy khép lại ấn chìm cành mai vàng vô tận tâm thức. Mùa Đông rét mướt rồi sẽ đi qua nhường chỗ cho mùa Xuân về sưởi ấm, rồi cũng có người bồi hồi quay lại vẫy tay. Còn tôi cứ rảo bước chẳng một lần ngoái lại, nhưng không phải thế “phút giây nào phẳng lặng trăm năm một thuở quay về...

Hoàng hôn đang chìm xuống trên dòng sông, mọi cảnh vật ngàn năm in dấu. Cho tôi xin dâng trọn cuộc đời để hoằng hóa xứ mạng Như Lai.

 

Nhật Thanh

Tập san Pháp Luân 3

PL.2548-No.3/ tháng 5 năm Giáp Thân


alt

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Nhật Thanh) frontpage Thu, 22 Jul 2010 21:16:43 +0000
Sống đúng http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6391-song-dung.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6391-song-dung.html  

Lịch sử nhân loại trải qua bao thăng trầm theo thời gian, bao sự thịnh suy của thời đại. Sự hiện hữu của con người trên cuộc đời chỉ thoáng chốc như những giọt sương treo đầu ngọn cỏ, tồn tại như một ánh chớp trong đêm rồi vụt tắt, thế nhưng ngay nơi bản thân con người, ngay trong cuộc sống của các cộng đồng đã hình thành nên những cách sống riêng, những phong tục tập quán riêng, sự phân tầng xã hội cũng theo đó mà thiết lập. Có triều đại phân chia giai cấp được xã hội công nhận, có triều đại còn đang tiềm ẩn chưa hiện ra. Chính điều đó đã làm xáo trộn những cái nhìn, những cách sống đến những tư tưởng nhận định khác nhau. Trước lúc đức Phật ra đời, xã hội Ấn độ phân  thành bốn giai cấp Bà-la-môn, Sát-đế-lị, Phệ-xá, Thủ-đà-la một cách rõ rệt, làm cho cuộc sống của con người lúc ấy phân vị theo từng giai cấp sang, hèn khác nhau. Đức Phật đã kịch liệt phản đối và chủ trương xóa bỏ xã hội mang nặng tính giai cấp này. Ngài cho rằng tất cả mọi người đều có dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn. Với tinh thần đó, đức Phật đã thiết lập một xã hội bình đẳng giữa con người với con người, khẳng định lại tính Chân Thiện Mỹ ngay nơi bản thân của một con người, một tính Phật hằng hữu mà mọi người đều có thể thành Phật nếu như thực hành và sống thuận theo sự vận hành của chân lý.

Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, cuộc sống con người được đặt ở một vị thế nhất định; cho dù bạn là người như thế nào, thì cuộc sống của bạn cũng được tôn trọng. Theo tinh thần duyên sinh của Phật giáo, thì cuộc sống là một tổ hợp kết dính với nhau. Nếu A có mặt thì B có mặt. Do vậy, cuộc sống của loài người là một mối liên hệ rất mật thiết. Đã là mối liên hệ với nhau thì cần phải bảo vệ và tôn trọng lẫn nhau. Nếu không tôn trọng lẫn nhau thì sẽ có những cuộc chiến tranh xảy ra. Chúng ta cũng từng chứng kiến qua thực tế, qua lịch sử những cuộc chiến tranh xảy ra làm cho nhiều người phải chịu cảnh tang thương, ly tán. Từ cách nhìn như vậy, ta thấy rằng, con người hiện hữu ở đời không chỉ một mình mình tồn tại mà còn có nhiều mối liên hệ tương duyên tương quan khác. Cho nên trong cuộc sống hằng ngày, bạn không nên áp đặt tư tưởng của mình lên một đối tượng khác, hay vì một lý do gì lại xem thường họ.

Thử hỏi, nếu bạn ở trên đỉnh cao của sự giàu sang, bạn không nghĩ đến nỗi khổ của người nông dân, thì hạt gạo mà bạn dùng hàng ngày ở đâu mà có? Nếu như không có những người lao động chân lấm tay bùn, thì thử hỏi bạn có thể tồn tại được không? Ở đây, người viết chỉ đề cập đến quan hệ đối xử giữa con người với con người thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày mà thôi. Bạn thử nghĩ xem, sống trên đời, ai không muốn mình hạnh phúc và tránh đi những khổ đau; ai không muốn mình được ăn sung mặc sướng, quyền cao chức vọng, nhưng không phải vì vậy mà người ấy lại đánh mất đi lòng tự trọng của chính mình.

Câu chuyện sau đây cho thấy lòng tự trọng của con người rất là cao. Một lần nọ, trên đường đi tôi gặp một bà cụ ăn xin tuổi ngoài bảy mươi. Trong lúc đi xin bà gặp một cô gái khoảng chừng 30 tuổi. Bà ta xin cô gái ấy 2000 đồng, cô gái vui vẻ cho, nhưng cô ta vô tình hỏi bà cụ một câu :

-“Bà cụ xin để làm gì vậy?”

- “Cho hay không là quyền của cô, cô cho tôi 2000 mà bắt tôi phải trả lời để làm gì thì 2000 của cô đắt quá”. Bà cụ đáp lại, rồi bỏ đi chỗ khác.

Đây là chuyện rất đơn giản nhưng nó lại thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Không phải bạn có quyền hay tiền bạc nhiều mà bạn xem thường người khác. Bởi vì bạn có tôn trọng người ta thì người ta mới tôn trọng lại bạn, đây là một quy luật tất yếu trong quan hệ đối xử. Một người tuy mang phận ăn xin nhưng họ vẫn có lòng tự trọng của chính họ. Vẫn biết rằng sự hiện hữu của chúng ta ở cõi đời đều do nghiệp báo riêng, nhưng mỗi khi đã sinh ra làm người thì con người đều bình đẳng như nhau.

Đông tây kim cổ, bất cứ một triều đại hay đế chế nào, cuộc sống của con người luôn được đặt lên hàng đầu. Một xã hội muốn cho tốt đẹp, thì những con người sống trong xã hội ấy phải có sự tôn trọng lẫn nhau, mỗi một cá nhân được tôn trọng lẫn nhau thì tập thể được cấu thành nên sẽ vững mạnh, một tập thể vững mạnh thì xã hội ấy ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Điều quan trọng trong cuộc sống là bạn phải có lòng vị tha và thông cảm với người khác. Đức Phật cũng vậy, trong 49 năm hoằng pháp độ sinh, Ngài đã cứu giúp không biết bao tâm hồn đang ở trong trạng thái sống say chết dỡ. Chính nhờ lòng từ bi rộng lớn mà Ngài đã đưa những tâm hồn đang còn lạc lõng giữa bến đời ô trược trở về với cuộc sống chân chánh, đến với chân lý, xây dựng một nền tảng đạo đức chân thật trong tinh thần duyên sinh vô ngã. Như trường hợp của Liên hoa Sắc, nửa đời dùng son phấn làm điên đảo nhiều người và gây nên bao tội lỗi nhưng khi quay đầu lại, nhận chân ra sự thật cuộc đời chỉ là tạm bợ, cuối cùng quyết định xuất gia vẫn chứng được quả vị A-la-hán. Từ sự tôn trọng con người, biết yêu thương và quý hóa sự sống, Ngài đã không bỏ bất cứ một ai, dù người ấy ở giai cấp thấp nhất như giai cấp Chiên-đà-la chẳng hạn, vẫn được Ngài thâu nhận vào sống trong Tăng đoàn; đây là một bước ngoặc lịch sử đánh đổ sự phân tầng xã hội một thời hằn sâu trong tiềm thức của những con người đương thời, mở ra đạo lộ thênh thang khẳng định tính chất nhân bản bình đẳng của đạo Phật. Trong suốt hành trình hoằng hóa độ sanh, đức Từ Phụ luôn rộng mở tấm lòng bao dung, vị tha để cảm hóa người khác. Ngài chỉ khuyên hàng đệ tử đến để thấy rồi tu chứ không bao giờ áp đặt.

Để có một cái nhìn đúng và thông cảm đến với người khác, bạn cần phải tôn trọng họ. Vì  bạn tôn trọng họ tức là bạn đang tôn trọng chính mình. Một cuộc sống mà biết tôn trọng lẫn nhau thì cuộc sống ấy sẽ tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn và chắc chắn sẽ giải quyết được những vấn đề rắc rối một cách triệt để hơn. Có một nhà hiền triết nói: “Muốn lãnh đạo phải biết người, muốn biết người phải nghe họ nói”. Lắng nghe họ nói là mình đang học hạnh lắng nghe của ngài Quán Thế Âm, nghe để mình thông cảm, nghe để biết được ý kiến của người mà chia sẽ nỗi niềm cũng như công việc của người đối với mình; chứ không phải chỉ nghe những tiếng nói của quyền lực và danh vọng rồi làm nô lệ cho miếng mồi ngon vô minh điên đảo khổ đau.

Vấn đề được đặt ra ở đây là mỗi người đang sống giữa cuộc đời tối thiểu cần phải có đủ hai điều kiện: Thứ nhứt là tôn trọng người và thứ hai là tôn trọng mình. Tôn trọng người để thông cảm với người, để từ đó mình có cái nhìn về mọi người một cách đúng đắn hơn; còn tôn trọng mình thì phải giữ thái độ và lời nói của chính mình. Nếu không làm được như vậy, bạn sẽ tự đặt mình vào một hoàn cảnh “cười người hôm trước, hôm sau người cười”. Thế nên, mỗi khi xét đoán một việc gì tốt hơn là bạn hãy đặt mình vào trong hoàn cảnh của người ấy, thì may ra bạn mới có sự thông cảm với người khác được.

Con người từ lúc sinh ra cho đến lúc mất đi thiện ác luôn là vấn đề được mọi người quan tâm và đưa ra nhiều nhận định khác nhau, hiểu biết khác nhau. Dù bạn cho rằng mình đang sống, đang làm, đang giúp cho người nhưng thật ra những điều bạn đang sống đang làm đang giúp cho người đó lại là những điều mà bạn làm cho chính bản thân của bạn nhiều hơn. Trong Luận Bảo Vương Tam Muội dạy rằng: “Thi ân đừng cầu mong đáp trả, vì mong đáp trả là thi ân có mưu tính.” Con người chưa phải là một thánh nhân cho nên chưa thật sự hoàn hảo, do đó con người cần phải học hỏi nhiều để làm cải đổi cuộc sống tươi đẹp hơn, hoàn thiện hơn.

Bạn không nên áp đặt họ vào một quy trình, hay răn dạy họ theo một “giáo điều” tự bạn đưa ra. Hãy xem họ như là người thân của chính mình, là cha mẹ anh em ruột thịt của mình, có như vậy thì bạn mới dễ dàng gần gũi để khuyên dạy hay hướng dẫn họ theo lẽ thiện. Vì những yếu tố để tạo thành một con người thiện mỹ, một xã hội tốt đẹp không chỉ có bản thân bạn, mà cần phải có sự tương quan giữa người này và người khác. Ngay cả những người đem lại cho chính bạn nhiều chướng ngại nhất, cũng chính những người đó đã xây dựng cho bản thân bạn trở thành một con người có tính kiên nhẫn thương yêu nhất. Bởi thế trong bất cứ phương diện nào, một hoàn cảnh nào, một xã hội nào thì vấn đề đạo đức xây dựng con người cần phải đưa lên hàng đầu, được xem là trọng tâm, là mấu chốt để thiết lập một xã hội thăng tiến văn minh hơn. Do đó trong cuộc sống hiện tại, con người cần phải tôn trọng và quý hóa lẫn nhau, hãy trải rộng tấm lòng bao dung không chỉ cho con người mà cho cả muôn loài để cùng nhau chung sống một cuộc sống không còn sợ hãi, hận thù hay đau khổ.

Bởi vậy khi nhìn nhận một con người bạn phải nhìn họ với cái nhìn hiểu biết và cảm thông, theo đạo Phật đó là cái nhìn vô ngã, cái nhìn không có ta và người, không có ngã và ngã sở; phải thương xót cho những con người kém may mắn. Ở Tây Tạng người ta luôn đưa vấn đề này lên hàng đầu, như đầu mỗi giờ học thì học sinh phải học những điều răn sau: “Hãy lấy ân báo oán. Hãy siêng học kinh điển và giáo lý. Hãy giúp đỡ đồng loại. Không ăn hiếp những kẻ thế cô, hiền lành. Luật pháp nghiêm khắc với kẻ giàu sang để dạy họ sự thông cảm và công bằng. Luật pháp khoan hồng với kẻ  nghèo để an ủi họ.”

Trên đây là một số thiển ý mà người viết đưa ra mong bạn đọc hãy đón nhận với một tâm trạng thoải mái để rồi nhìn đời bằng cặp mắt yêu thương và thông cảm đối với mọi người. Hãy nên nghĩ rằng nếu không có mọi người thì ta sẽ không bao giờ tồn tại. Bởi cuộc đời này không bao giờ tồn tại bạn nếu như không có người khác. Tinh thần duyên sinh của Phật giáo cũng đã nói lên vấn đề này. Đức Phật, Ngài cũng đã nêu cao tinh thần tôn trọng sự sống của người. Do vậy, trong cuộc sống của chúng ta, mỗi người cần phải có sự thông cảm cho nhau. Cuộc sống của con người cần phải được tôn trọng đúng theo giá trị của họ. Chúng ta phải tôn trọng và xây dựng sự sống trên tinh thần nhân bản. Đừng để cuộc đời xảy ra tranh chấp, gây thù kết oán, mà phải học hạnh từ bi lấy tình thương mà hóa giải hận thù thì hận thù mới tiêu tan như trong kinh Pháp cú Phật dạy: “Hận thù diệt hận thù, đời này không có được; không hận diệt hận thù, là định luật ngàn thu.”

 

Phổ Tuệ

Tập san Pháp Luân 3

PL.2548-No.3/ tháng 5 năm Giáp Thân


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Phổ Tuệ) frontpage Thu, 22 Jul 2010 21:14:03 +0000
Giới thiệu PHẨM VUA DIỆU TRANG NGHIÊM TRONG KINH PHÁP HOA http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-can-ban/6390-gioi-thieu-pham-vua-dieu-trang-nghiem-trong-kinh-phap-hoa.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-can-ban/6390-gioi-thieu-pham-vua-dieu-trang-nghiem-trong-kinh-phap-hoa.html

I - Ý Nghĩa và Duyên Khởi:

Phẩm này nói lên sự tích của Vua Diệu Trang Nghiêm là tiền thân của Bồ tát Hoa Đức.

Và công hạnh chuyển hóa tà kiến đối với Vua Diệu Trang Nghiêm của Vương Hậu Tịnh Đức và hai hoàng tử là Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn, khiến Vua chuyển đổi tà kiến thành chánh kiến, và hướng tâm đến Phật đạo. Vua đã được đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí khai thị cho kinh Pháp Hoa và vua đã ngộ nhập được Phật tri kiến, nên đã xin xuất gia và tinh tấn tu học, sau đó được đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa thọ ký tương lai thành Phật với danh hiệu là Sa La Thọ Vương, quốc độ tên là Đại Quang, thời kỳ tên là Đại Cao Vương. Ngài có vô lượng Bồ tát và Thanh Văn. Quốc độ của Sa La Thọ Vương là Tịnh độ.

Vương Hậu Tịnh Đức, bấy giờ là Bồ tát Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng. Hoàng tử Tịnh Tạng lúc bấy giờ là Bồ tát Dược Vương, và hoàng tử Tịnh Nhãn bấy giờ là Bồ tát Dược Thượng.

Bồ tát Hoa Đức, Bồ tát Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng, Bồ tát Dược Vương, Bồ tát Dược Thượng, hiện đang có mặt trong đương hội Pháp Hoa của đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại đỉnh Linh Sơn đã từng là thiện hữu tri thức của nhau và đã từng đưa nhau đi tới Nhất Thừa Đạo vào thời đại của đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí thuở xa xưa.

Như vậy, vị trí của Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự nầy là nói rõ vai trò thiện tri thức đối với kinh Pháp Hoa và đề cao pháp hành Phương tiện Ba La Mật và hiệu quả do pháp hành ấy đem lại.

Ở phẩm Đề Bà Đạt Đa, đức Phật đã nói rõ, Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức Pháp Hoa của Ngài. Phẩm nầy đức Phật nói rõ đức Bồ tát Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng, Bồ tát Dược Vương, Bồ tát Dược Thượng là những vị thiện tri thức Pháp Hoa của Bồ tát Hoa Đức.

Thiện tri thức đối với chúng ta có nhiều loại, có những loại đồng giới, đồng học, đồng hành với chúng ta, ở kinh Hoa Nghiêm Bồ tát Phổ Hiền nói với Bồ tát Phổ Tuệ cùng với Đại chúng Bồ tát rằng, Thiện tri thức có mười chủng loại như sau:

-        Thiện tri thức là vị có khả năng khiến ta an trú tâm bồ đề.

-        Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta tu tập hết thảy căn lành.

-        Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta thực hành các Ba la mật rốt ráo.

-        Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta phân biệt, giải thuyết hết thảy pháp.

-        Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta thành thục và an trú hết thảy chúng sanh.

-        Thiện tri thức là vị đầy đủ biện tài, có khả năng giúp ta trả lời mọi nghi vấn. .

-        Thiện tri thức là vị có khả năng giúp cho ta không bị mắc kẹt ở nơi các loại sanh tử.

-        Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta ở nơi vô lượng kiếp thực hành hạnh Bồ tát không có mệt mỏi.

-        Thiện tri thức là vị giúp ta an trú hạnh nguyện hiền thiện cùng khắp.

-        Thiện tri thức là vị có khả giúp ta thâm nhập tất cả trí tuệ của Phật.1

Nhưng, Thiện tri thức Pháp Hoa còn sử dụng ứng thân đủ loại thuận nghịch, khi thì làm vợ chồng, thầy bạn, con cháu để tác thành diệu pháp cho ta. Không những xoay chuyển tâm tà của ta về với chánh đạo, mà còn giúp ta phế bỏ phương tiện mà nhắm hướng tới cứu cánh, không ngưng trệ nơi hóa thành mà đi tới bảo sở. Và ngay cả, có khi biểu hiện thân Phật để thọ ký và ấn chứng cho ta thành Phật nữa.

Do đó, Thiện tri thức là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và hoằng truyền kinh Pháp Hoa. Nên, hạnh môn của Bồ tát trong phẩm nầy là Thiện tri thức với phương tiện trí lực.

Duyên khởi của phẩm nầy là đức Phật tự nói về bản môn và hạnh môn Pháp Hoa của các vị Bồ tát như Hoa Đức, Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng, Dược Vương, Dược Thượng cho đại chúng Pháp Hoa ở trong tích môn nghe.

II- NỘI DUNG CHỦ YẾU:

Nội dung chủ yếu của phẩm nầy là nói về Phương tiện bản môn và bản hóa của Bồ tát.

Và trong mười Ba La Mật của Bồ tát, phẩm nầy đề cao sự thực hành Phương tiện Ba La Mật.

Phương tiện Ba La Mật ở phẩm nầy là đề cao thần lực:

1- Sử Dụng Thần Lực:

Kinh nói: “Bấy giờ hai vương tử là Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn đến nơi mẹ chấp tay thưa rằng: xin mẹ đi đến chỗ đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, chúng con xin đi theo thân cận hầu hạ mẹ và để được cúng dường lễ bái Ngài. Tại vì sao? Vì Ngài đang ở giữa hết thảy chư thiên, loài người diễn giảng kinh Pháp Hoa. Chúng ta cần phải đến đó để lắng nghe và tiếp nhận”.

Vương Hậu bảo hai vương tử rằng, phụ thân của hai con tin tưởng và thọ giáo theo ngoại đạo, kẹt sâu vào pháp của Bà La Môn. Các con hãy đến thưa với phụ thân để Người cùng đi.

Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn chấp tay thưa với mẹ rằng: Chúng con là con của đấng Pháp Vương, vậy mà lại sinh vào nhà kiến thức sai lầm nầy.

Vương Hậu bảo, các con phải thương phụ thân của các con mà biểu hiện thần thông biến hóa. Nếu phụ thân các con thấy được, tâm phụ thân của hai con chắc chắn thanh tịnh và chấp nhận cho tất cả chúng ta cùng đi đến chỗ Phật.

Bấy giờ hai người con nghĩ đến thân phụ, liền vọt lên không gian, cao độ bảy cây Đa La, biểu hiện các loại thần thông biến hóa. Đi, đứng, nằm, ngồi ở trên hư không. Trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa. Hoặc biểu hiện thân lớn đầy khắp cả không gian, rồi lại hiện nhỏ, nhỏ lại hiện lớn, ẩn mất ở trong không gian,  lại hiện ra trên mặt đất. Vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất. Hai vương tử biểu hiện nhiều loại thần biến như vậy là khiến cho tâm trí của phụ vương tin hiểu một cách trong sáng” 2.

Đối với luật tạng Thanh Văn, Tỷ khưu đi hoằng hóa không được sử dụng thần thông. Nhưng, đối với kinh Pháp Hoa, phẩm nầy lại đề cao việc sử dụng thần lực.

Tại sao? Tại vì giới luật Thanh Văn nhắm tới phòng phi, chỉ ác cho tự thân, và đề cao về mặt tự giác, nên việc biểu hiện thần lực không phải là điều cần thiết. Nhưng, đối với Bồ tát Thừa, không những chỉ nhắm tới phòng phi, chỉ ác cho bản thân mà còn đề cao về mặt giác tha, nên có thể sử dụng bất cứ phương tiện nào, để đánh thức và khai thị Phật tính cho chúng sanh ngộ nhập là Bồ tát đều có thể sử dụng.

Thần thông mà Bồ tát sử dụng là thuộc về Phương tiện trí lực. Trí lực nầy là do Bồ tát tu tập Trì giới Ba La Mật, Thiền định Ba La Mật và Trí tuệ Ba La Mật mà thành tựu.

Nên, thần lực ấy là thần lực sinh khởi từ Giới - Định - Tuệ của Bồ tát, cộng với Từ bi và Nguyện lực của các Ngài, trong hạnh nguyện độ sinh. Vì muốn chuyển hóa tà tâm, tà kiến của chúng sanh mà biểu hiện thần lực, chứ không phải biểu hiện thần lực vì danh dự hay lợi dưỡng.

Và quan trọng hơn hết, Bồ tát sử dụng phương tiện thần lực là để khai thị Phật tính cho chúng sanh và giúp họ ngộ nhập Phật tính, hội nhập Nhất Thừa.

2- Hiệu Quả Của Phương Tiện Thần Lực:

2/1. Xin được xuất gia:

Với hiệu quả nầy, kinh nói:

“Bấy giờ phụ vương thấy thần lực của hai con như vậy, tâm rất hoan hỷ được sự chưa từng có, liền chấp tay hướng đến hai con mà hỏi: Thầy của hai con là ai? Hai con là đệ tử của vị nào?

Hai vương tử thưa với phụ vương rằng, đức Như Lai Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, hiện nay đang ngồi trên pháp tòa bảy báu dưới cội Bồ đề, ở giữa chư thiên và nhân loại để tuyên thuyết kinh Pháp Hoa một cách rộng rãi, Ngài là Thầy của chúng con, chúng con là đệ tử của Ngài.

Phụ vương nói với các vương tử rằng: Ta muốn diện kiến Thầy của các con. Chúng ta nên cùng đi.

Hai vương tử từ hư không bước xuống, đến chỗ của mẹ chấp tay mà thưa mẹ rằng, phụ vương nay đã tin hiểu, đủ khả năng phát tâm Vô thượng Bồ đề. Chúng con đã vì cha làm Phật sự xong. Xin mẹ chấp thuận cho chúng con được xuất gia tu tập học đạo với đức Phật.

Bấy giờ hai vương tử trình bày lại ý nguyện của mình bằng thi kệ như sau:

“Xin mẹ cho chúng con

xuất gia làm Sa Môn

chư Phật rất khó gặp

chúng con theo học Phật

như hoa Ưu Đàm Bát

gặp Phật lại khó hơn

thoát tai nạn cũng khó

xin cho con xuất gia”.

Vương Hậu liền nói lên lời chấp nhận cho hai vương tử xuất gia, vì sao? Vì Phật khó gặp vậy.

Hai vương tử liền thưa với Phụ hoàng và Mẫu hậu rằng, thật hạnh phúc thay, thưa Phụ hoàng và Mẫu hậu! Xin Phụ hoàng và Mẫu hậu đi liền đến chỗ của đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí để thân cận, cúng dường. Vì sao? Vì Phật khó gặp, cũng giống như sự hiếm có của hoa Ưu Đàm; lại hiếm có như rùa một mắt mà cổ của nó chui vào được lỗ hổng của tấm ván trôi dạt trên biển cả.

Chúng con nhờ phước đức sâu dày đời trước sinh ra gặp Phật và pháp của Ngài, nên xin cha mẹ chấp thuận cho chúng con xuất gia. Vì sao? Vì chư Phật khó gặp mà thời gian để gặp lại càng khó hơn” 3.

Xuất gia là điều kiện tốt nhất để tu học và làm các Phật sự.

Tu học trong đời sống xuất gia thì không có điều kiện hoặc có ít điều kiện để cho tham ái sinh khởi. Và làm Phật sự trong đời sống xuất gia thì không bị mọi sự thiên ái trói buộc, nên làm các Phật sự có hiệu quả rất cao.

2/2 Hiệu quả của sự chuyển hóa:

Kinh nói:“Bấy giờ Vua Diệu Trang Nghiêm cùng quần thần, quyến thuộc, Tịnh Đức Phu nhân, với các thể nữ quyến thuộc ở hậu cung, hai vương tử, cùng bốn vạn hai ngàn người đều đồng một lúc đi đến chỗ Phật.

Đến rồi, mọi người đều kính lễ đức Phật, đi nhiễu ba vòng. Xong, bước lui đứng về một phía.

Bấy giờ đức Phật đã vì Vua Diệu Trang Nghiêm mà thuyết pháp, chỉ bày, giáo huấn, khiến Vua tùy hỷ lợi ích. Vua đã vui mừng và rất hoan hỷ” 4.

Đây là kinh diễn bày sự chuyển hóa bước đầu của Vua Diệu Trang Nghiêm, qua sự thuyết pháp của đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, những hạt giống tà kiến sâu dày của Bà La Môn trong Vua đã chuyển hướng đi về phía chánh kiến, tức là đi về phía của Pháp Hoa. Đức tin Đại thừa bắt đầu trỗi dậy. Đức tin ấy được thể hiện qua sự ly tham, ly chấp thủ của Vua. Nên, Vua đã cởi chuỗi ngọc trân châu đang mang nơi cổ với giá trị cả trăm ngàn, tung lên trên đức Phật.

2/3 Thành Tựu Đức Tin Và Được Ấn Chứng:

Bấy giờ đức tin Pháp Hoa của Vua Diệu Trang Nghiêm thành tựu, nên chuỗi ngọc trân châu của Vua tung lên trên đức Phật đã trở thành phép lạ, hay diệu pháp như kinh nói:

“Ở trong không trung, ngọc ấy đã chuyển hóa trở thành đài báu bốn trụ. Trong đài có giường báu lớn, trải trăm ngàn vạn thứ vải của chư thiên. Trên giường báu ấy có đức Phật ngồi kiết già, phóng ra ánh sáng vĩ đại.

Bấy giờ Vua Diệu Trang Nghiêm liền nghĩ, thân Phật thật hiếm có, đoan nghiêm, rất đặc biệt, thành tựu sắc tướng mầu nhiệm tinh anh số một” 5.

Đây là phần nói về sử dụng Phương tiện trí lực của Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí để yểm trợ đức tin Pháp Hoa cho Vua Diệu Trang Nghiêm, khiến cho Vua thành tựu đức tin ấy. Và Vua Diệu Trang Nghiêm thành tựu đức tin Pháp Hoa là do tâm Vua buông xả danh lợi.

Nên, thâm ý của đoạn kinh nầy, khai thị cho ta thấy rằng: buông xả danh lợi ở đâu thì Phật hiện ra ở đó. Và Phật hiện ra ở đâu thì sự trang nghiêm và phước báu cũng hiện ra ở đó.

Buông xả danh lợi là Pháp bảo, và từ nơi Pháp bảo mà hiện ra Phật bảo.

Phật bảo, Pháp bảo là căn bản để Tăng bảo sinh khởi. Vua Diệu Trang Nghiêm xem thường ngôi vua là xả danh, cởi vòng trân châu nơi cổ mà tung ra ngoài là xả lợi. Nên, sau khi đã thực hành pháp xả bỏ danh lợi như vậy, nên không những vua thấy được Phật thân hiện ra bên ngoài đầy đủ phước tướng trang nghiêm mà Phật tính trong Vua cũng đã hiển lộ, và Vua đã được đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, ấn chứng sẽ xuất gia làm thành viên chính thức của Tăng bảo, và đã được Ngài thọ ký thành Phật trong tương lai.

Như kinh nói: “Bấy giờ đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, gọi bốn chúng đệ tử mà bảo rằng: Quý vị có thấy Vua Diệu Trang Nghiêm đang đứng chắp tay trước Như Lai không? Vị hoàng đế nầy ở trong giáo pháp của Như Lai sẽ làm vị Tỷ khưu tinh cần tu tập, hỗ trợ đạo pháp của Như Lai, và sẽ thành Phật hiệu là Ta La Thọ Vương 6, quốc độ tên  là Đại Quang, thời đại tên là Đại Cao Vương. Đức Phật Ta La Thọ Vương ấy, có chúng Bồ tát vô lượng và vô lượng Thanh Văn, cõi nước bằng phẳng. Công đức của Vua Diệu Trang Nghiêm sẽ là như vậy” 7.

3/ Ngộ Nhập Phật Tri Kiến:

Vua Diệu Trang Nghiêm sau khi đã được đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, khai thị Phật tri kiến và nói rõ con đường ngộ nhập cũng như  thành quả của Vua trong tương lai. Nên, Vua đã bắt đầu dấn thân vào con đường ngộ nhập Phật tri kiến. Kinh nói như sau:

“Vua Diệu Trang Nghiêm, tức khắc đem quốc chính giao phó cho em, rồi cùng với phu nhân, hai hoàng tử, và những người thân thuộc xuất gia tu tập đạo pháp ở trong giáo pháp của Phật.

Sau khi xuất gia, Vua Diệu Trang Nghiêm, trải qua tám vạn bốn ngàn năm nỗ lực thường xuyên thực hành theo kinh Pháp Hoa.

Trải qua thời gian ấy, thành tựu thiền định trang nghiêm, bằng tất cả công hạnh thanh tịnh, liền bay lên hư không cao bảy cây Đa La mà thưa với đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, hai con của con đã làm Phật sự của Phật, dùng thần thông biến hóa, làm thay đổi tâm tà của con, khiến cho con được an trú trong giáo pháp của Phật, và được diện kiến Thế Tôn.

Hai người con nầy là Thiện tri thức của con, muốn làm sống dậy gốc rễ tốt đẹp từ đời trước của con, để làm lợi ích cho con, nên đã sinh vào gia đình của con” 8.

Đây là nói lên phần tin và hiểu của Vua đối với sự khai thị ngộ nhập Phật tri kiến qua những phương tiện trí của các bậc Thiện tri thức.

Và sự tin hiểu nầy của Vua đã được đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí ấn chứng như sau:

“Bấy giờ, đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí gọi Vua Diệu Trang Nghiêm mà bảo rằng: Đúng như vậy, đúng như vậy, đúng như lời ông nói. Nếu thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào, biết gieo trồng gốc rễ tốt đẹp, thì đời đời họ gặp Thiện tri thức. Những Thiện tri thức ấy, có khả năng thực hiện công việc của chư Phật, chỉ bày giáo dục làm cho tùy hỷ lợi ích, khiến tất cả đều nhập vào Tuệ giác vô thượng.

Này đại vương! Người nên biết rằng, Thiện tri thức là nhân duyên lớn lao, cảm hóa, dẫn dắt khiến cho ông thấy được Như Lai, phát tâm Vô thượng bồ đề.

Này đại vương! Người có thấy hai người con nầy không? Hai người con nầy đã từng cúng dường sáu mươi lăm trăm ngàn vạn ức vô số hằng hà sa chư Phật. Ở nơi chư Phật ấy, họ đã tiếp nhận, duy trì kinh Pháp Hoa, thương xót chúng sanh hiểu biết sai lầm mà khiến cho chúng sanh an trú ở trong sự hiểu biết chân thật” 9.

Ở đoạn nầy, đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, không những ấn chứng cho sự tin hiểu của Vua Diệu Trang Nghiêm đối với vai trò cực kỳ quan trọng của Thiện tri thức đối với con đường khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh, khiến cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, mà còn nêu rõ nhân duyên được gặp Thiện tri thức là do nhiều đời đã gieo trồng căn lành, và lại còn nêu rõ bổn sự tu tập và hoằng truyền Kinh Pháp Hoa của hai vị vương tử nữa.

Như vậy, ta thấy rằng, phẩm kinh nầy không những chỉ đề cập đến bổn sự của Vua Diệu Trang Nghiêm, mà còn đề cập đến bổn sự của hoàng hậu và hai vương tử thuộc về phần hạnh môn của bản môn nữa.

Và, đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong đại chúng tại đỉnh Linh Sơn, lại nói về bổn sự của tích môn thuộc bản môn của các vị Bồ tát đang hiện diện nghe kinh Pháp Hoa tại Linh Sơn.

“Bổn sự của Hoa Đức Bồ tát chính là Vua Diệu Trang Nghiêm; bổn sự của Bồ tát Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng là Tịnh Đức phu nhân; bổn sự của Bồ tát Dược Vương là Tịnh Nhãn vương tử; bổn sự của Bồ tát Dược Thượng là Tịnh Tạng vương tử”.

Trong quá khứ, ở thời đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, các Bồ tát Hoa Đức, Quang Chiếu Trang Nghiêm, Dược Vương và Dược Thượng đã là những bậc Thiện hữu tri thức của nhau, không những là ngoại hộ, đồng hành, giáo thọ mà còn là Thiện tri thức của thực tướng Pháp Hoa nữa.

Bồ tát nguyện làm bậc Thiện tri thức với mọi người và mọi loài là để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho hết thảy họ, bằng hết thảy mọi phương tiện thuận, nghịch, thực tế và siêu việt. Thiện tri thức chân thật và vĩ đại là Thiện tri thức giúp cho chúng sanh đạt đến Thực tướng Pháp Hoa.

Như vậy, Thiện tri thức đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tu tập Nhất thừa đạo của chúng ta, yểm trợ cho chúng ta bỏ tà quy chánh, bỏ vọng tầm chơn, giúp ta vượt ra khỏi tâm lượng nhỏ nhoi mà nhập cùng pháp giới tính chân thực, giúp ta vượt ra khỏi tâm thiên chấp mà thành tựu viên mãn Đại bồ đề.

Nên, khi thực hành Bồ tát Đạo, Bồ tát luôn luôn ước nguyện gần gũi, gặp gỡ và phụng sự để học tập đối với Thiện tri thức, như những ước nguyện của Bồ tát Kim Cang Tràng ở trong kinh Hoa Nghiêm như sau:

1-Nguyện tất cả chúng sanh không xả bỏ sự biết ân và báo ân đối với các Thiện tri thức Bồ tát.

2-Nguyện tất cả chúng sanh đồng nghĩa, đồng nhiếp thủ, đồng bản chất thiện căn đối với Thiện tri thức.

3-Nguyện  tất cả chúng sanh thân cận, tôn trọng, cúng dường các Thiện tri thức; theo Thiện tri thức mà buông bỏ tất cả.

4-Nguyện tất cả chúng sanh được tâm chân thực, ngay thẳng theo Thiện tri thức không có xa lìa.

5-Nguyện tất cả chúng sanh thường gặp Thiện tri thức không trái lời giáo huấn.

6-Nguyện tất cả chúng sanh được tâm chân thực, ngay thẳng, không bỏ Thiện tri thức, vững chãi rời xa tất cả tâm cấu uế.

7-Nguyện tất cả chúng sanh vì Thiện tri thức, không trái lời giáo huấn, buông bỏ tất cả không tiếc thân mạng.

8-Nguyện tất cả chúng sanh được Thiện tri thức nhiếp thọ, tu tập hạnh đại từ bi xa lìa các điều ác.

9-Nguyện tất cả chúng sanh thuận theo Thiện tri thức nghe chánh pháp của Phật và có khả năng thọ trì.

10-Nguyện tất cả chúng sanh đồng thiện căn, đồng nghiệp báo, đồng Bồ tát hạnh nguyện, trọn vẹn, bình đẳng thanh tịnh hoàn toàn.10

Thiện tri thức giúp ta thành tựu Tuệ giác tối thượng, nên ở kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát Kim Cang Tràng có mười ước nguyện như trên, khiến cho tất cả chúng sanh thành tựu nhiều lợi ích. Và lợi ích hơn tất cả là nhờ Thiện tri thức mà ta thể nhập được Thực tướng Pháp Hoa, thành tựu Nhất Thừa Đạo. Nên, chủ yếu của Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự nầy là nói về vai trò Thiện tri thức Pháp Hoa hay Thực tướng Thiện tri thức.

III-PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH:

Ở phẩm nầy, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói phương pháp tu học của hai vị Vương tử Tịnh Nhãn và Tịnh Tạng cho thính chúng Pháp Hoa tại Linh Sơn nghe rằng:

Hai vương tử có đại thần lực, phước đức trí tuệ, đã thực hành Bồ tát đạo lâu xa, như bố thí hoàn mãn, trì giới hoàn mãn, nhẫn nhục hoàn mãn, tinh tấn hoàn mãn, thiền định hoàn mãn, trí tuệ hoàn mãn, phương tiện hoàn mãn, từ, bi, hỷ, xả cho đến ba mươi bảy thành phần của Chánh đạo và Trợ đạo, cũng đều thông đạt thấu suốt.

Hai vị vương tử nầy, còn thành tựu được các thứ thiền định của Bồ tát như: Định Vô Nhiễm (Tịnh Tam Muội), Định Mặt Trời và Tinh Tú (Nhật Nguyệt Tinh Tú Tam Muội), Định Ánh Sáng Thanh Tịnh (Tịnh Quang Tam Muội), Định Sắc Tướng Thanh Tịnh (Tịnh Sắc Tam Muội), Định Chiếu Sáng Thanh Tịnh (Tịnh Chiếu Minh Tam Muội), Định Trang Nghiêm Lâu Dài (Trường Trang Nghiêm Tam Muội), Định Kho Tàng Uy Đức Vĩ Đại (Đại Oai Đức Tạng Tam Muội), đối với các loại thiền định trên đây hai vị ấy đều thông đạt tất cả” 11.

Như vậy, ta thấy các pháp môn tu tập ở phẩm nầy đề cập đều đầy đủ cả Thanh văn thừa và Bồ tát thừa.

Pháp môn chính yếu của Thanh văn thừa thực hành là ba mươi bảy thành phần của Chánh đạo và Trợ đạo, thuộc Đạo Đế của Tứ Thánh Đế .

Pháp môn chính yếu của Bồ tát thừa là Lục độ hay sáu pháp hành hoàn mãn của con đường Bồ tát.

Đạo Đế không những là pháp hành căn bản của Thanh văn thừa mà còn là của Bồ tát thừa nữa.

Nếu không thực hành Đạo Đế thì Lục độ của Bồ tát không có điều kiện để sinh khởi và thành tựu.

Nên, không có vị Bồ tát nào mà không kinh qua và thông suốt đối với Đạo Đế hay là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

Trong Bát chánh đạo của Đạo Đế có Chánh kiến, Chánh tư duy là chất liệu căn bản tu tập để Bồ tát thành tựu Trí tuệ Ba la mật, hay Tuệ giác giải thoát hoàn toàn. Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng là những chất liệu căn bản tu tập để Bồ tát thành tựu Bố thí Ba la mật, Trì giới Ba la mật, Nhẫn nhục Ba la mật, hay Giới giải thoát hoàn toàn .

Và, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định là những chất liệu căn bản tu tập để Bồ tát thành tựu Tinh tấn Ba la mật, Thiền định Ba la mật, hay là Định giải thoát.

Bồ tát thực hành Phương tiện trí, hay Phương tiện Ba la mật để độ đời, để tuyên dương kinh Pháp Hoa, khai thị Phật tri kiến cho chúng sanh ngộ nhập, đều xuất phát từ Trí tuệ Ba la mật. Và Trí tuệ Ba la mật là sự phát triển của Chánh kiến và Chánh tư duy đến chỗ toàn hảo và cùng đích.

Bồ tát thực hành Thiền định Ba la mật làm sinh khởi Trí Ba la mật, Nguyện Ba la mật và Lực Ba la mật. Các Ba la mật nầy sinh khởi từ Thiền định Ba la mật là để độ đời, là để khai thị Phật tri kiến của chúng sanh cho chúng sanh ngộ nhập.

Trí, Nguyện và Lực là do sự thành tựu và phát triển hoàn hảo của Thiền định Ba la mật.

Và Trí, Nguyện và Lực Ba la mật là sự phát triển của Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng đến chỗ hoàn hảo và cùng đích.

Như vậy, Trí, Nguyện, Lực và Thiền định Ba la mật là sự phát triển hoàn hảo và cùng đích của Chánh niệm và Chánh định.

Hai vương tử Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn do tu tập thành tựu Đạo Đế gồm Ba mươi bảy thành phần của Chánh đạo và Trợ đạo mà sinh khởi Lục độ, sinh khởi Tứ Vô lượng tâm và các loại thiền định như:

Định Vô Nhiễm, Hán gọi là Tịnh Tam Muội:

Tâm Bồ tát luôn luôn ở trong thiền định, nên mọi ái nhiễm không sinh, gọi là Tịnh Tam Muội, hay là Định Vô Nhiễm.

Định Mặt Trời và Tinh Tú, Hán gọi là Nhật Tinh Tú Tam Muội:

Do tâm của Bồ tát an trú sâu ở trong thiền định, nên trí tuệ chân thật của Bồ tát bừng lên sáng chói như mặt trời, và phương tiện trí của Bồ tát biểu hiện vô số ánh sáng thiện xảo và dẫn đường cho chúng sanh thể nhập Phật trí. Do đó, gọi là Định Mặt Trời và Tinh Tú.

Định Ánh Sáng Thanh Tịnh, Hán gọi là Tịnh Quang Tam Muội:

Do tâm Bồ tát thường an trú ở trong thiền định, nên biết rõ tự tánh của mình, tự tánh của chúng sanh và tự tánh của hết thảy pháp xưa nay vốn vắng lặng mà hằng chiếu soi, nên gọi là  Định Ánh Sáng Thanh Tịnh.

Định Sắc Tướng Thanh Tịnh, Hán gọi là Tịnh Sắc Tam muội:

Do Bồ tát tu tập thành tựu giới đức thanh tịnh, định đức thanh tịnh và tuệ đức thanh tịnh, nên có khả năng thành tựu báo thân thanh tịnh và báo thân ấy có thể tùy theo cơ cảm của chúng sanh mà biểu hiện sắc tướng tương ứng và thanh tịnh để hoá độ, để dìu dắt, khiến cho đối tượng được hóa độ, thay đổi tà kiến hướng về Chánh kiến, chuyển đổi tâm hạn hẹp hướng về tâm rộng lớn, nhằm ngộ nhập Phật tri kiến.

Định Chiếu Sáng Thanh Tịnh, Hán gọi là Tịnh Chiếu Minh Tam Muội:

Bồ tát do tu tập thiền định, đình chỉ hết thảy phiền não vận hành ở trong tâm thức, nên tâm luôn luôn thường trú trong sự an tịnh. Từ bản tâm thanh tịnh ấy, Bồ tát khởi lên tuệ giác quán chiếu để thấy rõ thực tướng vạn hữu. Bồ tát quán chiếu vạn hữu từ tuệ giác thanh tịnh, nên gọi là Định Chiếu Sáng Thanh Tịnh.

Định Trang Nghiêm lâu dài, Hán là Trường Trang Nghiêm Tam Muội:

Bồ tát thành tựu loại thiền định nầy, thì sự trang nghiêm của Bồ tát về y báo và chánh báo không còn bị hủy diệt. Bồ tát tu tập đạt tới thiền định nầy, thì sự trang nghiêm của Bồ tát được biểu hiện từ tự tánh thanh tịnh, tốt đẹp của thiện pháp, nên sự trang nghiêm ấy không bao giờ bị hủy diệt bởi các duyên.

Định Kho Tàng Uy Đức Vĩ Đại, Hán là Đại Uy Đức Tạng Tam Muội:

Bồ tát do tu thập thiền định, thành tựu và nắm giữ hết thảy thiện pháp, diệt tận hết thảy ác pháp, nên không còn sợ hãi đối với bất cứ một ác pháp nào và thường có khả năng nhiếp phục hết thảy ác pháp, do đó gọi là Định Kho Tàng Uy Đức Vĩ Đại.

Bảy loại thiền định nầy được biểu hiện từ Thiền định Ba la mật. Nếu không thành tựu Thiền định Ba la mật, thì các loại thiền định ở trên không do đâu mà hiện khởi. Các loại thiền định ấy chỉ là những biểu hiện của Thiền định Ba la mật (thiền định hoàn mãn), nhưng tùy theo tác dụng mà gọi tên.

Bồ tát tu tập và thành tựu các loại thiền định nầy là để tự thân ngộ nhập Phật tri kiến, thấy rõ thực tướng của vạn hữu không ra ngoài “Mười như thị”. Và đồng thời là để chuyển hóa tâm mê muội, tà kiến của chúng sanh, xoay về nơi Nhất thừa Phật đạo.

Sử dụng thần lực để hóa độ chúng sanh, các kinh điển A hàm và Nikàya rất ít đề cập; luật tạng thì hạn chế các tỷ khưu tu tập đạt được thần thông, không sử dụng pháp nầy để hóa độ, vì lậu tận chưa đoạn sạch nên sợ  sinh khởi hạt giống danh lợi.

Nhưng, ở kinh Pháp Hoa việc sử dụng thần lực để hóa độ chúng sanh lại được đề cập ở phẩm Như Lai Thần Lực và ở phẩm Vua Diệu Trang Nghiêm nầy, là để nói lên Phương tiện trí của Phật và Bồ tát trong việc giáo hóa chúng sanh và nhất là truyền bá kinh Pháp Hoa, nhằm khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh của các Ngài là bất khả tư nghì.

Sử dụng bất cứ phương tiện nào mà có khả năng làm thay đổi tà tâm, tà kiến của chúng sanh, và dìu dắt họ trở về với Bồ đề tâm, với chánh kiến, với chánh đạo với Nhất thừa Phật đạo, thì các Ngài đều có thể sử dụng cả.

Vì sao? Vì trong tự thân Phương tiện trí của Bồ tát và Phật, đều là Phật trí và đều là trên đường hội nhập Phật trí.

Đó là đặc điểm pháp hành của kinh Pháp Hoa và của phẩm kinh nầy.

Như vậy, Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự nầy, kinh Pháp Hoa đã đề cao Phương tiện trí lực và Thực tướng Thiện tri thức của Bồ tát đạo đối với con đường khai thị ngộ nhập Phật tri kiến của Nhất Thừa. Và Thiện tri thức đích thực là người có khả năng hay có đầy đủ mọi phương tiện giúp ta thành tựu Nhất Thừa hay Phật Thừa vậy.

Thiện tri thức đóng vai trò trong đời sống gia đình và xã hội hết sức quan trọng. Nếu Tịnh Đức phu nhân và hai hoàng tử Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn không từng là hành giả Pháp Hoa, không có nội chúng với đầy đủ phương tiện trí lực của Pháp Hoa và không từng có phát khởi đại nguyện Pháp Hoa, thì không thể nào chuyển đổi tâm tà kiến của Vua Diệu Trang Nghiêm đi về hướng ánh sáng của giác ngộ.

Vua Diệu Trang Nghiêm là tiêu biểu cho con người nắm quyền lực của gia đình và xã hội. Người nắm quyền lực dù ở vị trí lớn hay nhỏ, đời sống và mọi hành xử của họ đều liên hệ đến hạnh phúc hay khổ đau của nhiều người và danh dự của họ là danh dự của nhiều người.

Nếu người nắm quyền lực ấy có đời sống tâm linh cạn mỏng, cách nhìn sai lạc về cuộc sống, thì mọi quyết định và hành xử của họ cực kỳ nguy hiểm cho gia đình và xã hội.

Bởi vậy, Phẩm Vua Diệu Trang Nghiêm của kinh Pháp Hoa đã cho ta  nhìn thấy sự hệ trọng của đời sống tâm linh trong gia đình cũng như xã hội, và vai trò của Thiện tri thức trong đời sống ấy.

Trong một gia đình mà có nhiều xu hướng tôn giáo, chắc chắn gia đình đó không an ổn và trong một xã hội người nắm quyền lực có niềm tin tôn giáo cạn mỏng không trong sáng hay không có cách nhìn trong sáng về niềm tin tôn giáo sẽ đưa xã hội đi đến chỗ hỗn loạn, vô trật tự.

Do đó, vai trò Thiện tri thức là vai trò đồng sự để giúp cho mọi người trong gia đình và xã hội, có cách nhìn chính xác về những gì trong đời sống của chính họ và chung quanh họ. Nên, vai trò ấy, nó quan trọng, hữu ích và thiết thực đến chừng mức nào.

Phẩm kinh Pháp Hoa nầy đã hiến tặng cho ta rất nhiều cách nhìn quý báu về đời sống tâm linh của gia đình, xã hội và tôn giáo, mà chúng ta cần phải suy ngẫm một cách sâu xa về nhiều mặt, để rút ra bài học quý báu cho chính bản thân, gia đình và cho cả thời đại của chúng ta.

 

Thích Thái Hòa

 


1 Hoa Nghiêm Kinh 36, Ly Thế Gian Phẩm, Hán, Phật Đà Bạt Đà La, tr 633A, Đại Chính 9.

2 Diệu Pháp Liên Hoa Kinh7, La Thập, tr  59 C – 60 A, Đại Chính 9.

3 Diệu Pháp Liên Hoa Kinh7, La Thập, tr 60A, Đại Chính 9.

4 Kinh đã dẫn như trên, tr 60B.

5 Kinh đã dẫn như trên.

6 Sālendrajāra =Ta La Thọ Vương: Ta la là kiên cố, thọ là cây, vương là vua. Ta La Thọ Vương là vua của các loài cây đứng vững chãi.

7 Kinh đã dẫn như trên, tr 60B, Đại Chính 9.

8 Kinh đã dẫn, tr 60B-C, Đại Chính 9.

9 Kinh đã dẫn, tr 60C, Đại Chính 9.

10 Hoa Nghiêm Kinh16, Hán, Phật Đà Bạt Đà La, tr 503A, Đại Chính 9.

11 Diệu Pháp Liên Hoa Kinh7, Hán, La Thập, tr 59C, Đại Chính 9.


alt

http://www.quangduc.com/tapsan/38tsnghiencuu194.html

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Thái Hòa) frontpage Thu, 22 Jul 2010 21:11:01 +0000
Phật Giáo Trong Viễn Cảnh Hiện Tại http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6389-phat-giao-trong-vien-canh-hien-tai.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6389-phat-giao-trong-vien-canh-hien-tai.html Phật giáo là Đạo, là Con Đường đưa hành giả đến mục đích giải thoát an lạc rốt ráo, hay nói khác đi, đó là sống thể nghiệm trực giác nội tâm. Người Á châu vốn có truyền thống tâm linh lâu đời, nhưng những thế kỷ gần đây, vì vọng động tâm thức đã chạy theo ngọn gió khoa học của phương Tây, bỏ quên gia tài quý giá của ông cha để lại, hơn nữa, còn khinh thị truyền thống đã hun đúc nên nòi giống mình; trong khi người Tây phương, là những người có thẩm quyền hơn trong lãnh vực khoa học, đang càng ngày càng quan tâm đến truyền thống tâm linh của Đông phương nhiều hơn.

Trong khuôn khổ chừng mực, người viết xin giới thiệu đến bạn đọc bài Phật giáo Trong Viễn Cảnh Hiện Tại được trích dịch từ Chương I trong nguyên tác The Tree Of Enlightenment của tác giả Peter Della Santina, NXB Chico Dharma Study Foundation, năm 1997 để làm rõ nhận định trên và giúp chúng ta có được cái nhìn thấu đáo hơn về truyền thống tâm linh của mình.

Trước khi thực sự giải quyết những đề tài căn bản, đầu tiên tôi muốn bàn luận qua cái nhìn về Phật giáo trong viễn cảnh của nó, đó là một viễn cảnh thuộc thời hiện đại. Con người của những thời đại khác nhau và những nền văn hóa khác nhau đã tiếp cận đạo Phật bằng nhiều con đường, tôi tin sẽ đặc biệt hữu ích để làm rõ sự khác nhau giữa thái độ hiện thời và cổ truyền đối với Phật giáo. Kiểu cứu xét có tính so sánh này tỏ ra hữu ích bởi vì việc hiểu được cách thức mà con người của những thời đại và nền văn hóa khác nhau nhìn nhận một hiện tượng nào đó có thể bắt đầu chỉ ra cho chúng ta những giới hạn về viễn cảnh cá biệt của chúng ta.

Phật giáo đã khơi dậy một sự quan tâm đáng kể ở Tây phương, và có nhiều người ở địa vị quan trọng trong xã hội Tây phương là Phật tử hoặc có cảm tình đối với Phật giáo. Điều này có lẽ được minh họa rõ ràng nhất bởi nhận xét của nhà khoa học vĩ đại thế kỷ XX Albert Einstein, rằng dù ông ta không phải là người ngoan đạo, nhưng nếu phải, thì ông ta sẽ là một Phật tử. Thoạt nhìn, có vẻ ngạc nhiên khi một nhận xét như vậy được nói ra bởi một người được mệnh danh là cha đẻ của nền khoa học Tây phương hiện đại. Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét xã hội Tây phương đương thời kỹ hơn thì sẽ tìm thấy một nhà vật lý học thiên thể là Phật tử ở Pháp, một tâm lý gia là Phật tử ở Ý và một chánh phán ở Anh cũng vậy. Thật vậy, sẽ không quá để nói rằng Phật giáo đang nhanh chóng trở thành một sự lựa chọn ưng ý của những người Tây phương ưu tú thuộc các lĩnh vực khoa học và nghệ thuật. Tôi sẽ xét đến lý do của sự việc này trong chốc lát, nhưng trước khi làm việc ấy, tôi muốn so sánh trường hợp này với trường hợp được tìm thấy ở những cộng đồng và quốc gia Phật giáo truyền thống. Lấy ví dụ, trường hợp những cộng đồng Phật giáo truyền thống ở Đông và Đông Nam Châu Á.

Ở châu Âu và châu Mỹ, Phật giáo nhìn chung được tin tưởng là tiến bộ hơn mức bình thường về mặt tư tưởng, có lý tính cao và tinh tế. Tôi sẽ không cố che đậy cái thực tế đã gây cho tôi một cú sốc lớn khi lần đầu tiên tôi đến Đông Nam Á và nhận thấy rằng nhiều người ở đó cho Phật giáo là lỗi thời, phi lý và được viền bọc bởi những điều mê tín cổ lỗ. Đây là một trong hai thái độ đang thịnh hành làm cản trở sự nhận thức đúng về Phật giáo ở những cộng đồng theo Phật truyền thống đó. Một ngộ nhận phổ biến khác nữa mà nó gây khó khăn cho Phật giáo ở những cộng đồng ấy là quan niệm cho rằng nó quá thâm sâu và trừu tượng đến nỗi không ai có thể hiểu được. Có lẽ chính tính kiêu căng trí thức của người phương Tây đã cứu người Âu và Mỹ khỏi sự lầm lạc này. Tóm lại, khi xem xét những thái độ chung đang thịnh hành ở phương Tây và phương Đông đối với đạo Phật, tôi nhận thấy một sự tương phản hoàn toàn. Đây là lý do tại sao tôi muốn bắt đầu cuộc khảo xét của chúng ta về Phật giáo với mối quan tâm đến các viễn cảnh khác nữa.

Ở phương Tây, Phật giáo có một ảnh tượng chắc chắn trong tâm trí quần chúng, trong khi ở các cộng đồng Phật tử truyền thống, Phật giáo lại có một ảnh tượng hoàn toàn khác. Thái độ xem thường đang thịnh hành ở những cộng đồng ấy phải được vượt qua trước khi con người nơi ấy có thể thật sự hiểu rõ giá trị lời dạy của Đức Phật. Với cách đó, con người ở mọi nơi có thể có cái nhìn hài hòa cần thiết để tiếp cận đạo Phật mà không có thành kiến hay ý nghĩ tiên định nào. Bởi vậy, việc giới thiệu về Phật giáo này được nhằm vào không chỉ là con người ở phương Tây mà còn cho con người ở những cộng đồng Phật giáo truyền thống, những người có thể đã trở nên thờ ơ lạnh lùng đối với tôn giáo này vì nhiều lý do xã hội và văn hóa. Tất nhiên, cũng cần biết rằng hình ảnh Phật giáo nhìn chung ở phương Tây có thể bị giới hạn trong chừng mực của riêng nó, nhưng tôi hy vọng rằng trong những chương tiếp theo, một sự trình bày rõ ràng và khách quan về những truyền thống Phật giáo rút cuộc cũng sẽ hiển bày.

Bây giờ, quay lại với thái độ của người Tây phương đối với Phật giáo, một trong những nét đặc trưng đầu tiên chúng ta nhận thức được chính là nó không bị ràng buộc bởi văn hóa, nghĩa là nó không bị giới hạn đối với bất kỳ một xã hội, một chủng tộc hay một sắc dân nào. Có một số tôn giáo mà nó mang tính giới hạn văn hóa: Do Thái giáo là một thí dụ, Ấn giáo là một trường hợp khác nữa. Tuy nhiên, Phật giáo không miễn cưỡng như thế. Đó là lý do tại sao, về mặt lịch sử, chúng ta đã có sự phát triển của Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Sri Lanka, Phật giáo Thái Lan, Phật giáo Miến Điện, Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Nhật Bản, Phật giáo Tây Tạng... và nhiều nữa. Trong tương lai gần, tôi đoan chắc rằng chúng ta sẽ thấy sự nổi lên của Phật giáo Anh, Phật giáo Ý, Phật giáo Mỹ, và những trường hợp tương tự. Tất cả những điều đó đều có thể xảy ra bởi vì Phật giáo không theo định hướng văn hóa. Nó di chuyển dễ dàng từ một khung cảnh văn hóa này sang một khung cảnh văn hóa khác bởi tầm quan trọng của nó là ở sự thực hành ở bên trong hơn là cái hình thức bên ngoại của những cách hành xử tôn giáo. Điểm quan yếu của nó là ở con đường mỗi vị hành giả phát triển tâm của mình chứ không phải trang phục họ mang mặc, các loại thực phẩm họ ăn, lối trang sức tóc tai của họ v.v...

Điểm thứ hai tôi muốn bạn chú ý đến là tính thiết thực của Phật giáo, nghĩa là định hướng thực dụng của nó. Phật giáo giải quyết vấn đề thực tế, nó không quan tâm đến các vấn đề tranh cãi phi thực tế và những học thuyết siêu hình. Phương pháp của Phật giáo là nhận dạng một vấn đề thực tại và giải quyết nó theo một lối thiết thực. Hơn nữa, thái độ này rất bắt nhịp với quan niệm của thuyết vị lợi (utilitarianism) và lối giải quyết vấn đề theo khoa học của người phương Tây. Một cách rất ngắn gọn, chúng ta có thể nói rằng phương cách của Phật giáo được gói gọn trong câu cách ngôn: “nếu nó mang lại kết quả, hãy sử dụng nó”. Thái độ này là một bộ phận cấu thành cái toàn thể của thực tế chính trị, kinh tế và khoa học hiện đại của phương Tây.

Phương cách thiết thực của Phật giáo được trình bày rất rõ ràng trong Chulamalunkya Sutta, một bài kinh trong đó chính Đức Phật đã sử dụng câu chuyện ngụ ngôn về một người đàn ông bị trúng tên. Trong câu chuyện, người đàn ông bị thương do trúng tên muốn biết ai đã bắn mũi tên đó, nó đến từ hướng nào, đầu tên được làm bằng xương hay bằng thép và thân tên là một loại gỗ hay thứ khác trước khi ông ta để cho nhổ mũi tên ra. Thái độ của ông ta được ví như thái độ của những người muốn biết nguồn gốc của thế giới - liệu nó vĩnh cữu hay không, hữu hạn hay vô hạn v.v.. - trước khi họ khởi sự tu tập. Những người ấy sẽ chết trước khi họ có được những câu trả lời cho những câu hỏi không thích đáng của họ cũng như người đàn ông trong câu chuyện ngụ ngôn sẽ chết trước khi ông ta có được tất cả những câu trả lời mà ông muốn biết về nguồn gốc và bản chất của mũi tên.

Câu chuyện này minh họa định hướng thiết thực của Đức Phật và giáo phái của Ngài. Nó dạy cho chúng ta nhiều điều về cả vấn đề ưu tiên cho sự lựa chọn và việc giải quyết vấn đề một cách khoa học. Chúng ta sẽ không đạt được nhiều tiến bộ trong việc phát triển trí tuệ nếu chúng ta đặt ra những nghi vấn không thích hợp. Về cơ bản, đó chính là vấn đề của sự ưu tiên. Điều cốt yếu trước tiên đối với tất cả chúng ta là sự giảm thiểu và loại trừ đau khổ đến tận cùng. Đức phật đã nhận ra điều đó và vì thế đã chỉ ra sự vô ích của việc truy tìm nguồn gốc và bản chất của thế giới, bởi vì, giống như người đàn ông ở trong câu chuyện, tất cả chúng ta đã bị quật ngã bởi một mũi tên, mũi tên khổ đau.

Như thế, chúng ta phải đặt ra những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc rút bỏ cái mũi tên đau khổ và không lãng phí thời giờ quí báu của chúng ta vào những việc tìm hiểu không thích đáng. Ý tưởng này có thể được diễn tả một cách đơn giản. Tất cả chúng ta có thể thấy rằng, trong đời sống hàng ngày, chúng ta liên tục quyết định những cuộc lựa chọn căn cứ trên những sự việc ưu tiên. Ví dụ, giả sử bạn đang làm bếp và quyết định trong lúc nồi đậu đang sôi, bạn lau bụi đồ đạc hoặc quét nhà. Nhưng khi bạn đang bận rộn với công việc này, bất chợt bạn ngửi thấy cái gì đó đang cháy: khi đó bạn phải chọn liệu cứ tiếp tục với công việc lau bụi hoặc quét nhà của bạn hay chạy ngay đến bên lò để tắt ngọn lửa mà cứu lấy bữa tối của bạn. Cũng như vậy, nếu chúng ta muốn tăng trưởng trí tuệ, chúng ta phải nhận rõ những việc quan trọng cần được ưu tiên của chúng ta. Điểm này được trình bày rất thú vị trong câu chuyện ngụ ngôn về người đàn ông bị thương.

Điểm thứ ba tôi muốn thảo luận là bài học về tầm quan trọng của việc thể nghiệm chân lý nhờ vào sự hỗ trợ của kinh nghiệm bản thân. Điểm này được xây dựng rất rõ ràng bởi Đức Phật trong lời khuyên của Ngài đối với dân chúng Kalama ở trong kinh Kesaputtiya Sutta. Người Kalama là một cộng đồng thị dân, ở một chừng mực nào đó, giống như mọi người thời đó, những người chạm phải quá nhiều những lối giải thích khác nhau và thường mâu thuẫn nhau về chân lý. Họ đi đến Đức Phật và hỏi Ngài làm cách nào họ nhận ra sự thật giữa những lời khẳng định trái ngược nhau bởi những bậc Đạo sư. Đức phật dạy họ rằng không nên chấp nhận điều gì chỉ bằng vào uy quyền của người truyền giáo, cũng không nên chấp nhận điều gì đơn giản bởi nó có trong Thánh thư, cũng không chấp nhận bất cứ điều gì bằng vào quan niệm chung, cũng không bởi vì nó có vẻ hợp lý, lại cũng không bởi vì sự kính nể đối với vị thầy. Thậm chí Ngài còn đi xa hơn khi khuyên họ không nên chấp nhận những lời dạy của chính Ngài mà không có sự thẩm định tính chân thật của nó thông qua kinh nghiệm bản thân.

Đức Phật dạy người dân Kalama phải kiểm tra lại bất kỳ những gì họ nghe được dưới ánh sáng của kinh nghiệm tự thân. Chỉ khi nào họ nhận ra rằng đối với họ những điều như vậy là có hại thì khi ấy họ nên cố gắng trừ bỏ chúng. Hoặc giả, khi họ nhận ra đối với bản thân một số điều nào đó có lợi, rằng chúng có thể đưa đến an tịnh, thì khi đó họ nên nỗ lực trau dồi chúng. Chúng ta cũng vậy, phải đánh giá đúng bất kỳ điều gì mà chúng ta được dạy trong ánh sáng kinh nghiệm tự thân của mỗi người.

Qua lời dạy của Ngài đối với dân chúng Kalama, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể thấy rõ được quan điểm tự lực của Đức Phật trong việc tìm cầu tri thức. Chúng ta phải sử dụng tâm của chính mình như một loại ống nghiệm riêng. Tất cả chúng ta đều có thể nhận ra với chính mình rằng khi tham lam và giận dữ có mặt ở trong tâm, chúng sẽ đem lại sự băn khoăn, lo lắng và khổ đau. Cũng như vậy, tất cả chúng ta có thể nhận ra với chính bản thân rằng khi tham, giận vắng mặt trong tâm thì bình yên và hạnh phúc xuất hiện. Đây là một sự thể nghiệm bản thân hoàn toàn đơn giản mà tất cả chúng ta đều có thể làm được. Việc trắc nghiệm lại tính hợp lý của những lời dạy dưới ánh sáng của kinh nghiệm bản thân riêng mỗi người rất là quan trọng, bởi vì những gì Đức Phật dạy sẽ chỉ có hiệu quả, chỉ thực sự thành công trong việc chuyển hóa đời sống của chúng ta nếu chúng ta tiến hành được loại thể nghiệm cá nhân này và khiến những lời dạy đó trở thành của riêng chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta trắc nghiệm được tính chân thật của lời Phật dạy bằng vào những lịch nghiệm của bản thân, khi đó chúng ta mới có thể yên tâm rằng chúng ta đang tiến lên trên con đường diệt trừ đau khổ.

Lại nữa, chúng ta có thể thấy được một sự giống nhau nổi bật giữa phương cách của Đức Phật và phương cách của khoa học trong quá trình tìm cầu tri thức. Đức Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của sự quan sát mang tính khách quan(1), mà nó, ở một ý nghĩa nào đó, là chiếc chìa khóa cho việc đạt được tri thức của người Phật tử. Chính sự quán sát một cách khách quan đã sản sinh ra Đế thứ nhất trong Tứ Diệu Đế, Khổ Đế; chính sự quán sát ấy kiểm định lại sự tiến bộ của mỗi người trên bước tiến của Đạo; và cũng chính sự quán sát ấy xác nhận sự hiểu biết về sự tận diệt khổ đau. Vì thế, từ lúc khởi đầu, đến giai đoạn giữa và cho đến kết thúc của con đường tiến đến giải thoát của Phật giáo, vai trò của sự quán sát là không thể thiếu được.

Điều này không khác lắm so với vai trò của việc quán sát có tính khách quan ở trong truyền thống khoa học của Tây phương. Truyền thống khoa học ấy dạy rằng khi chúng ta quán sát một vấn đề, trước tiên chúng ta phải thành lập một giả thuyết tổng quát, rồi sau đó mới là một định lý cụ thể. Trong trường hợp Tứ Thánh Đế, cũng một quy trình như vậy được sử dụng. Ở đây, giả thuyết tổng quát (nguyên tắc chung) là: mọi vật ắt phải có một nguyên nhân; thì khi đó, định lý cụ thể là: nguyên nhân của đau khổ chính là tham ái và si mê (Thánh Đế thứ hai). Định lý này có thể được kiểm định bằng phương pháp thực nghiệm thông qua các chi phần của Bát Thánh Đạo. Nhờ vào sự lịch trải con đường này, tính hợp lý của Thánh Đạo thứ hai được thành lập. Ngoài ra, tính xác thực của Chân Lý thứ ba, sự chấm dứt khổ đau, cũng có thể được thể nghiệm, bởi vì thông qua việc tu tập theo con đường đó, tham ái và si mê được đoạn trừ và hạnh phúc cao tột của Niết Bàn được thành tựu. Quá trình thể nghiệm này vẫn lặp lại, cũng như những thí nghiệm khoa học đáng tin cậy: không chỉ có Đức Phật chứng ngộ sự tận diệt của đau khổ mà khi chúng ta nhìn lại lịch sử, những người đi theo con đường của Ngài cũng đạt được như thế.

Vì thế, khi xem xét kỹ lưỡng giáo pháp của Đức Phật, chúng ta nhận thấy rằng phương thức của Ngài có nhiều chổ tương tự với phương thức của khoa học. Điều này tự nhiên đã khơi gợi nhiều niềm hứng thú đối với đạo Phật giữa những người có óc hiện đại. Chúng ta có thể bắt đầu thấy được tại sao Einstein có thể đưa ra một nhận định như nhận định đó, cái mà mọi người tin là của ông ta. Sự tương đồng khái quát giữa phương pháp của Phật giáo và của khoa học hiện đại sẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta tìm hiểu thái độ của Phật giáo đối với những vấn đề của kinh nghiệm, thái độ đó mang tính phân tích giống như ở trong khoa học.

Theo Đức Phật, vấn đề dữ liệu kinh nghiệm được chia thành hai yếu tố, yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan; nói khác đi, những sự vật mà chúng ta nhận thức được ở xung quanh chúng ta và chính bản thân chúng ta - chủ thể kinh nghiệm. Đạo Phật từ lâu đã nổi tiếng với phương pháp phân tích của nó trong các lãnh vực triết lý và tâm lý. Điều này muốn nói rằng Đức Phật phân tích sự kiện kinh nghiệm thành nhiều thành phần hay yếu tố. Cái căn bản nhất của những thành phần này là 5 uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm uẩn này có thể được quán chiếu dưới dạng 18 giới, và còn có một cách phân tích thậm chí hoàn chỉnh hơn dưới dạng 72 pháp.

Phương pháp được thái dụng ở đây mang tính phân tích bởi vì nó chia chẽ dữ liệu kinh nghiệm thành nhiều thành phần. Đức Phật không bằng lòng với sự hiểu biết mơ hồ về kinh nghiệm một cách chung chung; hơn thế nữa, Ngài đã phân tích kinh nghiệm, tìm hiểu kỹ bản chất của nó và chia chẽ nó thành nhiều yếu tố, cũng giống như ta có thể phân tích hiện tượng chiếc xe thành những thứ như bánh, trục, sườn v.v... Mục đích của việc làm này là để hiểu biết khá hơn về cách thức những hiện tượng này hoạt động. Chẳng hạn, khi chúng ta ngắm một đóa hoa, nghe một bản nhạc, hay gặp một người bạn, tất cả những kinh nghiệm khởi lên như là kết quả trực tiếp của sự kết hợp những yếu tố cấu thành.

Đây được gọi là phương pháp phân tích của Phật giáo, và một lần nữa, nó không xa lạ gì với nền khoa học và triết học hiện đại. Chúng ta nhận thấy phương pháp phân tích được áp dụng rất rộng rãi trong khoa học, cùng lúc đó, trong triết học, phương pháp phân tích đã trở thành nét đặc trưng cho tư tưởng của nhiều triết gia Châu Âu, có lẽ rõ ràng và gần đây nhất là trường hợp Bertrand Russell. Đã có những cuộc nghiên cứu so sánh khá thành công triết học phân tích của ông với triết học Phật giáo thời kỳ đầu. Bởi vậy, trong nền khoa học và triết học Tây phương, chúng ta tìm thấy một sự tương đồng với phương pháp phân tích được dạy trong truyền thống Phật giáo. Đây là một trong những nét quen thuộc và dễ nhận thấy mà nó đã thu hút các nhà trí thức và uyên bác của phương Tây hiện đại đến với triết học Phật giáo. Các nhà tâm lý học hiện đại giờ đây cũng đang rất quan tâm đến việc phân tích thành nhiều yếu tố của tâm thức trong Phật giáo như: thọ, tưởng, hành. Họ tìm đến giáo lý lâu đời của Đức Phật càng ngày càng nhiều để có được hiểu biết sâu sắc cho lối sống của riêng mỗi người.

Mối quan tâm đến giáo lý của Đức Phật ngày càng tăng này – được khơi gợi bởi nhiều lãnh vực tương quan giữa tư tưởng Phật giáo và những trào lưu chính của khoa học, triết học và tâm lý học hiện đại – đã đạt đến đỉnh cao của nó ở thế kỷ XX với những đề xuất sửng sốt được nêu ra bởi thuyết tương đối và vật lý học lượng tử, là những thuyết trình bày những thành tựu mới nhất trong khoa học thực nghiệm và duy lý. Ở đây một lần nữa, rõ ràng không những Đức Phật nhận ra trước các phương pháp căn bản của khoa học (như quán sát, thực nghiệm, phân tích), mà trong một số kết luận tiêu biểu nhất về bản chất của con người và thế giới, Phật giáo và khoa học quả thực trùng khớp nhau.

Chẳng hạn, tầm quan trọng của thức trong việc hình thành kinh nghiệm từ lâu bị phớt lờ ở phương Tây, bây giờ được nhận ra. Cách đây không lâu, một vật lý gia nổi tiếng đã nhận xét rằng thế giới có thể thực sự chỉ là một cái gì đó giống như một ý nghĩ vĩ đại. Rõ ràng đây chỉ là sự tiếp nối lời dạy của Đức Phật mà nó đã từng được trình bày trong kinh Pháp Cú (Dhammapada), trong đó tâm được xem là tác giả của tất cả các pháp. Cũng vậy, tính tương đối giữa vật chất và năng lượng – việc công nhận rằng không có ranh giới rạch ròi giữa tâm và vật – giờ đây đã được khẳng định bởi những thành tựu gần đây nhất trong khoa học thực nghiệm hiện đại.

Kết quả của tất cả những điều ấy là, trong hoàn cảnh của nền văn hóa Tây phương đương đại, các nhà khoa học, tâm lý học và triết học đã tìm thấy trong đạo Phật một truyền thống hài hòa với một số những nguyên lý cơ bản nhất của tư tưởng Tây phương. Ngoài ra, họ còn nhận thấy Phật giáo đặc biệt thú vị bởi, mặc dầu những phương pháp và kết luận chủ yếu của truyền thống khoa học Tây phương tương tự với phương pháp và kết luận của đạo Phật, thế nhưng khoa học Tây phương không đi xa như vậy để đưa ra một con đường thực thụ cho việc đạt được một sự chuyển hóa từ bên trong, trong khi ấy ở Phật giáo, một con đường như thế rõ ràng đã được chỉ ra. Trong khi khoa học dạy chúng ta xây dựng những thành phố, đường cao tốc, nhà máy và nông trại tốt hơn; nó lại không dạy chúng ta xây dựng những con người tốt hơn. Vì lý do đó, con người trong thế giới ngày nay đang tìm đến với Phật giáo, một triết lý cổ đại có nhiều khía cạnh cộng thông với truyền thống khoa học Tây phương nhưng vượt lên trên chủ nghĩa vật chất của Tây phương, vượt lên trên những giới hạn của nền khoa học thực dụng như chúng ta đã biết từ trước đến nay.

 

Việt dịch : Hướng Thiên


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Hướng Thiên) frontpage Thu, 22 Jul 2010 21:07:56 +0000
Con Bê và nắm cỏ http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6388-con-be-va-nam-co.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6388-con-be-va-nam-co.html

Nằm trong góc sân chuồng, con Bê uể oải nhai lại mớ rơm khô mà mắt nó cứ ngó mông lung ra ngoài. Nơi ấy có mấy bụi tre già, thỉnh thoảng vang lên những tiếng cót két mỗi khi có cơn gió mạnh thổi qua. Một xe đầy cỏ tươi mà chủ nhà mới mua về đang chất đống ở đó. Dường như lâu lắm rồi, Bê chưa được lót dạ miếng cỏ tươi nào. Cơn nắng hạn kéo dài đã đốt cháy hết mọi cánh đồng… Rơm rạ giờ đây cũng trở nên khan hiếm.

Nhưng Bê biết mình chỉ hoài công mơ tưởng và chờ đợi vô ích. Nhà chủ có đến hằng tá bò sữa. Một đàn bò tơ và cừu tới lứa đang cần vỗ béo để bán thịt. Nên dù trời có hạn hán hay mưa bão, ông ta vẫn tìm mua cỏ tươi từ các nơi khác. Có lẽ vì lời hứa với Sư Ông, mà cho đến nay Bê vẫn chưa bị đem bán hay làm thịt. Chú Bê con, với bộ lông vàng óng ả non tơ, được người ta mang đến cho chùa nuôi để lấy phân bón cây khi mới mấy tháng tuổi. Từ đó, nó được Sư Ông đặt tên là con Bê Vàng. Cái tên ấy đã theo nó đến tận bây giờ, dù cuộc hồng trần đã bao phen xoay vần biến đổi.

Ánh mắt Bê lại mơ màng hoài tưởng. Nó bỗng nhớ đến một thời oanh liệt xa xưa. Một thời nó được tự do yên ổn bên mái chùa, cùng với bao tấm lòng người. Ngày ngày, Bê được thả rong nơi vườn chùa, được ăn toàn cỏ tươi, uống nước giếng mát lạnh. Là kiếp thú, nhưng từ tấm bé được nuôi dạy ở chùa, Bê đã biết tỏ ra quyến luyến lại nghe được tiếng người. Mỗi lần thấy dáng Sư Ông đi lại trong sân, Bê liền chạy đến… để được Sư Ông vuốt ve bộ lông và ân cần nói chuyện với nó như một đứa đệ tử nhỏ. Mấy chú điệu cũng thích chơi đùa, chăn giữ Bê, ai cũng xem nó như một thành viên trong chùa, dành cho nó mọi quyền ưu tiên chăm sóc. Thế mà… bây giờ trong kiếp đọa đầy cực nhục, nó chỉ mơ đến một nắm cỏ xanh. Một chút mơ ước nhỏ nhoi ấy nó cũng đã phải trả giá. Một lần Bê phản ứng lại chủ, vì bắt nó chở hàng quá nặng mà chỉ cho ăn toàn rơm khô. Thấy vậy, ông chủ bước lại vỗ về:

Có cỏ tươi đây ngon lắm… mày chở hàng tới chợ xong, tao sẽ cho ăn.

Rồi ông cột nắm cỏ tươi ngay đầu xe, chỉ cách mũi con Bê chừng nửa thước. Mùi cỏ thơm thơm làm tinh thần Bê hưng phấn lên. Nó ra sức kéo. Nắm cỏ cứ chập chờn trước mắt, chỉ cần một sải chân là có thể vớ tới. Vậy mà… nó cứ bước, từng bước nặng nề trên đoạn đường dài khúc khuỷu đầy dốc và ổ gà. Mấy lần Bê gần như ngã quỵ vì mệt lã vì đói khát. Nhưng nó vẫn phải cố… phải cố… vì chút mồi ngon đang ở ngay trước mắt và vì ngọn roi luôn chực hờ quất vào lưng từ phía sau. Trong nỗi đau đớn nhọc nhằn, Bê chợt nhớ đến một bài thuyết pháp mà có lần nó nghe Sư Ông giảng cho mấy chú Tiểu nghe. Trong đó có câu chuyện về con Lừa. Cảnh ngộ của con Lừa mới giống nó làm sao! Cũng vì nắm cỏ xanh làm mồi nhử mà nó phải vắt kiệt sức mình ra… chút dư vị hư ảo của cuộc đời đã lôi cuốn không biết bao nhiêu sinh vật tự nguyện làm con thiêu thân lao mình vào đó.

Từng cơn gió nhẹ thoảng đưa… mùi cỏ thơm hắt vào, nhưng cơn đói của Bê đã nhanh chóng tan biến. Nó không còn cảm thấy thèm khát hay mơ tưởng điều gì nữa. Ngày xưa, khi được sống trong cảnh ấm no an lạc, thì Bê lại ao ước mơ về những chân trời mới lạ. Một nơi chứa đầy mật ngọt yêu thương, một khoảnh trời xanh rộng lớn bao la đủ cho nó mặc sức tung hoành trong thế giới của riêng mình. Và cứ thế, ngày qua ngày, nó dẫm đạp trên đất chùa, tìm ăn những đọt cỏ xanh non còn đẫm hạt sương mai buổi sáng trong chốn thiền môn, mà tâm hồn nó thì mơ tưởng vọng cầu, thích dõi tầm mắt hướng tìm một cõi xa xăm nào khác.

Cho đến một hôm…, nó bắt đầu trở chứng, chạy nhảy phá phách khắp khu đất chùa và sang cả vườn rộng hàng xóm. Lúc này, mấy chú tiểu bận đi học xa, nên chẳng còn ai để chăn Bê nữa. Thế là… Sư Ông buộc lòng phải đem nó cho một trại chủ chăn nuôi đến xin. Khi trao con Bê cho chủ mới, Người không quên dặn dò:

Nó được ở chùa từ nhỏ, tánh tình tuy có phá phách đôi chút nhưng rất hiền lành. Thí chủ nuôi nó làm phúc, xin đừng làm thịt hay bán nó đi, tội nghiệp…
Dạ, chúng con hiểu thưa Sư Ông! Nhà con có cả cánh đồng cỏ để thả bò và cừu, lại có mấy mươi con Bò cái đang tơ. Con Bê này con nuôi dùm chùa, chỉ để thả chung đàn cho vui. Đến khi nào nó chết, con sẽ đem về chôn ở đất chùa.

… Có tiếng bước chân người đến gần, tiếng nói chuyện lao xao bên ngoài. Bê nằm bệt xuống đống rơm, thân hình nó gần như bất động.

Ba ơi! Con Bê có vẻ già yếu lắm rồi. Nó chẳng còn làm được tích sự gì nữa. Vậy mình làm thịt nó cho rồi.

Ậy! Chừng nào nó chết hẳn hay. Hơn nữa ba đã hứa với Sư Cụ trên Chùa…
Ôi chao! Một lời hứa suông thì có gì mà ba phải sợ. Chẳng ai còn nhớ tới đâu. Vả lại làm gì có chuyện bò chết đem về chôn đất chùa bao giờ.

Không biết có sức mạnh nào giúp cho con Bê vụt đứng dậy. Thoắt một cái nó đã phóng ra khỏi cửa chuồng. Bê ra sức chạy, chạy tung cả bụi mù. Xa xa bóng nó chỉ còn là vệt mờ thăm thẳm trong buổi hoàng hôn đang xuống.

 

Thưa Sư Ông! Con Bê đã trở về.

Tiếng chú tiểu vang lên bên ngoài tịnh thất. Sư Ông liền xả thiền rồi bước ra ngoài. Con Bê nằm gục bên thềm cửa, hơi thở gấp gáp mệt nhọc. Sư Ông đến gần, đưa tay xoa nhẹ vào bộ lông xác xơ của nó và nói:

Mô Phật! Cuối cùng thì con đã trở về được đây. Chút hương vị cuộc đời đã làm cho thân xác chúng sanh phải ra nông nổi như thế này, thật đáng thương làm sao. Thôi bây giờ con cứ yên tâm nằm tịnh dưỡng. Hãy buông bỏ hết mọi trần duyên, Sư Ông sẽ chú nguyện cho con…
Con Bê khẻ mở mắt nhìn lên. Hai chân trước nó đưa ra tựa như muốn chắp lại. Trên khóe mắt đọng lại đôi dòng lệ nhỏ. Nó đang sám hối, một lời sám hối muộn màng trong ánh nắng chiều vừa lịm tắt. Thế nhưng, Bê biết rằng ngày mai, khi vầng thái dương vừa tỏ rạng, thì một cuộc sống mới sẽ tiếp diễn, vạn vật lại sinh sôi nẩy nở hơn bao giờ hết. Dẫu sao thì nó cũng đã trở về. Lúc này lòng Bê mới cảm nhận hết sự thanh thản bình yên trong ánh đạo từ bi bất diệt.

 

Lam Khê

http://www.quangduc.com/tapsan/26phapluanso18.


alt

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Lam Khê) frontpage Thu, 22 Jul 2010 21:01:34 +0000
Hoa Sen trước gió http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-viet-nam/6387-hoa-sen-truoc-gio.html http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-viet-nam/6387-hoa-sen-truoc-gio.html

Có thể nói vạn vật hữu hình khó đứng vững và tồn tại trước những cơn thịnh nộ của bão tố. Thế nhưng, đôi khi đâu đó cũng có những cành hoa bé nhỏ yếu ớt đã sẵn sàng trụ lại sau những cơn cuồng nộ của tự nhiên. Nó vươn dậy trổ hoa, tỏa hương và làm thành “giới hương bất tử” lan tỏa vào không gian, đi vào trong sử sách. Đó là hoa sen, tên hiệu của một vị thiền sư nổi tiếng thời nhà Nguyễn, thiền sư Liên Hoa.

Thiền sư Liễu Đạt – Thiệt Thành, hiệu Liên Hoa (?- 1823), (hiệu này do vua Minh Mạng phong cho) tên họ là gì? Sinh năm nào và quê quán ở đâu thì không thấy sử sách ghi chép. Chỉ biết thiền sư “viên tịch” trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, “tự thiêu” để bảo toàn phẩm hạnh của người xuất gia?

Thiền sư Liễu Đạt – Thiệt Thành thuộc phái thiền Lâm Tế, đời thứ 35, là đệ tử của thiền sư Minh Vật - Nhất Tri (?- 1786), có lẽ thiền sư xuất gia tu học với thiền sư Minh Vật - Nhất Tri ở chùa Kim Cang (Bình Thảo, Đồng Nai)? Do tư chất thông minh và phẩm hạnh nghiêm mật nên được vua xuống sắc, triệu ra kinh đô Huế để giữ chức Tăng cang chùa Thiên Mụ (1813-1823) và được cử làm pháp sư giảng thuyết Phật pháp trong nội cung của vua Gia Long. Và cũng chính từ đó nghiệp duyên cứ đeo đuổi và gây khá nhiều sự phiền toái cho thiền sư về sau này.

Sử truyện kể lại rằng, thiền sư là người rất hảo tướng, oai nghiêm, đỉnh đạc, thông minh, có tài hùng biện và thuyết giảng Phật pháp rất hay nên được đông đảo quần chúng và Phật tử mến mộ tài năng và phẩm hạnh của Người. Tiếng lành của thiền sư đã chinh phục khá đông đảo Phật tử trong nội cung và các quần thần của triều Nguyễn lúc bấy giờ. Thiền sư có rất nhiều đệ tử trong hoàng cung, trong số đệ tử đó có một vị Hoàng cô (cô của vua Minh Mạng) cũng quy y và thọ Bồ-tát giới, pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhựt. Do cảm mến và quá hâm mộ tài năng cũng như đức độ của Thiền sư nên đã có ý định ràng buộc duyên trần cùng với người. Do thiền sư luôn tỉnh giác và là người có trí tuệ nên đã chọn phương pháp “tránh duyên” bằng cách xin về trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định. Lúc này thiền sư Phật Ý Linh Nhạc (1725- 1821), trụ trì Sắc Tứ Từ Ân tự đã viên tịch.

Thế rồi vào một buổi sáng đẹp trời tháng mười, năm Quý Mùi (1823), thiền sư đang uống trà và đàm đạo cùng với đồ chúng chùa Sắc Tứ Từ Ân, bỗng có tin từ quan trấn thủ Gia Định vào cho hay là Hoàng cô vâng lệnh vua (Minh Mạng) vào Gia Định để cúng dường chùa Sắc Tứ Từ Ân và chùa Quốc Ân Khải Tường . (Trước đây chùa có tên Khải Tường, trong thời gian (1789- 1802) Nguyễn Phước Ánh trung hưng ở Gia Định, Nguyễn Vương và triều thần ngụ tại chùa Từ Ân; các vương phi, công chúa… ngụ tại chùa Khải Tường. Năm 1791, hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm - sau này là vua Minh Mạng- đã chào đời tại ngôi chùa này. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã sắc phong là Quốc Ân Khải Tường tự). Nhận được tin này, thiền sư phần nào cũng lo âu, bởi lẽ “chúng sanh” bản tánh cang cường khó thay đổi (Hoàng cô) không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Mặc dù, thiền sư đã biết mình uyên thâm Phật pháp. Nhưng đang sống trong một xã hội quân chủ, quyền sinh sát nằm trong tay một người, đó là thiên tử, cháu của “chúng sanh” cang cường này.
Thiền sư đích thân cầu thỉnh, vấn kế thiền sư Tổ Tông Viên Quang (1758-1827), trụ trì chùa Giác Lâm, Phú Thọ. Thiền sư Tổ Tông Viên Quang khuyên can và bảo rằng: nếu Hòa thượng lánh mặt bất ngờ thì sẽ mang tội với triều đình, làm cho chư Tăng cùng Phật tử xôn xao, nghi ngờ thắc mắc… sẽ gây nhiều dư luận không tốt và có thể gây nhiều biến động rắc rối hơn. Thiền sư Tổ Tông Viên Quang khuyên Hòa thượng hãy định tâm, cố gắng giữ cho tâm được bình thản và sinh hoạt tự nhiên như mọi ngày, cầu nguyện chư Phật hộ trì, giúp cho sáng suốt để giải quyết công việc hợp tình và hợp lý.

Thiền sư Liên hoa về chùa chuẩn bị đón tiếp Hoàng cô. Lễ tiếp đón và cúng dường diễn ra tốt đẹp và viên mãn. Hoàng cô ở lại chùa Sắc Tứ Từ Ân, mỗi sáng thiền sư Liên Hoa phải tiếp kiến và hầu chuyện bình thường. Nhưng đến sáng thứ ba không biết có sự việc đặc biệt khác thường gì không, mà đến sáng sớm ngày ấy Hoàng cô ở chùa, mà không thấy thiền sư đến tiếp kiến như mọi hôm. Hỏi Tăng chúng thì không ai hay biết, chỉ có Sa di Mật Dĩnh là thị giả của thiền sư biết nhưng không dám hé môi.

Do tâm bịnh nên sức khỏe Hoàng cô ngày một sa sút trầm trọng. Sợ nguy hại cho bổn tự nên Sa di Mật Dĩnh đành phải nói sự thật. Thiền sư đã lên chùa Đại Giác ở Cù lao Phố, tỉnh Biên Hòa để nhập thất hai năm. Được tin này, Hoàng cô thông báo với quan trấn Gia Định là mình lên chùa Đại Giác để cúng dường. Quan tổng trấn cử phái đoàn hộ tống Hoàng cô lên chùa Đại Giác. Sau khi đến chùa dâng lễ cúng dường và nhờ thị giả Mật Dĩnh đưa đến tịnh thất của thiền sư Liên Hoa.

Hoàng cô với tâm thành kính đảnh lễ trước tịnh thất và xin gặp mặt thiền sư lần cuối trước khi hồi kinh. Thiền sư không trả lời. Hoàng cô suy nghĩ kế khác, sau đó quỳ trước cửa thất thưa rằng: “ nếu Hoà thượng không tiện ra tiếp, xin Hoà thuợng cho con nhìn thấy bàn tay của Hòa thượng, đệ tử cũng hân hoan mà ra về”. Im lặng vài phút thiền sư đưa bàn tay ra cửa nhỏ nơi đưa thức ăn vào thất, Hoàng cô vội ôm bàn tay hôn một cách trìu mến, rồi sụp lạy xuống và khóc sướt mướt. Nhưng sau đó bà cho biết là ở lại chùa Đại Giác nghỉ ngơi vài ngày trước khi hồi kinh.

Đêm hôm ấy, vào khoảng canh ba, trong khi mọi người đang yên giấc, bỗng thấy tịnh thất của thiền sư phát hỏa, mọi người chạy ra dập lửa thì tịnh thất đã cháy rụi. Nhục thân của thiền sư cũng cháy đen. Mọi người đang bàn tán, xôn xao, có người phát hiện bài kệ của thiền sư viết bằng mực đen trên vách chánh điện:

THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần

THÀNH không vẩn đục vẫn trong ngần

LIỄU tri mộng huyễn chơn như huyễn

ĐẠT đạo mình vui đạo mấy lần.

Qua bài kệ trên chúng ta thấy rằng, thiền sư Liên Hoa là người rất uyên thâm Phật pháp, biết cuộc đời này là mộng huyễn ảo ảnh. Người đã dùng ngọn lửa để thức tỉnh và giáo hóa Hoàng cô. Nhưng có lẽ do duyên nghiệp nhiều đời nhiều kiếp giữa hai người, nên ngọn lửa ấy đã không đạt được kết quả như mong muốn. Tuy nhiên qua câu chuyện này, hàng hậu côn chúng ta cũng rút ra được bài học vô cùng quý báu. Một người vừa hảo tướng vừa tài năng đôi khi cũng dễ gặp những chướng duyên trên bước đường tu học. Điều này đã được báo trước và người nhận ra mối nguy hại ban đầu cũng như tiên đoán chính xác sự việc đó là thiền sư Phật Ý - Linh Nhạc. Ngài tiên đoán “ sư Liễu Đạt (Thiệt Thành, hiệu Liên Hoa) không tránh khỏi mối dây ràng buộc của nghiệp trần duyên vì thiền sư Liễu Đạt có tướng hảo, có tài thuyết giảng và khoa ăn nói, lại giảng giải trong nội cung, gần nhiều giới nữ sắc quyền quý”. Và điều đó đã ứng nghiệm như thật qua câu chuyện. Các vị thiền sư xưa kia, bằng công phu tu tập, năng lực thiền định đã nhận ra tương lai của một người nào đó đối diện với mình, phần còn lại chỉ do họ có nỗ lực để chuyển hóa và giải quyết sự việc đó đúng theo tinh thần nhân quả của nhiều đời, nhiều kiếp hay không?

Cuộc đời và sự nghiệp của một vị thiền sư tài năng, đạo hạnh nổi danh một thời như thế, nhưng phải nhờ ngọn lửa để giữ gìn giới thân huệ mạng là điều chúng ta ngày nay phải cần suy ngẫm. Có một vài người cho rằng cách giải quyết vấn đề như thế là tiêu cực, không lối thoát, chưa trọn vẹn với tinh thần chánh pháp… Phải chăng những nhận xét như vậy là quá gay gắt với tiền nhân?! Người viết cho rằng, khi mình đã là “thần tượng” của quần chúng Phật tử, nhất là thần tượng của giới trí thức quan lại triều đình thì việc “tự thiêu” không chỉ bảo tồn giới thân huệ mạng cho riêng mình mà còn là việc bảo vệ danh dự cho hàng vạn Tăng lữ và hàng triệu tín đồ đã một thời kính trọng và ngưỡng mộ tài đức của mình. Việc làm ấy cũng đủ để hậu thế đảnh lễ tán thán và noi gương theo công hạnh của Người.

Thời đức Phật còn tại thế, Ngài đã thuyết tam bất năng (bất năng miễn định nghiệp, bất năng độ vô duyên, bất năng tận sanh giới). Chính vì tam bất năng này mà hàng hậu học hôm nay hiểu được vì sao thiền sư Liên Hoa đã dùng ngọn lủa “thiêu thân” để bảo toàn phẩm hạnh của mình.

Trước phong ba bão táp mọi vật có thể bị hủy diệt và cuốn trôi theo chiều gió, chỉ hương người đức hạnh mới trụ lại được và bay ngược lại chiều gió mà thôi. Hương của hoa sen thoang thoảng đâu đây, hình ảnh thiền sư Liên Hoa lại hiện về trong tâm trí của những người đang đi trên lộ trình giải thoát. Chấp tay búp sen con nhớ lại hình ảnh Ngài, cúi đầu đảnh lễ cành hoa sen trước gió.

 

Thẩm Phiếu Nhiễu

http://www.quangduc.com/tapsan/26phapluanso18.html


alt

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thẩm Phiếu Nhiễu) frontpage Thu, 22 Jul 2010 20:59:45 +0000
Nơi Bình Minh Yên Tịnh http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6386-noi-binh-minh-yen-tinh.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6386-noi-binh-minh-yen-tinh.html

Đêm thật dài, sâu thẩm và hun hút trên những đôi chân đời lang bạt. Cái nóng râm ran sau nhiều ngày khô hạn làm cho mặt đường nhựa bỗng như lên cơn sốt giữa làn khói xe dày đặc. Không gian rồi cũng trở nên im vắng khi đêm về. Tất cả chìm nhanh trong những giấc ngủ vội vàng, những hơi thở gấp gáp như sợ thời gian qua mau. Thỉnh thoảng vang lên tiếng lè nhè vô thưởng vô phạt cùng bước đi ngất ngưỡng của một gã say mèm nào đó làm khuấy động lên đôi chút.
Không biết Linh đã chạy qua bao nhiêu quãng đường, bao nhiêu dãy phố… khi tiếng rao đêm vẫn còn văng vẳng, cho đến lúc mọi hoạt động đều ngưng bặt, thì cô mới dừng lại ngồi nghỉ bên cánh cổng ngôi nhà có mái che rồi thiêm thiếp ngủ. Nhưng chỉ được chốc lát, Linh đã choàng tỉnh dậy, cảnh giác nhìn quanh.

Chiếc cổng có dàn hoa giấy màu tím trông ẩn khuất và hiền lành làm sao, mùi ngọc lan thoảng ra từ mảnh sân nhỏ, ngôi nhà hai tầng xinh xắn gợi lên một chút gì đó bình yên và hạnh phúc mà Linh từng ước ao. Lòng cô bé chợt bồn chồn ray rứt. Sao giống quá, vẫn khung cảnh này… giàn hoa giấy, hương ngọc lan nhè nhẹ làm trái tim Linh thắt lại vì nhớ thương khắc khoải. Cô lại chìm vào giấc ngủ, chìm vào trong giấc mơ về một khoảng đời đã xa thật xa, dù chưa được bao lâu.

Ngôi nhà là niềm mơ ước của ba mẹ lúc mới lấy nhau. Khi chị em Linh bắt đầu đến trường thì đã cùng vui đùa dưới mái nhà khang trang đó rồi. Em Trúc nhỏ hơn Linh một tuổi, hai chị em gái lần lượt ra đời không làm cho ba mẹ mất đi tình yêu thương và chắt chiu vì tương lai con cái. Ba là công chức bậc trung, mẹ buôn bán lặt vặt ở nhà, trông coi dạy dỗ các con. Những ngày rãnh rỗi ba chỉ quanh quẩn chăm sóc mấy chậu hoa kiểng và mảnh vườn nho nhỏ trước sân, cùng chơi đùa với chị em Linh, phụ mẹ làm những công việc khác trong nhà. Một bức tranh gia đình yên vui hạnh phúc tưởng như sẽ mãi vững bền theo năm tháng.

Sự yên ấm ấy không kéo dài qua hết quảng đời tuổi thơ của Linh. Lúc ấy, Linh còn quá nhỏ để có thể hiểu được nỗi lòng của người lớn. Trong một lần gây gổ, ba mẹ chia tay nhau. Mẹ đem theo em Trúc bỏ về bên ngoại, rồi sau đó sang định cư nước ngoài cùng với người đàn ông khác. Có lẽ đó là nguyên nhân làm cho gia đình Linh phải chịu cảnh tan đàn xẻ nghé. Mái nhà hiu quạnh vì không còn bàn tay vun quén của người phụ nữ, nên không bao lâu ba cũng lấy vợ khác, và một đứa con trai kháu khỉnh ra đời, sớm làm cho Ông quên hết nỗi đau buồn cũ. Những ngày tháng đó, Linh đã sống trong sự ghẻ lạnh khinh ghét của mẹ kế và vẻ thờ ơ đôi khi tàn nhẫn của ba đã làm đứa con gái thơ dại sớm chịu xa mẹ cảm thấy tủi thân, lòng đầy uất nghẹn. Một lần Linh lở tay làm té đứa em trai nhỏ, cô bé sợ hãi khi thấy cả ba và dì tức giận nhào tới túm lấy tóc cô. Linh vùng bỏ chạy để từ đó không bao giờ trở về ngôi nhà ấy nữa.

Đêm nay Linh cũng lại chạy trốn. Cô đang chạy trốn khỏi những cạm bẫy mà cuộc đời luôn giăng ra cho những kẻ cô thân yếu đuối. Nhiều năm bặt hết tin tức gia đình, trái tim cô cũng dần chai sạn vì lăn lộn trên đường mưu sinh, nhưng Linh không nguôi lòng nhớ mẹ, nhớ về mái nhà một thời đầm ấm thân thương. Một lần tình cờ gặp người bà con xa bên ngoại bảo mẹ mới trở về nước và có đi tìm đứa con gái nhỏ lưu lạc. Buồn tủi và tự ái, Linh đã không hỏi gì thêm về mẹ. Nếu như Cô còn một mái ấm gia đình, còn một ngôi nhà để quay về, thì đâu phải lang thang vất vưởng, tối nay lại trải qua một đêm ngủ ngoài đường. Thân gái dặm trường làm sao cô lường hết bao trắc trở đời thường.

Gã đàn ông to lớn đẫy đà vì cái bụng phệ quá cở và cặp môi lúc nào cũng mấp máy như luôn thèm khát một cái gì đó. Đã vậy đôi mắt ông ta cứ híp lên khi cười, để lộ hàm răng vẩu ra vừa đáng sợ vừa thấy ghét. Bà chủ nhà trọ bảo với Linh là ông ta cần một người phụ bán hàng, lương khá, ổn định lại có chỗ ăn ở đàng hoàng. Dầu gì thì cô cũng không còn sự lựa chọn nào khác. Mấy tháng rồi cơ sở may da nơi Linh vào làm chưa bao lâu, bị thua lỗ nên họ sa thải bớt những công nhân chưa vững tay nghề. Linh thất nghiệp, tiền ăn, tiền nhà còn thiếu, nay biết lấy gì để trả. Người chủ nhà gợi ý một chỗ làm mới, thế là cô bằng lòng ngay. Từ ngày trôi nổi tha phương Linh đã nếm trải đủ mọi ngành nghề, từ cô bé bán dạo, chạy bàn, cho đến phụ bốc vác, đẫy xe hàng ở bến chợ, từng phải ăn bờ ngủ bụi. Cuối cùng thì một người tốt bụng giới thiệu cô vào làm trong cơ sở may này.

Linh hoảng lên khi thấy ông ta bước vào phòng mình. Căn phòng nhỏ nằm cuối hành lang, cửa then chỉ gài hờ:

- Ông chủ! Ông vào đây làm gì trong đêm hôm?

- Ấy! Đừng la chứ. Chúng ta đã thỏa thuận rồi mà.

- Thỏa thuận gì? Tôi chỉ đến đây làm công cho Ông thôi, Ông đừng….

- … À, thì làm công… chẳng phải cô đang cần tiền là gì?

Linh tức giận nói lớn: - Tôi cần tiền. Nhưng đồng tiền làm ra từ mồ hôi nước mắt của mình, chứ không phải bán thân…

Không hiểu làm cách nào mà Linh đã chạy thoát được gã đàn ông lực lưỡng chực vồ lấy cô trong cơn dục vọng. Linh chạy… chạy mãi cho đến tận nữa đêm và…

- Ê! Con nhỏ nào lại đến ngủ nhà ông vậy cà.

Tiếng cười nói của hai thanh niên say xỉn vừa trờ xe tới, một tên bước qua chỗ Linh để mở cổng. Gã còn lại phụ hoạ: - Con nhỏ coi bộ được đó mầy. Hay mình rủ em vào nhà chơi cho vui, còn hơn để ngủ ngoài hè thế này.

- Thôi chứ, mày tính dụ dỗ con gái nhà lành à?

- Nhà lành cái con khỉ. Cái thứ đầu đường xó chợ này…

Linh chồm dậy như bị điện giựt và lại nhanh chân bỏ chạy, mặc kệ những giọng cười nham nhở đuổi theo. Chạy một hơi… chợt cô nghe có tiếng chuông chùa. Tiếng chuông công phu khuya nhẹ vang trong thinh lặng, làm cho cõi lòng cô nhen nhún lên một chút bình yên tin tưởng. Linh dừng chân lại trước ngôi chùa, cổng chùa bỏ ngỏ, cô bé thở dài rồi vội bước vào bên trong đến ngồi dựa nơi bực thềm trước chánh điện. Cô ngủ liền sau đó, trong tiếng mõ nhịp nhàng cùng giọng tụng kinh đều đều trầm lắng, và rồi Linh lại nằm mơ… một giấc mơ thật an lành tươi đẹp.

Khi ánh nắng toả lên tới bực thềm thì Linh cũng giật mình thức dậy. Cô ngơ ngác nhìn quanh, thấy mình vẫn nằm ngoài hành lang chùa, với chiếc khăn mỏng trên người mà không biết ai đó đã đắp lên. Đưa mắt nhìn quanh, Linh trông thấy một vị sư cô đang đi tới, liền rụt rè bước lại thưa: - Thưa… cho con gởi lại chiếc khăn… không biết của ai…

Sư cô mỉm cười đở lấy: À! Khăn của chùa, Sư Cô thấy con ngủ ngon quá nên không nở đánh thức. Con vào đây lúc chùa công phu phải không? Thôi con bước ra phía sau rửa mặt, rồi xuống nhà bếp dùng cháo sáng. Mấy cô có để phần cho đó.

Linh hơi ngỡ ngàng nhưng cũng làm theo lời vị sư dạy. Khi múc gáo nước lạnh rửa mặt mà Linh cứ nghe bụng mình cồn cào co thắt lại vì đói và khát kinh khủng.

Sư cô ngồi yên lặng nghe cô bé kể chuyện đời mình. Lần đầu tiên có người chịu lắng nghe nên Linh nói say sưa như chưa từng được nói. Bao nhiêu tủi buồn cơ cực vì miếng cơm manh áo, cùng nỗi uất hận vì ba mẹ bỏ bê khiến cho cô phải dập dìu trôi nổi như cánh lục bình. Nói xong cô thở hắt ra: - Bây giờ con chẳng biết phải đi đâu làm gì? Chắc con trở lại với nghề bán dạo hay bán vé số gì đó. Con chẳng quen biết ai ở thành phố này cả. Làm gì rồi cũng bị người ta gạt gẫm lừa lọc.

- Theo Sư cô thì-vị sư chậm rãi nói-con chưa tìm được việc làm thích hợp thôi thì cứ ở lại chùa. Từ từ rồi Sư cô sẽ nhờ những Phật tử thân tín giới thiệu cho nơi làm tốt đáng tin cậy. Con hiền lành lại là con gái mới lớn, ra đời sớm quá… về lâu về dài thật cũng khó giữ mình. Mà này, con cũng nên về quê thăm ba một lần và tìm mẹ đi. Mẹ con ở nước ngoài về, chắc là cũng muốn lo cho tương lai của con…

Linh cúi mặt im lặng, như cố kiềm chế những giọt nước mắt cứ chực tuôn ra. Một lúc lâu cô mới ngẩng lên nói với giọng đầy xúc động:

- Con nhớ nhà, nhớ ba mẹ lắm; nhưng con vẫn giận họ… chưa muốn về vào lúc này đâu.

- Người lớn cũng có nỗi khổ tâm riêng con ạ! Con bỏ đi bặt tăm như vậy, ba mẹ con hẳn là lo lắng lắm. Nước mắt lúc nào cũng chảy xuôi, ba mẹ nào lại không thương con. Mà thôi từ từ rồi tính. Đợi khi con ổn định rồi trở về thăm nhà cũng được. Trở về với hình dáng và tâm hồn nguyên vẹn, ba con cũng sẽ hối hận và thương con hơn. Con cứ ở lại đây ít bữa, nghe kinh kệ và phụ làm công quả, rồi lòng con sẽ được thanh thản bình yên trở lại.

Ngoài sân có nhiều người đang làm việc và chuyện trò thật vui vẻ; những Ni Cô trẻ điềm đạm mà chói sáng qua nụ cười hiền từ chứa chan đạo vị. Những em nhỏ đến Chùa làm công quả trong niềm tin tưởng lạc quan hạnh phúc. Ánh nắng đã lên cao. Lâu lắm rồi Linh mới được hưởng một buổi sáng thanh bình như thế. Cô chợt ví mình như một người sắp chết đuối, bất chợt gặp chiếc thuyền cứu hộ; và khi an ổn bước sang bờ sự sống, Linh mới cảm nhận hết cả một khoảng trời mênh mông rộng mở phía trước.

Ngày mai khi bình minh trở lại… biết đâu Linh lại không tự mình lật sang một trang đời khác. Ngày mai, con đường trở về nhà ắt sẽ nhuộm đầy sắc nắng vui tươi và thoát tục.

 

Lam Khê


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Lam Khê) frontpage Thu, 22 Jul 2010 20:56:20 +0000
Hạnh Nhẫn Nhục của một Ẩn Sĩ http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6385-hanh-nhan-nhuc-cua-mot-an-si.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6385-hanh-nhan-nhuc-cua-mot-an-si.html

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo có tính khí nóng giận. Đức Thế Tôn hỏi Tỳ-kheo này:

- Này Tỳ-kheo, tại sao thầy lại nóng giận khi đã xuất gia theo giáo pháp của Như Lai, người không bao giờ biết đến nóng giận là gì. Bậc hiền trí thuở xưa, mặc dầu bị đánh một ngàn cái; tay chân, tai mũi bị xẻo, vẫn không tức giận người khác.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, ở thành Ba-la-nại, có vị vua tên là Ca-lam-phù (Kalābu) trị vì vương quốc Ca-thi (Kāsi). Bấy giờ, Bồ-tát sanh vào một gia đình Bà-la-môn có tài sản tám mươi triệu đồng tiền vàng. Lúc thiếu thời, Bồ-tát có tên là Khôn-đạt-già-khố-mã-lạp (Kuṇḍaka kumāra). Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài đến Xoa-thi-la (Takkasilā) để học các kiến thức về khoa học và sau đó trở thành một vị gia chủ.

Khi cha mẹ của Ngài qua đời, nhìn vào số tài sản để lại, Ngài nghĩ: “Người thân của ta tích lũy số tài sản này nay đã ra đi mà không mang theo được một thứ gì, bây giờ ta sở hữu số tài sản này và một ngày nào đó rồi cũng đến lượt ra đi.” Thế rồi Ngài cẩn trọng chọn lựa những người có hạnh bố thí - xứng đáng được nhận số tài sản của mình và bố thí tất cả cho họ, rồi sau đó vào Tuyết Sơn xuất gia làm ẩn sĩ. Ngài trú ở đấy một thời gian dài, sống nhờ vào trái cây rừng. Sau đó, để kiếm muối và giấm, Ngài đi xuống những vùng có dân chúng sống và dần dần đi đến Ba-la-nại. Ở đấy, Ngài trú trong ngự viên của nhà vua. Ngày kế tiếp, Ngài đi quanh kinh thành để khất thực cho đến khi đến trước nhà một vị tướng quân. Hoan hỷ trước oai nghi của ẩn sĩ, vị tướng quân đã đưa Ngài vào nhà và mời Ngài dùng thức ăn được chuẩn bị sẵn cho mình, rồi sau đó đưa Ngài trở lại ngự viên.

Một hôm nọ, trong cơn phấn khích do rượu nồng gây ra, vua Ca-lam-phù bằng một nghi thức long trọng, đã cùng với một đám vũ công đi đến ngự viên. Rồi vua cho đặt long sàng trên một chỗ ngồi bằng đá và nằm kê đầu lên người một cung phi mà ông yêu thích nhất, trong khi các vũ nữ điêu luyện về đàn hát và ca múa thì trình diễn mua vui. Vẻ nguy nga tráng lệ của vua thì tuyệt diệu như Thiên chủ Đế thích (Sakka). Và rồi nhà vua ngủ thiếp đi. Thấy thế các tỳ nữ nói:

- Chúng ta biểu diễn âm nhạc là vì đức vua, nay đức vua đã ngủ thì chúng ta cần gì phải trình diễn nữa.

Thế là họ vứt bỏ đàn sáo đây đó và bắt đầu đi dạo vườn. Ở đấy, bị quyến rũ bởi đám cây cối đang ra hoa trổ trái nên họ cứ mãi miết vui chơi.

Bấy giờ, Bồ-tát như một con voi chúa hùng dũng, đang ngồi dưới gốc cây sa-la đang trổ hoa trong khu vườn này, hưởng thọ phước lạc của một người từ bỏ thế tục. Thế rồi khi dạo quanh vườn và trông thấy Ngài, các nữ tỳ này nói:

- Này các chị, hãy đến đây và ngồi xuống nghe vị ẩn sĩ đang ngồi tại gốc cây này thuyết giảng, đợi khi nào đức vua thức dậy thì trở lại.

Thế là họ đi đến chỗ Bồ-tát, ngồi xuống xung quanh Ngài và nói:

- Thưa Tôn giả, xin giảng cho chúng tôi những điều đáng nghe.

Thế rồi Bồ-tát thuyết pháp cho họ. Trong khi đó vị cung phi được sủng ái kia trong khi cử động thân thể đã đánh thức nhà vua dậy. Khi thức dậy và không nhìn thấy các nữ tỳ đâu cả, nhà vua bèn hỏi nàng cung phi này:

- Bọn nữ tỳ đi đâu cả rồi?

Cô này đáp:

- Thưa hoàng thượng, họ bỏ đi và đang ngồi hầu hạ vị ẩn sĩ ở đằng kia.

Nhà vua tức giận, nắm lây thân gươm vội vã ra đi và nói:

- Ta sẽ cho vị ẩn sĩ giối trá này một bài học.

Khi thấy nhà vua tức giận đi đến như vậy, những tỳ nữ được yêu mến nhất bèn đến nắm lấy thân gươm ở nơi tay nhà vua và làm cho vua nguôi giận. Nhà vua đến đứng bên cạnh Bồ-tát và hỏi:

- Này Sa-môn, ông đang thuyết giảng gì vậy?

- Thưa đại vương, tôi đang thuyết giảng về hạnh nhẫn nhục.

- Hạnh nhẫn nhục là gì? Nhà vua hỏi.

- Là không tức giận khi bị người khác phỉ báng, lăng mạ hay đánh đập.

- Bây giờ ta muốn thấy hạnh nhẫn nhục của ông thực sự thế nào.

Nhà vua nói và cho gọi vị đao phủ đến. Vị này theo nhiệm vụ của mình, cầm lấy một cây rìu, một sợi dây gai, mặc y phục màu vàng, đeo một tràng hoa màu đỏ, đi đến khấu bái nhà vua và hỏi:

- Thưa đại vương, ngài muốn con làm gì?

Nhà vua bảo:

- Hãy túm lấy và kéo gã ẩn sĩ giối trá đê mạt này đi, ném y xuống đất, dùng dây gai của ngươi đánh vào phía trước, phía sau và hai bên người y; đánh cho y một ngàn cái.

Khi gã đao phủ ra tay xong, da trong da ngoài của Bồ-tát đều bị tuốt khỏi thịt, máu chảy ướt đẫm khắp thân. Nhà vua lại hỏi:

- Này Sa-môn, ông thuyết giảng điều gì?

Bồ-tát trả lời:

- Thưa đại vương, tôi giảng về hạnh nhẫn nhục. Nhưng ngài chớ tưởng hạnh nhẫn nhục của tôi chỉ nằm ở nơi da. Nó không chỉ nằm ở nơi da mà nằm tận ở nơi tim tôi, chỗ ngài không thể nhìn thấy.

Tên đao phủ lại hỏi:

- Thưa đại vương, đại vương muốn con làm gì?

Nhà vua nói:

- Hãy chặt lìa hai bàn tay của tên ẩn sĩ dối trá này ra.

Thế là gã đao phủ xách rìu, đặt nạn nhân vào trong vòng tử tội và chặt hai bàn tay của Ngài. Rồi nhà vua lại bảo:

- Chặt hai chân của ông ta ra.

Hai bàn chân của Bồ-tát lại bị chặt. Máu từ chân và tay chảy ra giống như sữa chảy ra từ một chiếc bình bị thủng. Nhà vua lại hỏi Ngài thuyết giảng điều gì, và Bồ-tát đáp:

- Thưa đại vương, tôi giảng hạnh nhẫn nhục. Nhưng ngài chớ tưởng hạnh nhẫn nhục của tôi nằm ở nơi hai bàn tay và hai bàn chân của tôi. Nó không phải ở đó, nó nằm sâu ở nơi khác.

Nhà vua nói:

- Hãy xẻo mũi và tai của ông ta.

Tên đao phủ đã làm như vậy. Toàn thân của Ngài bây giờ nhuốm đầy máu. Nhà vua lại hỏi Ngài thuyết giảng điều gì, và Bồ-tát lại nói:

- Ngài chớ nghĩ hạnh nhẫn nhục của tôi nằm nơi chóp mũi và vành tai tôi. Hạnh nhẫn nhục của tôi nằm tận trong tim tôi.

Nhà vua nói:

- Này Sa-môn dối trá kia, hãy nằm xuống đó mà ca tụng hạnh nhẫn nhục của ngươi.

Nói vậy xong, ông dẫm chân lên ngực Bồ-tát và bỏ đi. Khi nhà vua đi rồi, vị đại tướng quân đi đến lau máu me nơi thân Bồ-tát, băng bó tay chân, tai mũi cho Ngài, sau đó nhẹ nhàng đặt Ngài lên một chỗ ngồi, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên và nói:

- Thưa Tôn giả, nếu Ngài căm giận kẻ gây tội ác cho Ngài thì hãy căm giận nhà vua chứ đừng căm giận ai khác.

Thỉnh cầu vậy xong, ông đọc lên bài kệ:

Mũi tai Ngài kẻ nào tùng xẻo

Tay chân Ngài kẻ ấy chặt đi

Bậc anh hùng hãy giận kẻ ấy

Cõi đời này xin chớ giận chi.

Bồ-tát nghe vậy thì đọc lên bài kệ thứ hai:

Cầu nhà vua sống lâu muôn tuổi

Người ra tay tàn hại thân ta

Bậc thanh tịnh như ta dầu vậy

Không hận thù việc đã xảy ra.

Còn nhà vua khi vừa rời khỏi ngự viên, mới ra khỏi tầm mắt của Bồ-tát, thì mặt đất rắn chắc dày hai trăm bốn mươi dặm liền nứt ra làm hai. Lửa từ dưới đất phun lên, và như một chiếc hoàng bào bằng len đỏ bền chắc đã trùm lên túm chặt lấy người ông. Như vậy, nhà vua bị nhấn chìm vào trong lòng đất ngay tại nơi cổng ngự viên và bị giam hãm dưới đại ngục A-tỳ. Bồ-tát vào ngày hôm đó cũng đã qua đời. Những người hầu của nhà vua và dân chúng mang nước hoa, vòng hoa và nhang trầm đến làm tang lễ cho Bồ-tát.

Người ta nói bậc thánh đời trước

Biểu lộ lòng can đảm cao nhất

Chịu nhẫn nhục trước điều ngang trái

Đã bị vua Ca-thi giết mất.

Ôi món nợ mỗi khi vay mượn

Vị vua kia sẽ phải trả thôi

Khi bị đọa vào trong ngục thẳm

Tháng ngày dài hối hận không vơi.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Kết thúc thời pháp, thầy Tỳ-kheo nóng giận chứng được quả Nhất lai, trong khi nhiều thầy khác chứng được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là vua Ca-lam-phù nước Ca-thi, Xá-lợi-phất là vị tướng quân, còn ta chính là vị ẩn sĩ - người thuyết giảng hạnh nhẫn nhục.

(Tiền thân Khantivādi, số 313, dịch từ bản tiếng Anh)

 

Lời bàn:

Nhẫn nhục (ksānti) là một trong những hạnh tu căn bản của hành giả tu tập theo lời dạy của đức Phật. Phật giáo Nguyên thủy hay Phật giáo Đại thừa đều xếp nhẫn nhục vào một trong những Ba-la-mật (Pāramita). Khi nói đến nhẫn nhục là nói đến sự nhịn chịu mọi ô nhục, khổ hại; chịu đựng những hoàn cảnh ngang trái mà không sinh lòng hờn oán, thù hận. Người tu nào khi gặp cảnh ngang trái mà giữ được tâm tỉnh táo, không sinh lòng hận thù thì người ấy được xem là đang thực hành nhẫn nhục Ba-la-mật.

Nói thì dễ nhưng thực hành được hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật là một điều vô cùng khó khăn. Hạnh nhẫn nhục chỉ được thực hành một cách rốt ráo khi nào hành giả thấu rõ và thực chứng được lý vô ngã. Nếu tu tập nhẫn nhục mà cái “Tôi” còn quá lớn thì không thể nào được. Cái Tôi càng nhỏ thì thực hành nhẫn nhục càng dễ. Như vậy, các pháp tu đều luôn có sự hỗ tương lẫn nhau.

Đọc câu chuyện Tiền thân trên, chúng ta vô cùng cảm phục trước hạnh nhẫn nhục của vị ẩn sĩ - Tiền thân của đức Phật Thích-ca. Phẩm hạnh ấy của Ngài dầu chúng ta chưa thể thực hành theo hết được, nhưng học tập và noi theo hạnh đó sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều ở tại cuộc sống này, một cuộc sống có không ít bất công và ngang trái. Thực hành hạnh nhẫn nhục sẽ giúp cho chúng ta giàu lòng nhân ái, biết khoan dung với mọi người; và hơn hết là giúp chúng ta đoạn trừ đi lòng chấp thủ tự ngã, để từ đó đạt đến an lạc và giải thoát tối hậu.

 

Quang Sơn


alt

 

]]>
tcanhco@yahoo.com (Quang Sơn) frontpage Thu, 22 Jul 2010 20:55:10 +0000
Đặc điểm tâm lý của tuổi thiếu niên Phật tử và phương pháp giáo dục http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6384-dac-diem-tam-ly-cua-tuoi-thieu-nien-phat-tu-va-phuong-phap-giao-duc.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6384-dac-diem-tam-ly-cua-tuoi-thieu-nien-phat-tu-va-phuong-phap-giao-duc.html Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi có nhiều biến động trong tâm lý, là lứa tuổi mà nhân cách con người bắt đầu qui tụ và nẩy nở. Ở lứa tuổi này, trong các em có một sức sống mạnh mẽ và đồng thời đây cũng là lứa tuổi mà sự cân bằng bị phá vỡ. Các em thiếu niên không còn là trẻ em, nhưng cũng chưa hẳn là người lớn. Ở độ tuổi các em còn thiếu kinh nghiệm, kiến thức còn non kém. Nếu như thiếu sự giúp đỡ, giáo dục đúng đắn, kịp thời của người lớn thì các em rất dễ bị ngã vào những vấn đề tiêu cực của cuộc sống.

Chính vì thế, giáo dục thiếu niên Phật tử là một vấn đề rất cần thiết cho tương lai của đạo pháp và dân tộc. Người trồng cây muốn thu hoạch được nhiều hoa lợi thì phải chăm bón ngay khi cây đang còn non. Chúng ta muốn tương lai của đạo pháp, dân tộc, giống nòi được rạng rỡ thì không thể không lưu tâm đến công tác giáo dục thế hệ trẻ, nhất là lứa tuổi thiếu niên.
Để công tác giáo dục cho thiếu niên Phật tử đạt được kết quả tốt, thiết nghĩ chúng ta cần tìm hiểu những đặc điểm tâm lý của các em.

Ở lứa tuổi thiếu niên, do sự biến đổi lớn về mặt sinh học, sự phát triển không đồng đều về các bộ phận của cơ thể, nhất là ở các chi, làm cho các em thiếu niên có vẻ lóng ngóng, vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thận trọng, hay làm đổ vỡ… Điều này gây cho các em cảm giác khó chịu. Hơn nữa, hệ thần kinh của thiếu niên chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh hoặc tính đơn điệu kéo dài. Chính điều này thường gây cho các em tình trạng bị ức chế hay ngược lại là bị kích động mạnh, dẫn đến những phản ứng tiêu cực, không đúng với bản chất của các em. Vì thế, những người làm công tác giáo dục (cha mẹ, quí thầy, quí cô, các anh chị huynh trưởng, thầy cô giáo,…) cần phải nhận thấy được vấn đề này để có sự hướng dẫn và tác động phù hợp. Không nên nói nặng lời với các em, biết thông cảm và ân cần khuyên nhủ các em, phải hết sức thận trọng khi nhận xét các em; không nên chế giễu về sự vụng về, lóng ngóng của các em.

Vấn đề tiếp theo là đặc điểm phát triển trí tuệ của lứa tuổi thiếu niên. Hoạt động trí tuệ của các em thiếu niên phát triển hơn so với lứa tuổi trước. Các em có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng. Trí nhớ cũng được nâng lên một trình độ cao hơn, ghi nhớ máy móc dần dần nhường chỗ cho sự ghi nhớ logic và ghi nhớ ý nghĩa. Vì thế, hiệu quả của việc ghi nhớ trở nên tốt hơn. Khả năng tập trung sức chú ý của các em cũng mạnh hơn, bền vững hơn. Tuy nhiên, tính lựa chọn sự chú ý phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của đối tượng tri giác và mức độ hứng thú của các em với đối tượng đó. Khả năng tư duy cũng cao hơn rất nhiều, tư duy trừu tượng, khái quát phát triển mạnh. Chính những đặc điểm này đã nâng hoạt động học tập của các em thiếu niên lên một tầm cao mới, trở thành hoạt động chủ đạo.

Hoạt động học tập đã tạo ra những biến đổi chủ yếu nhất trong tâm lý của các em, trong đó có những biến đổi giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các chức năng tâm lý và có sự chi phối đến các biến đổi khác. Để hoạt động học tập của các em đạt được chất lượng và hiệu quả cao, người lớn cần phải hướng dẫn cho các em phương pháp tiếp thu và ghi nhớ tài liệu học tập; hình thành cho các em kỹ năng tách ý, tách đoạn, lập dàn ý, khái quát vấn đề và biết cách ôn tập đối với các nội dung học tập; giải thích cho các em biết được tầm quan trọng của sự ghi nhớ chính xác các định nghĩa, mệnh đề, các ý chính của bài học. Người lớn cần có sự kiểm tra việc ghi nhớ của các em, cũng như trong quá trình giảng giải thì nên có sự minh họa và liên hệ với thực tiễn để giúp các em nắm vấn đề một cách sâu rộng hơn.

Có một điều mà người làm công tác giáo dục cần phải chú ý đó là động cơ và thái độ học tập của các em thiếu niên. Các em có thể có những động cơ và thái độ học tập khác nhau. Nhà giáo dục phải chỉ cho các em thấy những mặt tốt, mặt không tốt, mặt tiêu cực và mặt tích cực của từng động cơ và thái độ học tập, chính điều đó sẽ giúp các em hình thành những động cơ và thái độ học tập đúng đắn, phù hợp và có ý nghĩa nhất.

Các em thiếu niên không còn là trẻ con nữa. Chính các em cũng ý thức được vấn đề này. Cho nên các em có nhu cầu muốn trở thành người lớn, muốn tự khẳng định mình và muốn được xem là người lớn. Điều này đã đưa đến sự hình thành tính tích cực xã hội trong các em. Các em thích được tham gia vào các hoạt động tập thể, các hoạt động mang tính xã hội. Các em có nguyện vọng muốn đem lại điều tốt lành cho mọi người - giúp mọi người trong cơn hoạn nạn, ốm đau; cảm thông sâu sắc với những nỗi khổ cực, bất hạnh của người khác. Những mong muốn này thường được các em ý thức rõ ràng, song đôi khi cũng chưa được ý thức một cách đầy đủ. Hơn nữa, các em còn có tính bồng bột, thiếu chín chắn trong suy nghĩ và thiếu thận trọng trong công việc. Cho nên nhiều người lớn vẫn xem thiếu niên là trẻ con. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự khó khăn trong mối quan hệ giữa thiếu niên và người lớn. Khó khăn này sẽ được hóa giải nếu như người lớn biết tìm cho thiếu niên một vị trí phù hợp bên cạnh mình, nếu mối quan hệ giữa thiếu niên và người lớn được xem như là mối quan hệ “bạn bè”, hoặc là mối quan hệ có tính hợp tác với những chuẩn mực đặc trưng của người lớn – đó là sự tôn trọng, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau.

Đôi khi chính người lớn đã làm thui chột tính tích cực ấy của thiếu niên. Sự đánh giá thấp, xem thường và định kiến của người nhân chủ yếu. Để phát huy tính tích cực xã hội của các em và hướng những khát vọng của các em vào mục đích có ý nghĩa nhất định thì người lớn cần phải tôn trọng các em, biết lắng nghe ý kiến và không quá khắt khe trong việc đánh giá các em. Cần tổ chức các hoạt động xã hội có tính tích cực và tạo điều kiện cho các em tham gia, làm sao thu hút được sự tham gia của các em một cách tích cực nhất. Có thể thông qua những hoạt động tập thể, những buổi sinh hoạt tập thể để giáo dục cho các em những đức tính cao đẹp, khơi dậy và làm nảy nở những nghĩa cử cao đẹp trong các em thông qua những mẫu chuyện, những tấm gương sáng trong văn học hay trong hiện thực của cuộc sống, và có thể thông qua sự gương mẫu của chính bản thân những người đang trực tiếp hướng dẫn, giáo dục các em. S.Smiles đã khẳng định rằng: “Sự gương mẫu dù nó có im lặng cách mấy vẫn là yếu tố giáo dục mạnh nhất trần gian”.

Ở lứa tuổi thiếu niên, các em bắt đầu biết ý thức về bản thân mình. Các em biết tự đánh giá mình. Vấn đề này đã giúp cho các em bắt đầu nhận thức rõ hơn về bản thân, biết đánh giá về những mặt tốt và chưa tốt của mình. Sự nghĩ về tự thân, suy ngẫm về thế giới nội tâm của các em cũng đã mở rộng sang cả lĩnh vực xúc cảm gắn với sự phân tích, đánh giá những tình cảm đã trải nghiệm. Vì thế có một số em tỏ ra hối hận, ăn năn về những tình cảm không tốt của mình, đôi khi các em căm thù chính bản thân mình. Sự mặc cảm, tự ti cũng xuất phát từ đây. Mặt khác, sự tự ý thức của các em thiếu niên dựa trên cơ sở đánh giá của người lớn, trước hết là của cha mẹ, của những người lớn trong gia đình, của những người dạy bảo và hướng dẫn các em. Do đó, để giúp các em đánh giá phù hợp về bản thân và không đưa đến những tâm lý tiêu cực (tự ti, mặc cảm) thì người lớn cần có sự đánh giá phù hợp về các em; không được phủ đầu, chụp mũ các em, không nên quá khắt khe với các em. Cần động viên, khích lệ các em và khen ngợi các em khi đáng khen. Và một điều không kém phần quan trọng là người lớn phải tôn trọng và giữ thể diện cho các em, không nên nói lỗi các em trước đám đông.

Cơ sở tự ý thức và nhận thức về thực tiễn cuộc sống đã hình thành ở các em thiếu niên khả năng tự giáo dục. Các em có khát vọng muốn làm chủ những phản ứng, những cảm xúc và toàn bộ hành vi của mình. Các em muốn khắc phục những khuyết điểm, sai lầm, những nét tính cách không tốt và phát huy những nét tính cách tốt của bản thân. Ở các em có sự định hình nhân cách của mình, hướng đến những chuẩn mực đạo đức, những mục đích nhất định. Các em biết hướng đến tương lai. Ý chí, nghị lực và tính kiên nhẫn là những yếu tố hết sức quan trọng, quyết định đến kết quả của quá trình tự giáo dục ở các em. Vì thế, giáo dục ý chí, nghị lực và tính kiên nhẫn cho các em là nhiệm vụ hết sức quan trọng của người làm công tác giáo dục.

Cùng với hướng phát triển đó, đời sống tình cảm của các em thiếu niên cũng sâu sắc và phức tạp hơn. Đặc điểm nổi bật của lứa tuổi này là các em dễ bị kích động, vui buồn chuyển biến dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột, hăng say và đôi khi có sự tự mâu thuẫn. Tuy vậy, tình cảm của các em cũng đã bắt đầu biết phục tùng lý trí, tình cảm đạo đức được phát triển mạnh.
Tình bạn bè, tinh thần tập thể cũng được phát triển mạnh. Tình bạn của các em hình thành trên cơ sở cùng học tập, cùng sinh hoạt và cùng chung một sở thích, hứng thú. Trong quan hệ bạn bè, các em đối với nhau rất chân tình, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Các em tin tưởng nhau và kể cho nhau nghe những điều thầm kín nhất của mình. Các em muốn được hoạt động chung với bạn như muốn lao động chung, chơi thể thao chung, giải trí chung…

Bên cạnh lòng mong muốn giao thiệp với bạn bè, không thể không kể đến mối thiện cảm và sự quan tâm đến các bạn cùng lứa tuổi thuộc giới khác. Sự quan tâm này được biểu hiện khác nhau ở các em trai và các em gái. Ở các em trai, sự quan tâm đến bạn gái được biểu hiện dưới hình thức khá thô bạo như kéo tóc bạn, xô đẩy bạn,… Còn ở các em gái thì đôi khi được che đậy khá kín đáo. Ở tuổi thiếu niên, có em đã có “những rung cảm đặc biệt” đối với người bạn khác giới. Có thể khẳng định rằng, đây là hiện tượng bình thường. Cảm tình và sự thân thiết đối với bạn khác giới cùng học ở lứa tuổi thiếu niên có ý nghĩa không nhỏ đối với sự phát triển nhân cách của các em. Các em có thể động viên, giúp đỡ lẫn nhau, gợi cho nhau và thúc đẩy nhau làm việc tốt, bảo vệ lẫn nhau. Đấy là một động lực rất lớn giúp các em tự hoàn thiện bản thân mình. Tất nhiên, trong quan hệ nam nữ ở lứa tuổi này cũng có thể có lệch lạc, đưa các em đến chỗ đua đòi chơi bời, bỏ cả việc học tập và các công việc khác. Vì thế, những người làm công tác giáo dục phải thấy được điều đó để hướng dẫn, uốn nắn cho tình bạn khác giới ở lứa tuổi này thật lành mạnh, trong sáng, và cần có sự tác động khéo léo, tế nhị, tránh những tác động thô bạo đem đến những kết cục thương tâm. Có những em thiếu niên đã phải tìm đến cái chết do sự tác động không đúng đắn của người khác trong quan hệ tình bạn khác giới của mình.

Nhìn chung, các em thiếu niên có đặc điểm tâm lý khá phức tạp. Nếu thiếu thận trọng thì nhà giáo dục rất dễ gây ra những phảp ứng tiêu cực nơi các em. Giáo dục cho thiếu niên đã khó, giáo dục cho thiếu niên Phật tử lại càng khó khăn hơn. Tại vì, trong khi giáo dục các em theo nền tảng luân lý, đạo đức của Phật giáo, chúng ta không được phép làm mất tính cách thiếu niên ở các em. Vì vậy, để có thể hướng dẫn các em thiếu niên Phật tử theo con đường Chân - Thiện - Mỹ thì đòi hỏi người làm công tác giáo dục phải có lòng thương yêu các em. Điều này thì người Phật tử chúng ta đã sẵn có. Tuy nhiên, chỉ tình thương thôi thì chưa đủ, chúng ta phải có sự hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý của các em, phải hiểu rõ hoàn cảnh, điều kiện sống của các em; phải có sự khéo léo, thông minh; phải có sự kiên trì, nhẫn nại và phải có một tâm hồn tươi trẻ.

Sự sai lầm trong lao động, sản xuất có thể sữa đổi được. Nhưng sự lầm lỗi trong giáo dục, dù là rất nhỏ cũng khó lòng tẩy sạch. Vì vậy, những ai làm công tác giáo dục cần phải hết sức thận trọng.

 

Quảng Trí

http://www.quangduc.com/tapsan/27phapluanso19.


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Quảng Trí) frontpage Thu, 22 Jul 2010 20:53:33 +0000
Phật giáo Giao Châu thế kỷ thứ IV và V, mấy điều tâm đắc http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6383-phat-giao-giao-chau-the-ky-thu-iv-va-v-may-dieu-tam-dac.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6383-phat-giao-giao-chau-the-ky-thu-iv-va-v-may-dieu-tam-dac.html  

Vào những thế kỷ thứ IV và V, vành đai truyền giáo Phật giáo Giao Châu chẳng những bủa khắp Giao Châu mà còn “phủ sóng” đến tận miền Hoa Nam Trung Quốc. Tính giao lưu Phật giáo Luy Lâu với Đôn Hoàng qua các đời Đông-Tây Tấn, Nam-Bắc triều đã cho thấy những đóng góp không biên giới từ những bậc danh đức-cao Tăng đương thời, những mẫu người Chúng Trung Tôn của thời đại, người mà đã có những liên hệ gần-xa và góp phần phác họa nên bức tranh toàn cảnh Phật giáo Giao Châu lúc bấy giờ. Qua những thăng trầm của lịch sử, trong cái nhìn tham chiếu qua các thời kỳ, nội dung bài nầy xin giới thiệu mấy điều tâm đắc về Phật giáo Giao Châu vào thế kỷ thứ IV và V.

Sau Khương Tăng Hội mất (280), nhất là bước sang đầu thế kỷ thứ IV, Phật giáo Giao Châu có nhiều chuyển biến mới. Trong số những bậc danh đức-cao Tăng đóng góp sự nghiệp truyền giáo lúc bấy giờ có: Thích Đạo Cao, Thích Pháp Minh và Lí Miễu, Lí Miễu là thứ sử Giao Châu. Bên cạnh đó còn có sự đóng góp xa-gần có nguồn từ Phật giáo Lạc Dương Trung Quốc như: Cưu-ma-la-thập (343-413), Thích Huệ Viễn (344-416), Thích Huệ Lâm, Thích Pháp Cương v.v… Bước sang thế kỷ thứ V, Giao Châu lại đón nhận thêm những nhà Sư từ Ấn Độ đến, tiêu biểu trong số nầy có Đạt-ma Đề-bà (Dharmadeva) là một điển hình. Người thừa kế lỗi lạc từ Đạt-ma Đề-bà là Thích Huệ Thắng (K. 432-502+), Huệ Thắng là cao Tăng người bản xứ, và Thích Đạo Thiền cũng trong số hội chúng “tùng địa dũng xuất” của Phật giáo Giao Châu.

Qua những thông tin hàm chứa trong Sáu Lá Thư, một tư liệu Phật giáo Giao Châu trình bày về một diễn đàn Phật giáo lúc bấy giờ đã có sự tham dự bàn cãi của Thích Đạo Cao, Thích Pháp Minh và Lí Miễu về những chủ đề tín ngưỡng đương thời. Cũng từ đó cho thấy, mặc dù sinh hoạt truyền giáo không có điều kiện tốt để phát huy mặt nổi nhưng ở mạch ngầm dòng chảy vẫn mang tính xuyên suốt không ngừng và nền giáo học vẫn tiếp tục vươn lên phát triển. Một diễn đàn được thành hình, một học phong chủ đạo thời đại được nêu lên và bàn cãi thật sôi nổi. Nó có sức thu hút nhiều nhà trí thức, lãnh tụ đương thời để họ cùng về với diễn đàn Phật giáo và qua đó tìm ra một cương lĩnh nhập thế an sinh xã hội hầu góp phần tranh đấu cho độc lập tự chủ dân tộc, trong số nầy thứ sử Giao Châu Lí Miễu là một điển hình. Học phong nhất ban của thời đại bàn cãi nhiều chủ đề mà nổi bật là nêu lên học lí Cảm ứng, cụ thể là người đương thời “muốn thấy chân hình Phật ở đời”. Chủ tọa diễn đàn đã trả lời cho người đương thời rằng muốn thấy Phật cần phải có cảm, có cảm mới có ứng và thuyết cảm ứng hay cách cảm ứng thì như thế nào và ai là người có được sự cảm ứng với Phật. Từ cơ sở lí giải như thế, học lí Cảm ứng ra đời. Bàn cãi về học lí Cảm ứng, diễn đàn Phật giáo Tiên Sơn không phải là nơi sinh hoạt đơn điệu; cùng với Tiên Sơn từ bên Lạc Dương Trung Quốc, còn có Cưu-ma-la-thập thuộc Phật giáo Bắc triều với Huệ Viễn thuộc Phật giáo Nam triều, cả hai cũng góp phần bàn cãi không nhỏ chung quanh chủ đề như thế, điều đó còn được biết qua tác phẩm Đại thừa nghĩa chương.

Những viện dẫn lí giải về thuyết Cảm ứng. Có nguồn gốc từ kinh điển mà điển hình là từ kinh Pháp Hoa; bên cạnh đó cũng không loại trừ yếu tính vận dụng có nguồn gốc từ nước ngoài mà điển hình là từ La Thập của Phật giáo Lạc Dương, Huệ Viễn của Phật giáo Núi Lô. Tuy nhiên, với một kiểu vận dụng điển hình “có người ngồi thiền nơi rừng vắng, có người tu đức bên cạnh thành, họ đều là làm sáng tỏ chân bản nguyện Phật nơi đời”, đã cho thấy nét riêng mang tính vận dụng sáng tạo trong cách lí giải giáo học của Thích Đạo Cao.

Ở đây cũng xin được lạm bàn về một điển tích trong Sáu Lá Thư, điều mà giáo sư Lê Mạnh Thát tuy có nêu lên nhưng còn bỏ ngỏ chưa bàn rốt ráo, đó là điển tích “Khí phi sương Dĩnh, vận phi bào Sinh” do Thích Pháp Minh nêu lên. Câu điển tích nầy có 2 vế: Khí phi sương Dĩnhvận phi bào Sinh. Ở đây chúng ta thấy nổi lên cụm từ khí sương Dĩnhvận bào Sinh, còn chữ phi trong câu chỉ là từ đệm có ‎nghĩa so sánh. Vậy khí là khí phách, vận là thời vận; còn hai từ sương bào được hiểu như là mưa mốc. Dĩnh có thể là tên đất (địa danh) chỉ cho con sông Dĩnh, là vùng Địa linh, nơi đây sinh ra Nhân kiệt. Điển hình là quê hương của Trí Khải (Trí Giả 538-597), tổ mở Đạo tông Pháp Hoa cũng ở sông Dĩnh. Việc Thích Pháp Minh viện dẫn kinh Pháp Hoa cho cách lí giải của mình, từ đó cho thấy Pháp Minh ít nhiều biết đến vị tổ mở Đạo tông Pháp Hoa chính là Trí Giả và vì ngưỡng mộ Trí Giả với niềm kính trọng vô bờ nên ông mới tự ví mình không bằng chút mưa mốc của sông Dĩnh (khí phi sương Dĩnh) đó vậy. Còn Sinh là tên người (nhân danh), không ai khác hơn đó là Đạo Sanh. Chính trong liên hệ với Thích Huệ Lâm còn có bài văn khóc Thích Pháp Cương và bài điếu Thích Đạo Sanh. Khi Huệ Lâm bị tập thể chư Tăng Lạc Dương tẩn xuất ra khỏi Trung Quốc, Ông đã tìm về núi Lô. Sau đó lại sang Giao Châu và có đóng góp gần xa cho diễn đàn Phật giáo Giao Châu lúc bấy giờ. Do đó, Thích Đạo Cao cũng như Thích Pháp Minh biết đến Thích Huệ Lâm trong niềm kính trọng, rồi qua sự kính mộ ấy, ông tự ví thời vận mình còn lận đận hơn cả buổi hoàng hôn của vị “tể tướng áo nâu” của nhà Tề là Thích Huệ Lâm kia nữa. Vì thế, chữ Sinh trong câu “vận phi bào Sinh” đó không gì khác hơn là tên người và nó chỉ cho Thích Đạo Sanh vậy. Đạo Sanh còn được biết rộng trong giới nghiên cứu qua điển tích “điểm đá gật đầu”. Điển tích nầy sẽ bàn ở một bài khác. Do đó, điển tích “khí phi sương Dĩnh, vận phi bào Sinh” trong câu nói của Thích Đạo Cao, ở đây ông tự ví mình khí khái không bằng sương sông Dĩnh, thời vận không có được cái thắng duyên so với mưa mốc của Đạo Sanh ở núi Lô.

Như vậy, Phật giáo Giao Châu sau Khương Tăng Hội hay tiếp đến, vào những thế kỷ thứ IV và V không phải là nghèo nàn trống vắng, nhất là từ sau khi một phát hiện mới về những hoạt động truyền giáo của Thích Đạo Cao, Thích Pháp Minh và những liên hệ nhà chùa với lãnh tụ kháng chiến Giao Châu Lí Miễu vào thế kỷ thứ V sau Công nguyên. Có điều là Giao Châu lúc bấy giờ, một nữa tự trị và một nữa nội thuộc, do đó ít nhiều chịu sự chi phối chính trị, văn hóa, xã hội, v v… từ phương Bắc: Trung Quốc qua các đời Tề, Lương, Trần, Tùy. Khi Nhà Tề mà điển hình là Tề Văn Đế “khai đại thiền luật”, qui tụ các bậc anh tài, kiệt xuất trong bốn biển thì cũng là lúc Giao Châu đã tự khẳng định vị thế của mình qua những đóng góp lớn lao cho ngôi nhà chung Phật giáo Viễn Đông, điển hình là những đóng góp về sau nầy của Thích Huệ Thắng và Thích Đạo Thiền. Như thế đủ cho thấy rằng, không phải ngẫu nhiên mà Đàm Thiên của Nhà Tề bày tỏ sự khen ngợi về tính lớn mạnh của Phật giáo Giao Châu như điều Thông Biện dẫn cho thấy; cũng không phải liều lĩnh khi “tể tướng áo nâu” của nhà Tề: Thích Huệ Lâm đã lánh nạn sang Giao Châu, chính vì Giao Châu, đất nầy vốn là nơi “có đủ nhân tố đa văn hóa”. Người Lĩnh Nam lại có cái nhìn phóng khoáng khi nhận định về tính chất giác ngộ cũng như về những chủ đề an sinh xã hội khác có liên hệ học lí Phật giáo. Điển hình là Huệ Năng, bậc Tổ đạo đời thứ 6 của Thiền Nam Đốn của Phật giáo Trung Quốc, người đã từng nói: “[tánh] Phật không phân chia Nam Bắc, mọi người đều có thể tu cầu, các loài dù trí hay ngu đều đồng một bản tính giác ngộ” (Phật vô nam Bắc quân khả tu cầu, tình hữu trí ngu đồng tư giác ngộ). Cho nên Giao Châu chẳng những là nơi “tìm sang lánh nạn” cho những bậc “dị nhân phương Bắc” mà cũng là chốn vun thân cho những người “làm lại cuộc đời” trước những biến cố lịch sử của thời đại trên vùng Hoa Bắc, Hoa Nam.

Nhìn lại:

2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam, mạch ngầm của dòng chảy vẫn tiếp nối xuyên suốt qua các thời kỳ. Tìm hiểu công hạnh danh đức cao Tăng Phật giáo Giao Châu vào những thế kỷ thư IV và V, trên cơ sở SÁU LÁ THƯ, một tư liệu lịch sử Phật giáo Việt Nam cùng những sự kiện lịch sử liên hệ, chúng tôi có mấy điều tâm đắc sau đây:

+  Tiếp nối nền tảng pháp lí truyền giáo Phật giáo Giao Châu từ Mâu Tử, Khương Tăng Hội để truyền lại cho đời sau, Thích Huệ Thắng và Thích Đạo Thiền, những con người đã “giữ lòng trinh bạch thẳng ngay” trước những biến cố lịch sử để đóng góp phần mình cho chặng đường “giữ gìn kho tàng con mắt Chánh pháp” của tổ Đạo qua các đời.

+ Trong bối cảnh Giao Châu bị trị thế mà Thích Huệ Thắng, Thích Đạo Thiền, Thích Đàm Hoằng, họ đã biểu hiện nét “Thao minh che kín, thường tỏ như ngu”, cũng như trước những biến cố tang thương của lịch sử đưa đến từ nhiều phía, nhiều lúc, qua nhiều loại hình khác nhau thật không thể nói hết, ấy thế mà từ nhỏ tới già, lòng Huệ Thắng trinh bạch thẳng ngay. Thẳng ngay trước mọi thời vận để hoàn thành sứ mạng đóng góp cho một chặng đường lịch sử xuyên suốt. Từ đó cho thấy thời vận dù có hưng, suy, Huệ Thắng vẫn luôn giữ vững khí phách mình theo đường tổ Đạo.

+ Đem người của sông Dĩnh để sánh ví và đồng cảm thời vận với người núi Lô theo kiểu nói như thế, Thích Pháp Minh đã tự khẳng định khí phách và thời vận mình để tự vươn lên. Một chặng đường lịch sử đi qua, vai trò gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau “kho tàng con mắt Chánh pháp” của tổ Đạo được hoàn thành.

Phật giáo Lưỡng Tấn Nam Bắc triều của Trung Quốc có những bậc Rồng Voi trong cửa pháp, những người đã làm nên sự rực rỡ, chẳng những cho Phật giáo Trung Quốc mà còn cho cả Phật giáo Viễn Đông (Far East) nữa. Tiêu biểu trong số nầy có Cưu-ma-la-thập (343-413), Thích Huệ Viễn (344-416), Thích Huệ Lâm, Thích Đạo Sanh v.v… Họ là những ngôi sao trên nền trời Phật giáo Đông-Tây Tấn; Phật giáo Nam-Bắc triều và họ có liên hệ gần xa với Phật giáo Giao Châu.

Tranh biện về thuyết “Cảm ứng” cũng như những chủ đề liên hệ được bàn cãi bởi Thích Đạo Cao, Thích Pháp Minh và Lí Miễu, tất cả đã tạo nên một diễn đàn Phật giáo Giao Châu vào thế kỷ thứ IV và nó càng rõ nét hơn khi Phật giáo Giao Châu đón nhận sự có mặt của “Tể tướng áo nâu” Thích Huệ Lâm, người đến từ Trung Quốc. Khi diễn đàn bàn cãi đến đỉnh cao, bấy giờ người ta ghi nhận một cuộc khủng hoảng Phật giáo Giao Châu vào thế kỷ thứ V. Rồi Thích Huệ Thắng, Thích Đạo Thiền là những ngọn đèn thiền học sau cùng của Phật giáo Giao Châu, cả hai kết hợp sự đóng góp qua sự tự thiêu mang màu sắc Phật giáo đức tin Tịnh Độ của Thích Đàm Hoằng, tất cả đã góp phần đưa Phật giáo Giao Châu qua cơn khủng hoảng đương thời. Nhìn chung, với một nét Thiền học, một nét Tịnh Độ học, cả hai đã tạo nên nét dung hợp Thiền Tịnh cho Phật giáo Giao Châu.

Như vậy, Thích Đạo Cao, Thích Pháp Minh, Lí Miễu, Thích Huệ Thắng, Thích Đạo Thiền, Thích Đàm Hoằng cùng những bậc danh đức cao Tăng người nước ngoài có mặt đương thời, tất cả đã góp phần mình xây dựng nên nền tảng học lí Thiền học Phật giáo Giao Châu vào thế kỷ thứ V. Còn việc phát huy nên một tông phái Thiền học và làm hoàn chỉnh tổ chức Thiền phái thì đó là sự nghiệp của Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Pháp Hiền.

 

Tâm Phương

http://www.quangduc.com/tapsan/12phapluanso10


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Tâm Phương) frontpage Thu, 22 Jul 2010 20:51:11 +0000
MẠNH THAY HÒA HỢP ! YẾU THAY CHIA RẼ ! http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6382-manh-thay-hoa-hop--yeu-thay-chia-re-.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6382-manh-thay-hoa-hop--yeu-thay-chia-re-.html Đức Thế Tôn kể câu chuyện này tại vườn Cây đa gần thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavatthu), nhân vì có sự bất hòa xảy ra trong hoàng tộc mà nguyên nhân dẫn đến bất hòa là do tranh cãi về cái gối của một người gác cổng.

Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với chư vị trong hoàng tộc:

- Thưa chư vị trong hoàng tộc, chư vị không nên tranh cãi, trong cùng một hoàng tộc mà tranh cãi với nhau thì thật không thích đáng. Vào đời quá khứ, dù là loài chim cũng đã đánh bại được kẻ thù khi chúng sống hòa hợp với nhau, và khi chúng xảy ra bất hòa thì phải chịu sự diệt vong.

Rồi theo lời thỉnh cầu của hoàng tộc, đức Thế Tôn kể câu chuyện Tiền thân dưới đây.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con chim cút, thủ lĩnh của hàng ngàn con chim cút sống ở trong rừng. Bấy giờ, một người bẫy chim vì muốn bắt chim cút nên đi đến chỗ chim cút sống. Ông ta thường bắt chước tiếng kêu chim cút để dụ chúng đến, rồi chờ khi bầy chim kéo đến tập họp lại một chỗ, ông ta tung lưới chụp lên chúng và rút các mép lưới lại, tóm cả hết vào  một mối, sau đó nhét chúng vào trong một cái giỏ, mang về nhà và bán kiếm tiền sinh sống.

Một hôm, Bồ-tát nói với bầy chim:

– Thưa các vị, người bẫy chim này đang tàn sát thân tộc của chúng ta. Ta có một phương kế khiến ông ta không thể bắt được chúng ta. Từ nay trở đi, mỗi khi ông ta tung lưới lên, các vị hãy thò đầu của mình qua các lỗ lưới và sau đó tất cả cùng mang lấy cái lưới bay đến một nơi mà các vị muốn, và ở đó, hãy hạ cái lưới xuống trên một bụi cây gai. Làm như vậy, tất cả chúng ta sẽ thoát khỏi nhiều mẻ lưới.

– Thật là hay. Cả bầy chim cùng đồng ý.

Ngày hôm sau, khi người bẫy chim chụp lưới lên bầy chim, chúng đã làm theo  những gì mà Bồ-tát đã dặn. Chúng mang cái lưới bay lên và hạ lưới xuống trên một bụi cây gai rồi trốn thoát từ phía bên dưới, làm cho người bẫy chim phải đứng đấy gỡ lưới mãi cho đến khi chiều tối, sau đó trở về nhà mà trong tay chẳng có thứ gì. Bầy chim sử dụng mưu kế ấy liên tiếp nhiều ngày sau đó. Và như thế, người bẫy chim cứ phải chịu cái cảnh loay hoay gỡ lưới cho đến chiều tối và trở về nhà tay không. Thấy chồng cứ về nhà tay không hoài như vậy, người vợ tức giận nói:

– Ngày nào ông cũng trở về tay không. Tôi nghĩ là do ông nuôi dưỡng một cơ sở thứ hai nào đó.

Người bẫy chim nói:

– Không đâu bà ơi, tôi không nuôi dưỡng một cơ sở thứ hai, thứ ba nào cả. Sự thật là do những con chim cút đó bây giờ đã cùng hợp tác làm việc. Khi tôi tung lưới lên chúng, cả bầy cùng mang cái lưới đi, để lại nó trên một bụi cây gai và bỏ trốn. Nhưng chúng sẽ không thể sống mãi trong hòa hợp được đâu. Bà đừng lo, khi nào chúng bắt đầu cãi vã nhau, tôi sẽ bắt hết cả bọn chúng, rồi bà sẽ vui cười cho coi.

Nói vậy xong, ông ta đọc cho bà vợ nghe bài kệ này:

Khi hòa hợp có mặt

Chim mang lưới bay xa

Khi tranh cãi xuất hiện

Chúng rơi vào tay ta.

Không lâu sau đó, một con chim cút khi đậu xuống bãi đất kiếm mồi đã vô ý đạp lên đầu một con chim cút khác. Con chim cút này kêu lên một cách giận dữ.

– Kẻ nào đạp lên đầu ta thế.

– Ôi! xin lỗi, tôi đấy. Nhưng tôi không cố ý, xin đừng giận tôi. Chim cút thứ nhất nói.

Nhưng không thèm đếm xỉa đến câu trả lời phân trần này, chim cút thứ hai cứ ôm lòng sân hận, tiếp tục nói:

– Ngươi nghĩ là một mình ngươi có thể nhấc bổng cái lưới lên được sao?

Và thế là chúng bắt đầu lời qua tiếng lại, lớn tiếng mắng nhiếc lẫn nhau.

Khi nhìn thấy chúng cãi vã nhau như vậy, Bồ-tát nghĩ: “Mỗi khi đã có tranh cãi thì không có an toàn. Giờ thì bầy chim sẽ không còn nhấc nổi cái lưới lên được nữa rồi, và do đó chúng sẽ nhận lấy sự đại diệt vong. Gã săn chim rồi sẽ tìm được cơ may của mình. Thôi, ta không ở đây nữa.” Nghĩ như vậy, Bồ-tát cùng với đàn chim của mình bay đến một chỗ khác.

Đúng như dự đoán, một vài ngày sau, gã bẫy chim lại đi đến chỗ đó. Trước tiên, gã dụ đàn chim lại bằng cách giả tiếng chim cút, sau đó gã tung lưới lên chúng. Thế rồi một con chim cút nói:

– Nghe nói khi ngươi nhấc bổng lưới lên thì lông trên đầu của ngươi rơi xuống cả. Bây giờ ngươi hãy nhấc lưới lên đi.

Con chim kia đáp trả:

– Khi ngươi nhấc lưới lên, nghe nói lông cánh của ngươi đều rụng cả. Bây giờ hãy nhấc lên đi.

Trong khi chúng đang còn đề nghị nhau nhấc lưới như vậy, thì người bẫy chim đi đến, rút các mép lưới lại và nhấc lên, tóm chúng lại thành một mối và nhét vào trong giỏ mang về nhà. Bà vợ thấy vậy thì vui cười.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

– Như thế, thưa chư vị trong hoàng tộc, trong cùng thân tộc với nhau mà tranh cãi thì thật không thích đáng. Tranh cãi chỉ có đưa đến diệt vong mà thôi.

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn liên kết hai câu chuyện lại với nhau và nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là con chim cút ngu ngốc, còn ta chính là con chim cút hiền trí.

(Tiền thân Sammodamāna, Số 33, dịch từ bản Anh ngữ.)

Lời bàn:

Hòa hợp là chất keo không thể thiếu trong một tổ chức. Một tổ chức, mỗi khi sự hòa hợp không còn thì không sớm cũng muộn tổ chức ấy sẽ đi đến chỗ tan rã, hoặc nếu có tồn tại thì tồn tại trong sự què quặt, thương tật. Điều này dĩ nhiên ai cũng biết, nhưng biết là một đường, còn sống hòa hợp được với nhau hay không lại là chuyện khác. Ai cũng biết đoàn kết, hòa hợp là tốt; chia rẽ, bất hòa là nguy hại, nhưng vì sao người ta lại rất khó đoàn kết trong khi chia rẽ lại rất dễ xảy ra?

Nguyên nhân đưa đến sự bất hòa có thể nói là rất nhiều, nhưng chung quy vẫn do thấy cái “ngã” của mình quá lớn. Một tổ chức mà ai cũng thấy mình quan trọng, ai cũng thấy mình lớn, ai cũng thấy mình hay, mình đúng… thì thật khó nói đến sự hòa hợp, có hòa hợp chăng chỉ là sự hòa hợp giả tạo, hòa hợp vì không thể khác được.

Trong kinh luật, nhất là trong luật, khi nói đến vấn đề hòa hợp, đức Phật thường dạy rằng phải hòa hợp như nước với sữa. Tức là một sự hòa hợp mà cái “Ta” hoàn toàn vắng mặt. Anh và tôi phải tan biến trong nhau, hòa quyện vào nhau. Thường thì ai cũng kêu gọi đoàn kết, kêu gọi hòa hợp, nhưng đoàn kết và hòa hợp xung quanh “Ta”, chứ không phải đoàn kết và hòa hợp với nhau. Đoàn kết hòa hợp như vậy thì không phải là sự hòa hợp thực sự.

Ở câu chuyện tiền thân này, sự chia rẽ của những con chim cút bắt đầu từ một nguyên nhân rất nhỏ xuất phát từ sự vô tình của một con chim cút khi đậu xuống bãi kiếm mồi. Sự vô tình đó đã đụng tới cái “ngã” của một con cút khác. Do vì thấy mình quan trọng, thiếu đi hiểu biết và cảm thông, con cút này bắt đầu gây gỗ và rồi dẫn đến sự bất hòa mà kết quả của nó thì như đã được trình bày trong câu chuyện.

Cũng như tất cả những câu chuyện Tiền thân khác, câu chuyện này cũng chia làm ba phần: duyên khởi, chuyện Tiền thân và kết luận. Ở đây, mỗi phần ta có thể rút ra một câu để làm bài học:

Phần duyên khởi: “Trong cùng một hoàng tộc mà tranh cãi với nhau thì thật không thích đáng.”

Phần chuyện Tiền thân: “Mỗi khi có sự tranh cãi thì không có sự an toàn.”

Phần kết luận: “Tranh cãi chỉ đưa đến diệt vong mà thôi.”

Từ những lời trên, ta có thể khai triển rộng hơn: không những trong cùng hoàng tộc, mà trong cùng một gia đình, một đoàn thể hay một tổ chức, nếu cứ tranh cãi, bất hòa với nhau thì đúng là không thích đáng chút nào. Và vì sao mỗi khi có tranh cãi, bất hòa thì không có sự an toàn? Vì sự bất hòa là những kẽ hở tạo cơ hội cho những ngoại duyên bên ngoài xâm nhập vào quấy phá. Chúng ta thấy rằng, nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của các tổ chức hầu như đều phát xuất từ vấn đề nội tình bên trong, trong đó nguyên nhân chia rẽ là điều không thể không nói đến. Và chính sự chia rẽ nội tình là cơ hội cho những kẻ khác dòm ngó và tìm cách phá hoại, nên từ tranh cãi, bất hòa đi đến diệt vong là điều không xa.

Câu chuyện Tiền thân mang màu sắc ngụ ngôn này tưởng chừng như đơn giản, nhưng ngẫm lại thấy thật sâu sắc. Câu chuyện nhắc ta phải biết sống hòa hợp và cảm thông. Phải biết hóa giải những nguyên nhân nhỏ nhất nếu nguyên nhân ấy dẫn đến sự chia rẽ về sau. Hơn ai hết, đối với những người chủ trong gia đình, những người lãnh đạo trong một tổ chức phải làm sao uyển chuyển để giải quyết những vấn đề bất hòa trong một tinh thần tương thân tương ái, và cần phải xem câu chuyện này như một bài học: bài học về sự lợi ích của hòa hợp, và sự nguy hại của chia rẽ.

 

Quang Sơn

http://www.quangduc.com/tapsan/12phapluanso10.html


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Quang Sơn) frontpage Thu, 22 Jul 2010 20:49:02 +0000
Chuyện tiền thân : BÙN NÀO LÀM UẾ ĐƯỢC PHA LÊ ! http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6381-chuyen-tien-than-bun-nao-lam-ue-duoc-pha-le.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/truyen-phat-giao/6381-chuyen-tien-than-bun-nao-lam-ue-duoc-pha-le.html Tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện về việc các tu sĩ ngoại đạo đã thuê người sát hại cô Tôn-đà-lợi (Sundarī).

Thời bấy giờ, dân chúng rất kính trọng đức Phật. Sự kính trọng này giống như năm con sông đổ vào đại dương. Những tu sĩ ngoại đạo nhận thấy rằng lợi lộc và lòng tôn kính không còn đến với họ nữa, nên tập họp lại và cùng nhau bàn bạc:

– Thưa huynh đệ, từ khi Sa môn Cù Đàm (Gotama) xuất hiện, chúng ta không còn nhận được lợi lộc và dân chúng không còn kính trọng chúng ta nữa, chẳng còn một ai biết đến sự có mặt của chúng ta. Ai sẽ là người giúp chúng ta sĩ nhục Sa môn Cù Đàm, và khiến cho dân chúng đừng cúng dường và kính trọng ông ta nữa?

Rồi họ đã nghĩ ra, “Tôn-đà-lợi là người có thể giúp chúng ta thực hiện việc này”.

Vì thế một hôm, khi Tôn-đà-lợi đến thăm khu rừng những vị ngoại đạo cư trú, những vị ngoại đạo gật đầu chào cô nhưng ngậm thinh không nói một lời nào. Cô ta hỏi đi hỏi lại nhiều lần, nhưng không một ai trả lời. Cô hỏi tiếp:

– Thưa các thầy, có điều gì làm cho các thầy bực mình chăng?

Họ nói:

– Này chị, chị không nhìn thấy Sa môn Cù Đàm quấy rầy chúng tôi, tước đi phẩm vật cúng dường và thanh danh của chúng tôi ư?

– Vậy con có thể làm gì để giúp các thầy đây? Cô ta hỏi.

– Này chị, chị xinh đẹp và đáng yêu. Chị có thể làm nhục Sa môn Cù Đàm, lời nói của chị có thể tác động đến rất nhiều người. Nếu ông ta bị hạ nhục, thì chúng tôi có thể nhận lại được lợi lộc và thanh danh của mình.

Cô ta đồng ý rồi ra về. Sau đó, cô ta thường mang hoa, dầu thơm, long não, gia vị và trái cây; đợi đến chiều tối, lúc đám đông sau khi nghe đức Thế Tôn thuyết pháp xong và trên đường trở vào kinh thành, cô ta hướng mặt đi đến tinh xá Kỳ Viên. Nếu có ai hỏi cô đang đi đâu, cô ta nói:

– Tôi đang đi đến chỗ Sa môn Cù Đàm, và tôi sẽ ở lại đấy với ông ấy trong một hương phòng.

Sau đó, cô nghỉ qua đêm ở chỗ những tu sĩ ngoại đạo, vào buổi sáng cô ta lại trở về theo con đường từ tinh xá Kỳ Viên vào kinh thành. Nếu có ai hỏi cô ta đi đâu về, cô ta trả lời:

– Tôi đã ở với Sa môn Cù Đàm trong một hương phòng, và ông ấy đã làm tình với tôi.

Một vài ngày sau, những vị ngoại đạo thuê một vài tên côn đồ giết chết Tôn-đà-lợi trước phòng đức Phật và ném xác cô ta vào trong đống rác. Rồi họ lại rêu rao tìm kiếm Tôn-đà-lợi, và trình báo với nhà vua. Nhà vua yêu cầu họ chỉ ra nơi họ nghi vấn. Họ trả lời rằng trước đây một vài ngày cô ta có đi đến tịnh xá Kỳ Viên, nhưng họ không biết những gì xảy ra sau đó. Nhà vua bảo họ đến đó tìm kiếm cô ta. Được phép thế, họ dẫn theo những người hầu của nhà vua, và đi đến Kỳ Viên. Ở đấy, họ lùng sục khắp nơi cho đến khi họ tìm thấy xác Tôn-đà-lợi ở trong đống rác. Bảo mang đến một cái cáng, họ đưa xác cô ta vào kinh thành, tâu với nhà vua rằng những đệ tử của Sa môn Cù Đàm đã giết chết Tôn-đà-lợi và ném cô ta vào trong đống rác để che đậy tội lỗi đấng Đạo Sư của họ. Nhà vua bảo họ đi khắp kinh thành thông báo việc này. Họ đi khắp các đường phố rêu rao:

– Xin hãy đến xem những gì mà những Sa môn Thích tử đã làm.

Rêu rao xong, họ quay lại cổng cung điện. Nhà vua đặt xác Tôn-đà-lợi trên một cái bệ, rồi cho mang vào nghĩa địa canh giữ. Trừ các Tỳ-kheo ra, còn tất cả dân chúng đi khắp trong thành, ngoài thành, khắp công viên, rừng cây, lăng mạ sĩ nhục các Tỳ-kheo và la lớn:

– Xin đến xem những gì mà những Sa môn Thích tử đã làm.

Chư Tỳ-kheo bạch lại tất cả sự việc này lên đức Thế Tôn. Ngài nói:

– Thôi được, các thầy hãy đến quở trách những người này bằng lời sau:

Người thích nói dối đọa địa ngục

Người làm, bảo không có khác chi.

Hai hạng người này khi bỏ mạng

Sanh vào cõi ác không hồ nghi.

Sau đó, nhà vua ra lệnh cho một vài người đi điều tra xem người nào đã giết phải Tôn-đà-lợi. Bấy giờ, những tên vô lại đang ngồi uống rượu bằng đồng tiền vấy máu và tranh cãi với nhau. Một tên nói với một tên khác:

– Mày đã giết Tôn-đà-lợi bằng một cú đánh, rồi ném xác cô ta vào trong đống rác, giờ đây mày lại mua rượu bằng đồng tiền vấy máu đó!

– Đúng đây rồi, đúng những tên này rồi.

Những sứ giả của nhà vua nói và bắt lấy những tên côn đồ, kéo chúng đến trước nhà vua. Nhà vua hỏi:

– Có phải các ngươi đã giết cô ta không?

– Thưa đại vương, chúng con đã làm việc đó. Họ trả lời.

– Ai bảo các ngươi làm?

– Tâu đại vương, những tu sĩ ngoại đạo.

Nhà vua cho gọi những tu sĩ ngoại đạo đến. Ông bảo:  – Hãy nhấc Tôn-đà-lợi lên và mang cô ta đi quanh kinh thành, khi các ngươi đi hãy hô to: Cô Tôn-đà-lợi muốn làm nhục Sa môn Cù Đàm, chúng tôi đã giết cô ta; tội lỗi này không phải của Sa môn Cù Đàm, cũng không phải của những đệ tử ông ấy; tội lỗi này là của chúng tôi!

Họ làm theo như vậy. Quần chúng mê mờ trở lại tin tưởng đức Phật. Còn những vị ngoại đạo không còn làm điều ác nữa, do phải nhận lấy sự trừng phạt vì tội sát hại. Từ đó về sau, thanh danh của đức Phật ngày càng trở nên rộng lớn. Rồi một ngày nọ, chư Tỳ-kheo bắt đầu đàm luận việc này trong Chánh pháp đường:

– Thưa các Hiền hữu, những tu sĩ ngoại đạo muốn bôi nhọ đức Phật, và rồi chính họ tự bôi nhọ lấy mình. Từ đó, lợi lộc và thanh danh của chúng ta được gia tăng!

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận việc gì? Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, để làm nhơ uế Thế Tôn là điều không thể. Cố gắng làm nhơ uế Thế Tôn thì cũng giống như cố làm nhơ uế một viên bảo ngọc. Vào đời quá khứ, người ta muốn làm nhơ uế một viên ngọc đẹp, và họ có cố thế nào cũng không thể làm được, nên đành chịu thất bại.

Và rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình Bà-la-môn. Khi Ngài trưởng thành, nhận thức được nỗi khổ đau phát sanh từ tham ái, Ngài đã rời bỏ gia đình sống đời sống xuất gia. Sau khi vượt qua ba rặng núi của dãy Tuyết Sơn, đến đấy, Ngài xuất gia làm ẩn sĩ, sống trong một thảo am.

Gần thảo am của Ngài có một hang động pha lê, có ba mươi con heo rừng sống trong ấy. Gần hang động, có một con sư tử thường hay qua lại và cái bóng của nó phản chiếu trong pha lê. Những con heo rừng thấy cái bóng phản chiếu này sinh sợ hãi nên trở thành gầy còm, xanh xao. Chúng nghĩ, “sở dĩ chúng ta thấy cái bóng phản chiếu này bởi vì lớp pha lê quá sáng. Chúng ta hãy làm dơ bẩn và uế màu nó đi.” Vì thế, chúng lấy một ít bùn từ một cái hồ gần đó và chà xát mãi lên lớp pha lê. Nhưng pha lê, được lớp lông cứng của những con heo chà xát càng trở nên sáng bóng hơn.

Chúng không biết xoay xở ra làm sao nên quyết định đến hỏi ẩn sĩ, làm cách nào chúng có thể làm dơ bẩn được lớp pha lê. Sau khi đi đến vị ẩn sĩ, chúng cung kính chào hỏi, rồi ngồi xuống một bên và đọc lên hai bài kệ:

Ba mươi chúng tôi bảy năm nay

Sống trong hang động pha lê này.

Giờ cố làm mờ đi ánh sáng

Nhưng chúng tôi đành chịu bó tay.

Dù chúng tôi đây dốc hết sức

Làm mờ ánh sáng pha lê đi.

Pha lê vẫn tỏa ánh sáng rực,

Nguyên nhân có thể là do gì?

Bồ-tát lắng nghe, sau đó Ngài đọc lên bài kệ thứ ba:

Pha lê quý giá, không tì vết

Sáng rực, trong suốt; đâu phải gương.

Ánh sáng của nó mãi chắc thật

Không có vật gì làm tổn thương.

Này những bạn heo, tốt nhất hãy

Chọn lấy nơi khác mà náu nương.

Chúng đã làm như vậy khi nghe câu trả lời này. Rồi Bồ-tát trú sâu trong thiền định, và sau đó sanh về thế giới Phạm Thiên.

* * *

Sau khi kết thúc pháp ngữ này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền Thân:

Vào thuở ấy, Ta chính là vị ẩn sĩ.

 

(*) Tiền Thân Maṇisūkara, số 285, bản Anh ngữ.

Lời bàn:

Trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng gặp được những điều an ổn, gặp được những người tốt, sẵn lòng thương yêu và giúp đỡ. Bên cạnh những người thương yêu và quý mến, vẫn có những người luôn ghanh ghét, đố kỵ, tìm cách vu khống, bôi nhọ và hãm hại chúng ta. Điều đó là lẽ thường tình trong cuộc sống, bởi lẽ sống giữa đời này khó tìm ra người hoàn toàn được thương yêu mà không bị ganh ghét. Vì thế trong cuộc sống, chúng ta đừng mong rằng tất cả mọi người sẽ luôn yêu thương và quý trọng chúng ta, mà chúng ta phải làm sao tự hoàn thiện lấy bản thân, sống như thế nào đó để  khi đối mặt với những ghanh ghét, vu khống… chúng ta vẫn có được một thái độ tỉnh táo, bình thản, sẵn sàng đón nhận và chuyển hóa mà không sinh lòng oán trách, thù hận.

Cuộc đời của đức Phật là tấm gương sáng, phản chiếu rất rõ phẩm hạnh này. Trong sự nghiệp hoằng pháp độ sanh, đức Phật gặp rất nhiều chướng ngại, đối mặt với không ít những lời sỉ nhục, vu khống, bôi nhọ… Nhưng đứng trước những trường hợp như vậy, Ngài luôn thể hiện một thái độ bình thản, sẵn sàng đón nhận như là cái tất yếu phải có; không dao động sợ hãi, không oán hận trả thù. Ngài bình thản đón nhận vì tin rằng: “Kẻ ác hại người hiền chẳng khác nào ngước lên trời phun nước miếng, nước miếng chẳng đến trời mà trở lại rơi nhằm vào mình. Ngược gió tung bụi, bụi chẳng đến người mà trở lại dính vào thân. Người hiền không thể hại được mà họa ắt mình phải chịu”.1

Ở câu chuyện này, một lần nữa chúng ta lại nhận thấy điều ấy.

Những tu sĩ ngoại đạo vì mục đích lợi lộc và muốn được dân chúng tôn kính nên đã bày mưu bôi nhọ thanh danh đức Phật. Đức Phật bình thản đón nhận và tin rằng chính những kẻ vu khống kia sẽ gặt lấy quả ác do việc làm xấu xa của họ, và quả thật đã đúng như vậy.

Một người phạm hạnh thì giống như một viên bảo ngọc, như một tấm pha lê sáng trong, dù có đem bùn đen bôi lên cũng không thể nào làm dơ uế được. Cố công bôi nhọ, sĩ nhục người phạm hạnh thì cũng giống như bầy heo kia ra sức đem bùn chà lên pha lê, mong làm mờ đi ánh sáng của nó. Pha lê trái lại không mờ mà tự làm hao tổn sức mình và rước họa vào thân.

 

Quang Sơn

 

(1) “Ác nhân hại hiền giả do ngưỡng thiên nhi thóa, thóa bất chí thiên hoàn tòng kỷ đọa.  Nghịch phong dương trần, trần bất chí  bỉ, hoàn bộn kỷ thân, hiền bất khả huỷ, họa tất diệt thân”.  (Kinh Tứ thập nhị chương)

 

alt]]>
tcanhco@yahoo.com (Quang Sơn) frontpage Thu, 22 Jul 2010 20:39:14 +0000
Bài ca cho con http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6380-bai-ca-cho-con.html http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/6380-bai-ca-cho-con.html À ơi… tiếng mẹ nhẹ nhàng,

Mênh mang mở lối thiên đàng cho con.

Một sự lựa chọn tự nhiên, ngay tức khắc của lí trí và trái tim con người về bài ca đầu tiên hay nhất thế gian: Bài hát ru.

Và mẹ chính là người thầy dạy nhạc, dạy yêu thương đầu tiên cho mỗi người. Bài ca cho con của mẹ vì thế mang những sắc thái độc đáo riêng biệt. Trước nhất nó gắn liền với ngôi nhà thân thương của mỗi chúng ta nên nó còn mang nặng cái hồn quê hương xứ sở. Sau nữa, nó còn là những lời hát trĩu nặng tâm trạng trong một mối quan hệ gần gũi, ấm áp, thiêng liêng: Mẹ-Con. Sữa mẹ thì nuôi phần xác, còn lời hát nuôi phần hồn. Bà mẹ dịu dàng khẽ hát ru con bằng ngôn ngữ của trái tim. Lời lẽ vì thế đầy trìu mến yêu thương:

Cái ngủ mày ngủ cho lâu

Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về…

Rồi người mẹ âu yếm dỗ dành với lời lẽ chất phác nhưng chân tình sâu sắc như tấm lòng của mẹ:

Ru con con théc cho muồi

Mẹ đi chợ Truồi mua bánh con ăn.

Lời hứa gợi niềm vui chờ mẹ đi chợ về, trước và trong giấc ngủ là một sự chờ đợi thật thú vị: thấp thỏm nhất, háo hức nhất, hạnh phúc nhất. Và sau giấc ngủ sẽ là gặp gỡ, mừng vui. Trong vòng tay êm ấm của mẹ, cả một thế giới thần tiên hiện về chập chờn quanh trẻ. Cùng với lời hát ru, mỗi động tác vỗ về khi nhanh, mạnh khi đều đều, chậm rãi, êm dịu v.v… đều gởi gắm không chỉ tình yêu mà còn cả nỗi lòng. Đứa trẻ mặc dù chưa thể hiểu, nhưng người mẹ vẫn coi con là chỗ tựa, là người bạn tin yêu nhất, là nguồn sức mạnh để người mẹ sẵn sàng đương đầu với những cơn phong ba bão táp của cuộc đời:

Ầu ơ… ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

Đường học của con thì nhiều hoa thơm trái ngọt, còn đường đời của mẹ thì thật lắm chông gai. Nhưng mẹ sẵn sàng đánh đổi để cho con luôn có được bầu trời hạnh phúc. Và vì thế lời hát ru của mẹ không chỉ chất chứa bao nỗi đắng cay mà còn truyền cho con tình yêu, niềm tin và nghị lực. Trong guồng quay vô tận của thời gian, những vất vả, đoạn trường của mẹ cứ chất chồng đến nghiệt ngã:

Gió mùa thu mẹ ru con ngủ

Năm canh chầy thức đủ vừa năm…

Thế nhưng lời ru con thì mãi mãi mang giai điệu êm ái. Bao nhiêu sóng gió của cuộc đời đã được mẹ nén chặt trong lòng để bày lên mặt hồ phẳng lặng những tháng ngày đầy mộng đẹp cho con. Không có gì có thể lý giải nổi sự kiên nhẫn, sức chịu đựng phi thường ấy, ngoài tình thương con của mẹ. Đây chính là “huyền thoại mẹ” trong hát ru. Gọi là huyền thoại vì sự kiên nhẫn và sức chịu đựng ấy âm thầm mà thật khổng lồ, đẹp và lung linh lắm! Trong ý nghĩa này hát ru cũng là lời đánh thức mọi lãng quên.

Cuộc đời mẹ lắm đắng cay. Lời ru của mẹ vẫn ngọt ngào cho trẻ ngủ. Âm điệu lời ca giúp trẻ ngủ sâu, còn mẹ thì vẫn thức, thức cho những nỗi niềm không bao giờ vơi cạn:

Khóc làm chi hài nhi con hỡi

Cha con rày bạc ngỡi thì thôi

Hỡi chàng chàng ơi, hỡi chồng chồng ơi

Sao tệ bấy hỡi chàng, sao tệ bấy hỡi chồng?

Trong biển đời đầy bất trắc, cũng có khi lỡ bước sa chân, bài ca mẹ cho con còn là lời nhắn nhủ lẽ sống thanh cao:

À ơi…Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi, ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Nếu phải chọn một trong hai cái chết, người mẹ sẵn sàng chọn cái chết trong sạch để cho đàn con không đau lòng trong tủi nhục. Không chỉ nuôi dưỡng hình hài, mẹ còn chú trọng hun đúc cho con cái phần thiêng liêng, hoàn mỹ nhất trong cõi tinh thần: PHẨM CHẤT CON NGƯỜI. Con người có thể chết chứ quyết không thể nhục.

Rõ ràng, hát ru là tượng đài bất tử của lòng mẹ, tình mẹ. Tình thương con đã giúp những người mẹ vượt lên mọi hoàn cảnh, nỗi đau, sống cho con, vì con. Bài ca cho con, vì thế phải xem là nước mắt, là máu…

Lời ru của mẹ vốn đã hay lại được bao bọc trong ánh sáng thiêng liêng của tình mẫu tử nên càng lung linh, vi diệu. Nhân loại trong cuộc hành trình vạn kỷ để tìm kiếm những giá trị thẩm mỹ vĩnh hằng, chắc chắn trong hành trang của mỗi người sẽ luôn cần có những lời hát ru, bởi vì:

Ta đi trọn kiếp con người

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.

(Nguyễn Duy)

 

Tusita

http://www.quangduc.com/tapsan/03phapluanso5.


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Tusita) frontpage Thu, 22 Jul 2010 20:37:06 +0000
Hãy mở rộng tình thương http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6379-hay-mo-rong-tinh-thuong.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6379-hay-mo-rong-tinh-thuong.html

Trong cuộc sống có biết bao trở ngại, ngăn trở chúng ta thực hiện một dự định gì đó. Có những điều tưởng chừng như vô lí nhưng đã mặc nhiên chấp nhận trong hành trình tìm kiếm một chút niềm vui trong cuộc sống. Có lẽ sẽ dễ chịu hơn khi những việc mình làm  đạt được như những gì mình mong muốn, chẳng ai dại gì rước thất bại vào cho mình cả. Từ đó, ta sẽ có cái nhìn cảm thông hơn, và dang tay nâng đỡ những lầm lỗi mà bất cứ ai sai phạm, ngay cả bản thân mình cũng không nên khắt khe. Mỗi sai lầm đều có cái giá của nó, nhưng qua sai lầm, thất bại sẽ làm chúng ta trưởng thành hơn.

Trong cuộc sống hiện nay, con người dường như luôn đố kị nhau, luôn có cái nhìn xét nét, không tin tưởng lẫn nhau. Đó là hệ quả tất yếu của một xã hội phát triển. Nếu xét cho kĩ, cũng do tâm ích kỉ cả. Nói như thế không có nghĩa là cuộc sống bản chất vốn dĩ như thế và không thể không chuyển dịch được. Thử nghĩ, chúng ta sẽ cô đơn biết chừng nào khi quanh ta không một ai? Chúng ta sẽ như thế nào khi một mình trên cõi thế gian này? Cuộc sống có mối tương quan của nó, không thể có được cái này nếu thiếu vắng cái kia, nói theo nhà Phật thì đó là nhân duyên, là duyên khởi. Khi chúng ta buồn thì chỉ buồn một mình, khi chúng ta vui thì thấy ai cũng vui. Khi buồn là lúc tâm hồn một người đang cần một tâm hồn khác an ủi và chia sẻ. Giải bày là một nhu cầu rất cần thiết trong cuộc sống của con người, nhất là cuộc sống ngày nay, một cuộc sống được viện dẫn là  hiện đại, văn minh… mà sao ai nấy cũng sống trong lo âu, buồn giận. Con người hiện đại thường bị stress, luôn căng thẳng, lòng người không còn chỗ cho tình thương nẩy mầm, không còn chỗ cho gia đình khác tồn tại. Thiết nghĩ, nếu không có mọi người gia đình chúng ta sẽ sống với ai. Điều cốt yếu trong cuộc sống là tình người mà cấp độ dễ dàng nhận biết nhất chính là sự quan tâm lẫn nhau.

Tình người không cần định nghĩa, không cần một loại lí luận nào phân tích, mổ xẻ; nó cũng giống như Phật tánh của chúng sanh luôn sẵn có trong mỗi con người, nhưng mấy ai chịu đem nó ra trang trải với cuộc đời. Họ bảo thủ trong khuôn khổ gia đình, nhưng cũng chưa hoàn toàn hiểu hết giá trị của tình thương ấy; nhiều gia đình buông thả con cái, không quan tâm đến cuộc sống của nó như thế nào và hậu quả là xã hội phải oằn lưng gánh vác trách nhiệm giáo dục. Thật ra, quan tâm đến nhau là biểu hiện của tình người, vui với niềm vui của mọi người, đau buồn với những mất mác của đồng loại. Tại sao chúng ta không một lần dang tay cứu giúp một tâm hồn đang bị sa đọa thay vì xa lánh, mắng nhiếc nó. Thử một lần bị sa đọa mới thấy giá trị của lòng thương, sự quan tâm giữa  con người với con người. Ở đây tình thương biểu hiện qua những cử chỉ nhỏ nhặt như một anh mắt, một nụ cười, một cánh tay dang ra…

Tinh thần từ bi của đạo Phật không xa xôi, dịu vợi như mọi người từng nghĩ, không phải giáo điều chỉ gói gọn trong phạm vi của những bậc tu hành. Tinh thần từ bi được hiểu theo ngôn ngữ dân gian đời thường chính là lòng người. Ngôn ngữ chỉ là phương tiện, quan trọng là chúng ta vận dụng như thế nào để ngôn ngữ ấy có giá trị trong thực tiễn của cuộc sống bằng hành động cụ thể. Quan tâm đến nhau để tâm hồn được ấm áp, để tin tưởng rằng cuộc sống này vẫn còn những giá trị nhân bản.

Trên hành trình của một đời người bất chợt nhìn lại những mất mát đau thương của bản thân, nhân rộng những đau thương ấy để thấy mọi người và ta cũng vì những thứ ấy mà khổ đau. Như thế rất cần sự ấm áp của tình thương của mọi người cho nhau. Đức Phật cũng từng dạy: “Không có giai cấp trong mỗi chúng sanh khi mà nước mắt cùng mặn và máu cùng đỏ”, chúng ta hãy phát huy những lời dạy của Ngài ngay trong cuộc sống thực tại này, áp dụng vào những sinh hoạt thường nhật để thấy từ lí thuyết đến thực hành không còn dịu vợi xa xôi nữa.

 

Trúc Lam


alt

]]>
tcanhco@yahoo.com (Trúc Lam) frontpage Thu, 22 Jul 2010 20:35:45 +0000
CÚNG QUÁ ĐƯỜNG http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6378-cung-qua-duong.html http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6378-cung-qua-duong.html

 

altCúng Quá Đường là một nghi thức quan trọng không thể thiếu trong mùa an cư kiết hạ hay kiết đông của hàng đệ tử xuất gia. Năm nay, Canh Dần 2010, mùa An Cư Kiết Đông kỳ thứ 11 của Giáo Hội Úc Châu được tổ chức từ ngày 6 đến 16-7 năm 2010 tại Thiền Viện Minh Quang, ở thành phố Canley Vale, cách trung tâm thành phố Sydney 30 phút lái xe, người viết xin ghi lại đôi nét về lễ nghi quan trọng này để giúp quý Phật tử mới vào đạo hiểu thêm về nghi thức này.

Quá Đường, còn gọi là Thượng Đường hay Phó Đường, nơi Tăng chúng đến thọ thực mà tâm không tham trước (theo Từ Điển Phật Học Huệ Quang, trang 5752). Quá Đường, nghĩa đen: Đường là nhà, Quá là đi qua, nghĩa là chư Tăng đi từ Tăng đường, Khách đường, Tây đường, Đông đường…. đến Trai đường để thọ thực, nên gọi là Quá Đường hoặc Phó Đường. Theo sự nghiên cứu của HT Thích Huyền Tôn, Ngài nhớ đã đọc trong Vạn Tục Tạng, Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy, quyển 6, theo tài liệu này cho rằng nghi thức cúng Quá Đường xuất xứ tại Chùa Từ Ân ở Lạc Dương, tỉnh Hà Nam thuộc triều đại nhà Đường (618-907) Trung Quốc, chứ trước đó chưa có danh từ Quá Đường. Ai cũng biết triều đại nhà Đường, nhất là thời Vua Đường Thái Tông (599-649), là vị hoàng đế thứ hai của triều đại này trong lịch sử Trung Hoa, trị vì từ năm 626 đến 649. Ông là một vị vua tài ba, người đã thiết lập sự cường thịnh của Triều đại nhà Đường, đặc biệt ông cũng là người hỗ trợ cho Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang mọi điều kiện để dịch thuật Kinh Tạng tại Chùa Từ Ân ở Trường An.

Thời Phật còn tại thế ở Ấn Độ cũng như các quốc gia theo Phật Giáo Nam truyền không có nghi thức cúng Quá Đường mà chỉ theo phương thức “ nhật trung nhất thực, thọ hạ nhất túc”, nghĩa là “ giữa ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây một lần”, buổi sáng đắp trì bát vào thành khất thực, sau đó về tịnh xá thọ thực và tọa thiền dưới gốc cây, truyền thống tuyệt vời này hiện nay vẫn còn áp dụng một cách sống động ở các quốc gia như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia và miền Tây Việt Nam. Cho đến khi Phật Giáo truyền đến Trung Hoa, rồi sau đó truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… thì chư Tổ Đức mới tạo ra nghi thức cúng Quá Đường này như một pháp tu tập, trước để dâng cúng mười phương Tam Bảo, sau đó hành giả mới dùng cơm, đây là nghi cách đặc biệt trong việc tri ơn và báo ơn ngay trong bữa ăn của mình. Trước khi ăn phải cúng dường, phải tưởng niệm và sau đó giữ chánh niệm trong lúc ăn, nếu hành giả nghiêm trì và cẩn thận trong bữa ăn như vậy, phước và đức phát sinh và tăng trưởng từ đây.

Tiếp theo đây, xin nói chi tiết và thứ lớp trong nghi thức Quá Đường, sau khi hành giả vào trong trai đường, nghe Thầy Duy Na nhịp ba tiếng chuông, chấp tay xá một xá và ngồi xuống, khi nghe một tiếng khánh, mở nắp bình bát ra, cắm chiếc muỗng quay ra phía ngoài vào cơm in sẵn, sau đó nghe chuông hành giả tay trái nâng bát đưa lên ngang trán, tay phải kiết ấn cam lồ ngang miệng bình bát hay bát cơm để tụng bài cúng dường: “ Cúng dường Thanh tịnh Pháp Thân Tì Lô Gía Na Phật, Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật, Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật, Ðương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Cực Lạc Thế Giới A  Di Ðà Phật, Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật, Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát,  Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”.

Dâng cơm lên trán và bắt ấn cúng dường, cũng được gọi là “cử án tề mi”, tức là đưa lên ngang chân mày để biểu tỏ lòng tôn kính ba ngôi Tam Bảo, đây là cung cách cúng dường trong nghi cúng Quá Đường, vừa đẹp vừa trang nghiêm, do vậy mà đại chúng không nên đưa bát cơm quá cao hoặc quá thấp mà phải ngang trán của mình.

Cúng dường xong để bát xuống, liền xoay hướng muỗng vào bên trong, với ý nghĩa, phần cơm dành cho mình, còn trước khi cúng, quay muỗng ra ngoài là để dâng cúng mười phương Tam Bảo. Ở đây, người viết xin giải thích một chút về việc kiết ấn cúng dường, tay phải kiết ấn cam lồ với ngón tay cái đặt lên ngón áp út co sát vào trong lòng bàn tay, ba ngón tay còn lại vươn thẳng lên, ấn cam lồ này là biểu trưng cho lòng từ bi, như hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, tay cầm bình cam lồ, tay bắt ấn để ban rải lòng từ bi để cứu khổ chúng sanh. Tay trái kết ấn Tam Sơn, ngón giữa và ngón áp út co lại, ba ngón còn lại vươn thẳng lên, như ba ngọn núi, tạo một thế kiềng ba chân vững chắc để đặt bình bát cơm vào giữa. Ấn Tam Sơn này biểu trưng cho Giới Định Tuệ, là ba môn vô lậu học, một môn học có thể đưa hành giả đi vào đường giác ngộ. Ta thấy trong nghi cách dâng bát cơm cúng dường này đã gói gọn ý nghĩa từ bi và trí tuệ, là hai yếu tố quyết định quan trọng trong đời mình, hạnh phúc hay đau khổ cũng chính từ đây mà có. Từ bi là lòng thương không có điều kiện, và trí tuệ là trí hiểu biết không nhiễm ô, đây là mục đích tối hậu của mọi hành giả, ai thành tựu được pháp hành này, người ấy luôn sống an lạc tự tại dung thông ngay trong hiện tại và mai sau, tất nhiên, con đường dẫn đến giải thoát sinh tử luân hồi đã ngắn dần ở phía trước.

Tiếp đó, Hòa Thượng Chứng Minh Trường Hạ để một cái chung nhỏ trong lòng bàn tay trái, tay mặt gắp 7 hạt cơm để vào chung, kiết ấn cam lồ và mặc niệm: Pháp lực bất tư nghì. Từ bi vô chướng ngại. Thất liệp biến thập phương. Phổ thí châu sa giới.Án độ lợi ích tá ha. (3 lần) và đại chúng đồng tụng bài biến thực biến thủy chơn ngôn “ Nẳng mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng(3 lần); Nẳng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô ta bà ha. (3 lần). Án Nga nga nẵng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng (3 lần). HT Chứng Minh thầm nguyện: “Nhữ đẳng quỉ thần chúng. Ngã kim thí nhữ cúng. Thử thực biến thập phương. Nhất thiết quỉ thần cộng. Án mục lăng tá bà ha. (3 lần).

Theo sau là Thị Giả tống thực, đem chung nhỏ ra trước bàn ngoài sân để cúng Đại Bàng bằng cách hô to :”  Ðại Bàng Kim Sí Ðiểu, Khoáng dã quỷ thần chúng, La sát quỷ tử mẫu, Cam lồ tất sung mãn. Án mục đế tóa ha. (7 lần) (nghĩa là: Chim đại bằng cánh vàng, chúng quỉ thần nơi đồng rộng, mẹ con quỉ la sát, cam lồ được no đủ). Tiếp theo, Thầy Duy Nha xướng Tăng Bạt: “Phật chế đại chúng, thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu, đại chúng, văn khánh thanh, các chánh niệm. Nam Mô A Di Ðà Phật”, (Phật dạy đại chúng, ăn xét năm điều, nghĩ sai nói chuyện, tín thí khó tiêu, đại chúng nghe tiếng khánh, cùng giữ chánh niệm).

Tiếp đó, tất cả đại chúng hai tay bưng bát cơm đưa lên trán và thầm đọc: “Chấp trì ứng khí, đương nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ thiên nhân cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra (3 lần), nghĩa là: Tay bưng bát cơm, nguyện cho chúng sanh, Pháp thí thành tựu, nhận của trời người cúng". Ứng cúng ở đây là xứng đáng nhận sự cúng dường của người và trời, chỉ cho bậc A La Hán, người đã đoạn tận tam độc tham, sân, si và vô minh phiền não. Trong khi cúng Quá Đường ý niệm này khởi lên, mong cho chính bản thân mình và hết thảy chúng sinh sớm chứng đắc A La Hán và thoát ly sinh tử luân hồi khổ đau.

Nghe tiếng khánh để bát cơm xuống và múc ít cơm ra chén để lưu phạn; nghe chuông, bưng chén cơm để trước ngực và thầm đọc: “ Dĩ kim sở tu phước, phổ triêm ư quỉ chúng. Thực dĩ ly khổ não,  xả thân sanh lạc xứ. Bồ-tát chi phước báo, vô tận nhược hư không, thí hoạch như thị quả, tăng trưởng vô hưu tức. Án độ lợi ích tá ha. (nghĩa là: nay đem phước đã tu, ban cho tất cả quỉ, ăn rồi hết đau khổ, xả thân về cõi tịnh, hưởng phước của Bồ Tát, rộng lớn như hư không, quả tốt như vậy đó, tiếp tục lớn thêm mãi). Lưu phạn là san sẻ phần cơm của mình cho chúng quỉ thần và cho người ăn sau mình; ý nghĩa bố thí, mở rộng tình thương của mình dành cho người bất hạnh, không đủ cơm ăn áo mặc, ý tưởng này giúp cho hành giả nuôi dưỡng từ tâm ngay trong lúc mình ăn.

Lưu phạn xong, nghe 2 tiếng chuông đại chúng bắt đầu dùng cơm, trước khi ăn, hành giả phải khởi niệm Tam ĐềNgũ Quán, đây là một nghi cách đẹp và có ý nghĩa của nhà Phật mà hành giả không phải chỉ áp dụng trong khi cúng Quá Đường mà có thể áp dụng trong tất cả các bữa ăn khác của mình trong đời sống. Tam Đề là ăn ba muỗng cơm lạt đầu tiên, muỗng thứ nhất: thầm đọc, nguyện chấm dứt tất cả những điều ác (Nguyện đoạn nhứt thiết ác) ; muỗng thứ hai: nguyện làm tất cả những việc lành (nguyện tu nhứt thiết thiện); muỗng thứ ba: nguyện giúp đỡ tất cả chúng sanh (Nguyện độ nhứt thiết chúng sanh). Ý nghĩa Tam Đề này là nói rõ mục đích tối hậu của hành giả tự độ mình là dứt ác, làm lành, đạt đến giải thoát và thực thi hạnh độ tha là giúp đỡ người khác rõ biết đường đi lối về của nhân quả nghiệp báo, ra khỏi tà kiến để chấm dứt đau khổ trong đời sống để rồi cuối cùng cũng đạt đến giác ngộ giải thoát như bản thân mình.

Tiếp đến bắt đầu ăn cơm phải tưởng Ngũ Quán: Thứ nhứt: Con xin biết ơn người đã phát tâm cúng dường, sửa soạn những thức ăn này; Thứ hai: Con nguyện nổ lực tu học, trau dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này; Thứ ba: Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn; Thứ tư: Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật; Thứ năm: Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ mà con xin thọ dụng những thức ăn này. (Nhất kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ. Nhị thổn kỷ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng. Tam phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tông. Tứ chánh sự lương dược, vị liệu hình khô. Ngũ vi thành đạo nghiệp, ưng thọ thử thực).

Trong suốt thời gian dùng cơm, hành giả luôn luôn giữ chánh niệm với 5 phép quán trên. Thiền ngữ của chư Tổ  đã từng cảnh báo chư hành giả về sự quan trọng của phép ăn cơm rằng:

“Ngũ quán nhược minh kim dị quá,
Tam tâm dị liễu thủy nan tiêu”,

Có nghĩa là “nếu phép ngũ quán được liễu thông thì dù có ăn vàng đi chăng nữa thì vàng đó cũng được tiêu hóa, ngược lại nếu ba tâm kia không hiểu rõ dù có uống nước, nước kia cũng không thể tiêu được. Hiểu được ý này mà Thầy Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức,TT Thích Tâm Phương đã từng nhắc nhở hàng đệ tử trước khi dùng cơm trong các kỳ thọ bát Quan Trai rằng:

Mỗi khi nâng bát cơm đầy,
Nhớ ơn Tam Bảo, ơn Thầy, Mẹ Cha
Nhớ người tín thí gần xa
Con nguyện sống hạnh vị tha đáp đền.

Ăn cơm xong, lấy tăm xỉa răng và thầm nguyện " Tước dương chi thời, đương nguyện chúng sanh, kỳ tâm điều tịnh, phệ chư phiền não. Án a mộ dà, di ma lệ, nhĩ phạ ca ra, tăng thâu đà nễ, bát đầu ma, câu ma ra, nhĩ phạ tăng thâu đà da, đà ra đà ra, tố di ma lê, sa phạ ha (3 lần), có nghĩa là: "Nhấm tăm dương chi, nên nguyện chúng sinh, tâm tính thuần hóa, cắn nát phiền não". Ngày xưa tăm dùng trong chùa thường được làm bằng cành dương nhỏ, nên gọi là tăm dương. Ăn xong xỉa răng là thời điểm sau cùng của bữa ăn; thân vừa no đủ và tâm tư thư thái, hoan hỷ, không có chút lo lắng phiền não, nên cũng mong cho người khác cũng giống như chính mình.

Xỉa răng xong, nghe Thầy Duy Na nhịp một tiếng chuông, đại chúng cùng uống nước, hai tay bưng bát nước cung kính trước ngực và thầm nguyện: Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha (3 lần). (nghĩa: Phật nhìn một bát nước, có tám vạn tư vi trùng, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh. Qua Phật nhãn, Đức Thế Tôn thấy rõ có vô số vi trùng trong một bát nước, một cái thấy mà mãi đến hơn 2000 năm sau mới có người phát hiện, đó là vào hậu bán thế kỷ 19, nhà Sinh vật học người Pháp Louis Pasteur (1822-1895) khám ra những vi khuẩn gây bệnh qua kính hiển vi. Cũng chính vì bài kệ chú uống nước có tính siêu khoa học này mà nhà bác học vĩ đại nhất của thế kỷ thứ 20, ông Albert Einstein (1879-1955) đã không ngần ngại khi tuyên bố "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học".

Uống nước xong, nghe chuông, đại chúng cùng tụng bài  Kiết Trai: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha (7 lần). Sở vị bố thí giả, tất hoạch kỳ lợi ích. Nhược vị nhạo bố thí, Hậu tất đắc an lạc. Phạn thực dĩ ngật, đương nguyện chúng sanh, Sở tác giai biện, Cụ chư Phật Pháp. (nghĩa: gọi là bố thí, tất được ích lợi ; vui thích bố thí, sau được an vui. Thọ thực hoàn tất, nên nguyện chúng sanh, việc làm hoàn mãn, đầy đủ Phật pháp.)

Theo sau là nghi thức niệm Phật và Kinh Hành, đi từ trai đường lên Chánh Điện, hành giả chấp tay nghiêm trang và từng bước chân kinh hành, miệng niệm Phật trong chánh niệm, vào điện Phật, lễ Tứ Thánh, quỳ xuống tụng bài Sám Nguyện và hồi hướng công đức, đó là hoàn mãn thời Cúng Quá Đường trong mùa An Cư.

Trên đây là nghi thức Cúng Quá Đường trong thiền môn, được xem là nghi thức dùng cơm trong chánh niệm, áp dụng cho tất cả các bữa ăn khác, hành giả cần phải phải thuộc lòng các bài kệ chú để áp dụng trong bữa ăn để giúp mình giữ gìn chánh niệm, không tạp tưởng, mơ màng trong lúc ăn là mục đích chính.

Trong lúc chúng ta đang ăn cơm trắng, uống nước trong tại Trường Hạ, thì số người bị thiếu ăn trên toàn thế giới hiện đã lên tới  hơn 1 tỷ, tương đương 1/6 dân số thế giới, một con số cao nhất trong lịch sử loài người, đây là thống kê mới nhất của tổ chức Lương Nông Thế Giới, FAO, http://www.fao.org/, tất cả đều do tác động của sự khủng hoảng tài chánh toàn cầu trong hơn một năm qua. Mong rằng năng lượng từ tâm của đại chúng tại Trường Hạ Minh Quang từ Úc Châu và hàng triệu đệ tử Phật trên khắp hành tinh này trong mùa An Cư năm nay, sẽ giúp chuyển tải năng lượng tu tập đến cho thế giới, giúp cho họ giảm bớt đau khổ và sớm cải thiện cuộc sống nghèo đói, nhất là mọi người đều có đủ cơm ăn và nước uống trong mỗi ngày.

 

Nam Mô A Di Đà Phật

Viết tại Trường Hạ Minh Quang, Sydney, 10-7-2010

Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Nguyên Tạng) frontpage Thu, 22 Jul 2010 12:55:45 +0000
Trung Quốc: Long trọng khai mạc tuần lễ Văn hóa Di Lặc - núi Tuyết Đậu, Khai quang, Lạc thành tượng http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6377-trung-quoc-long-trong-khai-mac-tuan-le-van-hoa-di-lac-nui-tuyet-dau-khai-quang-lac-thanh-tuong.html http://daitangkinhvietnam.org/tin-tuc-phat-giao/phat-giao-the-gioi/6377-trung-quoc-long-trong-khai-mac-tuan-le-van-hoa-di-lac-nui-tuyet-dau-khai-quang-lac-thanh-tuong.html Trung Quốc: Long trọng khai mạc tuần lễ Văn hóa Di Lặc - núi Tuyết Đậu, Khai quang, Lạc thành tượng Di Lặc bằng ngọc phỉ thúy lớn nhất thế giới

Chiều ngày 16/7/2010, tại khu thắng cảnh cấp Quốc gia thuộc trấn Khê Khẩu, thành phố Phụng Hóa, tỉnh Chiết Giang long trọng tổ chức: Nghi thức khai mạc lễ hội "Văn hóa Di Lặc núi Tuyết Đậu", lễ âm nhạc "Ứng Mộng Tuyết Đậu" và "Khai quang, Lạc thành tượng Di Lặc bằng ngọc phỉ thúy lớn nhất toàn cầu". Chư sơn Trưởng lão cùng các quan khách trong giới Phật giáo, giới Tôn giáo, giới Chính trị, giới thương nhân, giới văn hóa, giới nghệ thuật, giới truyền thông và hơn 15000 người bao gồm nội ngoại nhân sĩ đến từ ba khu vực Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan đều vân tập về Phụng Hóa tham dự.

dilac 1.jpg

Toàn cảnh Lễ khai mạc

Đến tham dự các lễ hội có chư sơn Trưởng lão, chư Tôn đức như: Trưởng lão Căn Thông - Phương trượng chùa Sùng Thiện kiêm Phó chủ tịch Hội viên tư vấn Hiệp hội Phật giáo TQ; Trưởng lão Hộ Ba Long Trang Uyễn Nạp Tây Lợi - Trụ trì chùa Tổng Phật, Tây Song Bản Nạp, tỉnh Vân Nam, kiêm Phó Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc; Pháp sư Giác Tỉnh - Phương trượng chùa Ngọc Phật Thượng Hải, Phó hội trưởng Hiệp hội Phật giáo TQ kiêm Ủy viên Hiệp thương Chính trị toàn quốc; Pháp sư Tâm Trừng - Phương trượng chùa Kim Sơn - Tiêu Sơn, tỉnh Giang Tô, kiêm Phó Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo TQ; Pháp sư Đạo Từ - Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo núi Phổ Đà, kiêm Phó hội Trưởng Hiệp hội Phật giáo TQ; Lạt Ma Lạc Tang Tát Mộc Đan - Trụ trì Ung Hòa Cung, Bắc Kinh kiêm phó thư ký Hiệp hội Phật giáo TQ; Pháp sư Hoằng Độ - Chủ nhiệm bộ Giáo vụ Hiệp hội Phật giáo TQ; Ông Vương Kiện - Thư ký trưởng Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc ...

dilac 2.jpg

Ông Vương Kiện - Thư ký trưởng Hiệp hội Phật giáo TQ, đại biểu Trưởng lão Truyền Ấn - Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo TQ, trao tặng bức thư pháp "Ứng Mộng Tuyết Đậu", nhân tuần lễ Văn hóa Di Lặc

Về phía Chính quyền nhà nước có các cấp lãnh đạo, các ban ngành đoàn thể đến tham dự như: Ông Tề Hiểu Phi - Phó Cục trưởng Cục Tôn giáo Quốc gia; Ông Ba Âm Triều Lỗ (dân tộc Mông Cổ) - Bí thư Đảng ủy thành phố Ninh Ba kiêm Ủy viên Thường ủy Đảng ủy tỉnh Chiết Giang; ông Vương Kiến Mãn - Phó tỉnh trưởng tỉnh Chiết Giang; ông Thang Lê Lộ - Bộ Trưởng Bộ Thống Chiến Đảng ủy tỉnh Chiết Giang v.v... và các ca sĩ nổi tiếng Cao Thắng Mỹ, Hoàng An; MC Trần Dung - người dẫn chương trình nổi tiếng đài truyền hình Thượng Hải cùng nhiều quan khách thuộc các giới danh lưu trong xã hội đến tham dự lễ hội.

dilac 4.jpg

Pháp sư Giác Tĩnh - Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Thượng Hải

Pháp sư Giác Tỉnh - Phương trượng chùa Ngọc Phật Thượng Hải, Phó Hội trưởng kiêm đại biểu Hiệp hội Phật giáo TQ nói lời chúc mừng cho sự tổ chức thành công lễ Văn hóa lần này. Pháp sư nói: Lễ hội "Văn Hóa Di Lặc" mỗi năm tổ chức một lần và hiện nay, đã trở thành tiêu biểu cho văn hóa Phật giáo tại Phụng Hóa, có ý nghĩa quan trọng và tác dụng tích cực trong công cuộc khai thác những điểm ưu tú thuộc truyền thống văn hóa dân tộc Trung Hoa; đề xướng quan niệm hài hòa, truyền thừa văn hóa trong tinh thần hòa mục, đoàn kết tín chúng trong và ngoài nước, hướng dẫn thích hợp sự tương ưng giữa tôn giáo và sự nghiệp xã hội, phát huy nhân sĩ và quần chúng trong giới Tôn giáo của một xã hội với nền kinh tế đang trên đà phát triển.

dilac 3.jpg

Ông Nhung Tuyết Hải - Bí thư đảng ủy thành phố Phụng Hóa

Đầu tiên, ông Nhung Tuyết Hải - Bí thư đảng ủy thành phố Phụng Hóa phát biểu, ông nói: Lễ hội văn hóa Di Lặc năm nay, thành phố Phụng Hóa lợi dụng ưu thế đợt triển lãm thế giới, sẽ mở rộng tầm ảnh hưởng, và tổ chức một cách huy hoàng sôi động. Nhờ lễ hội này, thúc đẩy ngành du lịch phát triển, khiến cho danh tiếng thành phố Phụng Hóa ngày thêm khởi sắc, đồng thời xây dựng một phẩm phái của đô thị mới, để góp phần làm nổi bật nền văn hóa Di Lặc và văn hóa địa phương độc đáo nơi Phụng Hóa.

dilac 5.jpg

Ông Tề Hiểu Phi - Phó Cục trưởng Cục Tôn giáo Quốc gia phát biểu cảm tưởng

Trong lời phát biểu của ông Tề Hiểu Phi - Phó Cục trưởng Cục Tôn giáo Quốc gia, có một đoạn nói về quê hương của Hòa thượng Bố Đại - hóa thân của Bồ tát Di Lặc. Ông nói, Phụng Hóa có cội nguồn lịch sử văn hóa Di Lặc rất sâu đậm, đây chính là kho tàng trân quý và là nguồn tài nguyên độc đáo chiếm nhiều ưu thế của TP Phụng Hóa. Mấy năm gần đây, Phụng Hóa rất chú trọng đến việc khai quật, chỉnh hợp nền văn hóa Di Lặc, để xây dựng Đạo tràng Di Lặc Phụng Hóa và kiến tạo Ngũ đại danh sơn Phật giáo. Đồng thời, lợi dụng môi trường văn hóa đặc biệt của Phụng Hóa và nguồn tài nguyên văn hóa Di Lặc, để tích cực khai triển sự giao lưu nền văn hóa Phật giáo đối ngoại, và đã liên tục đạt được nhiều sự tiến triển mới mẻ. Lễ hội văn hóa Di Lặc tổ chức tại Thành phố Phụng Hóa - nơi hoằng pháp và viên tịch của ngài Bố Đại Di Lặc lần này, là quán triệt đầy đủ về sự phát triển khoa học, hoằng dương tinh thần tiến thủ và lý niệm về hạnh từ bi, khoan dung, lạc quan của ngài Di Lặc, để phát huy tích cực nền văn hóa Phật giáo trong một vai trò thực tiễn, xây dựng đất nước xã hội ngày thêm hài hòa và giàu mạnh.

dilac 6.jpg

Vũ nhạc "Ứng Mộng Tuyết Đậu"

Sau phần nghi thức khai mạc là buổi trình diễn văn nghệ đặc sắc, qua lời người dẫn chương trình Trần Dung - một MC nổi tiếng của đài truyền hình Đông Phương, Thượng Hải. Với nhiều tiết mục như hợp ca, hợp tấu, hợp múa vũ điệu "Thiên Thủ Quan Âm" v.v... của anh chị em văn nghệ sĩ nổi tiếng đến từ Đại Lục và Đài Loan. Những lời diễn ngâm ca múa này, cũng như sự kết hợp của âm nhạc Phật giáo truyền thống và hiện đại, họ diễn xuất rất tự nhiên và thành kính. Đồng thời buổi ca ngâm diễn tấu này, thay cho lời chúc tụng tốt đẹp hài hòa yêu thương giữa người và người đến với toàn thể nhân dân Phụng Hóa.

dilac 7.jpg

Pháp hội khai quang tượng Di Lặc bằng ngọc phỉ thúy

Sau cùng, long trọng cử hành “Pháp hội Khai quang, Lạc thành tôn tượng đức Di Lặc bằng ngọc phỉ thúy” lớn nhất thế giới và pháp hội Truyền Đăng.

dilac 8.jpg

Thiên cổ Lôi âm

Vào lúc 23 giờ 59 phút, đồng hồ đã gõ 12 tiếng, khi tiếng cuối cùng vừa dứt thì chư sơn Trưởng lão đã "Khai quang", lúc này đúng 0 giờ ngày 17, tượng Phật Di Lặc bằng ngọc phỉ thúy hiện ra trước mặt mọi người. Trên lễ đài, từng chùm pháo hoa rực rỡ nổ dòn tan tua tủa lên không trung, rồi ngắm nhìn tôn dung ngài Di Lặc với nét mặt tươi cười hoan hỉ, với cái bụng to tướng hàm nghĩa bao dung, sự thân thiết nói không cùng tận ai nấy cũng đều vui mừng. Giờ phút thiêng liêng này như nhắc nhở mọi người nên "Nhẫn một chút thì gió yên sóng lặng, nhượng đôi phần thấy biển rộng trời cao" (Nhẫn nhất thời phong bình lãng tịnh, nhượng tam phân hải khoát thiên không).

dilac 9.jpg

Vương Kiến Mãn - Phó tỉnh trưởng tỉnh Triết Gia

dilac 10 .jpg

Ông Ba Âm Triều Lỗ (dân tộc Mông Cổ) - Bí thư Đảng ủy thành phố Ninh Ba kiêm Ủy viên Thường ủy Đảng ủy tỉnh Chiết Giang tuyên bố khai mạc

dilac 11.jpg

Ông Trương Văn Kiệt - Thị trưởng thành phố Phụng Hóa, chủ trì nghi thức khai mạc

dilac 12.jpg

Hải chúng vân tập

dilac 13.jpg

Tôn tượng Di Lặc bằng ngọc phỉ thúy

dilac 14.jpg

Hợp ca "Hòa thượng Bố Đại - Nụ cười vĩnh hằng"

Tượng Phật Di Lặc bằng ngọc phỉ thúy lớn nhất toàn cầu này, hiện tọa lạc tại chùa Tuyết Đậu như góp phần vẽ lên nền văn hóa Di Lặc núi Tuyết Đậu (Tp Phụng Hóa) TQ, một nét bút mới với màu sắc tươi đậm. Trong những âm thanh của lời khen ngợi, và từng tràng vỗ tay kéo dài không dứt, như nói lên sự thành tựu rực rỡ của nền văn hóa Phật giáo Phụng Hóa.

Chiều 17, Pháp hội cầu phước Truyền Đăng tiếp tục được long trọng cử hành tại chùa Nhạc Lâm - thành phố Phụng Hóa, tỉnh Chiết Giang.

dilac 15.jpg\

dilac 16.jpg

dilac 17.jpg

dilac 19.jpg

 

dilac 20.jpg

dilac 21.jpg

 

dilac 22.jpg

 

dilac 23.jpg

Thanh Như dịch theo thông tin Phật giáo Trung Quốc

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thanh Như) frontpage Thu, 22 Jul 2010 12:49:16 +0000
VAI TRÒ CHIẾN LƯỢC CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỚI ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI TRONG THỜI HỘI NHẬP http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6376-vai-tro-chien-luoc-cua-gia-dinh-phat-tu-voi-dao-duc-xa-hoi-trong-thoi-hoi-nhap.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6376-vai-tro-chien-luoc-cua-gia-dinh-phat-tu-voi-dao-duc-xa-hoi-trong-thoi-hoi-nhap.html

Trong niềm hỉ lạc vô biên của cuộc Hội thảo hôm nay, chúng con xin kính lễ chư Tôn đức tăng ni và nhiệt liệt chào mừng quý vị quan khách cùng toàn thể đại biểu hiện diện trong hội trường này, thành tâm kính chúc chư tôn đức và liệt quý vị thân tâm an lạc, sức khỏe dồi dào, để cùng thực hiện tốt công tác Phật sự lợi đạo ích đời.

Như chúng ta đã biết, mục đích của tổ chức Gia đình Phật tử (GĐPT) được nói tại điều 2 Nội quy GĐPT là nhằm :

- Đào luyện Thanh - Thiếu - Đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính.

- Góp phần phụng sự Đạo pháp và xây dựng xã hội.

Tham luận này được trình bày qua 3 mục chính:

1. Quá trình hình thành và hoạt động của tổ chức GĐPT :

Tổ chức GÐPT ra đời năm 1951 ở Huế, do Hội Phật học An Nam chủ trương trên cơ sở thống nhất hai tổ chức đã có từ trước: "Gia đình Phật hóa phổ" và "Đoàn Phật học Đức dục". Sự xuất hiện của GÐPT trong thời kỳ này có hai nguyên nhân chính: do nhu cầu phát triển Phật giáo, củng cố tinh thần dân tộc trong cuộc vận động chấn hưng Phật giáo cả nước và do tác động mạnh mẽ của các phong trào Thanh niên có tinh thần yêu nước. Ðối tượng chính của GÐPT là thanh, thiếu niên. Từ ngày được thành lập, GĐPT luôn luôn sinh hoạt trong khuôn khổ pháp lý của một tổ chức Giáo hội hợp pháp, như Hội An Nam Phật học, Hội Phật học Nam Việt, Tổng hội Phật giáo Việt Nam, GHPGVN Thống nhất. Ngày nay GĐPT sinh hoạt trong khuôn khổ pháp lý của GHPGVN. Sự tồn tại và phát triển của GÐPT có thể chia làm 4 giai đoạn chính :

Từ 1947 - 1954 : GÐPT chủ yếu củng cố và phát triển tổ chức ở Huế và các tỉnh miền Trung. Đặc biệt từ 1951 Hội nghị thống nhất Phật giáo thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, hoạt động của GÐPT phát triển lan rộng ra nhiều địa phương kể cả phía Bắc và phía Nam.

Từ 1954 - 1963 : Do chính sách gia đình trị họ Ngô kỳ thị, đàn áp Phật giáo đã làm cho tổ chức GÐPT đã trở thành nơi hội tụ của đông đảo thanh thiếu niên Phật tử yêu nước tham gia đấu tranh bảo vệ đạo pháp và dân tộc.

Từ 1963 - 1975 : Hoạt động của GÐPT phát triển mạnh và trở thành chủ lực trong phong trào đấu tranh của Phật giáo. Ðặc biệt sau năm 1964 GHPGVNTN ra đời, hệ thống tổ chức GÐPT được kiện toàn chặt chẽ. Ở Trung ương, GĐPT trực thuộc Tổng vụ Thanh niên của Viện Hóa Ðạo; ở cơ sở, GÐPT gắn với chùa, khuôn hội do các huynh trưởng tổ chức điều hành.

Từ 1975 - đến nay : Sau giải phóng miền Nam, GÐPT vẫn duy trì tổ chức. Năm 1981 Ðại hội thống nhất Phật giáo toàn quốc tại Hà Nội thành lập GHPGVN, và nhất là sau Ðại hội Ðảng lần thứ VI với chính sách đổi mới của Ðảng và Nhà nước, các hoạt động của GÐPT cũng từng bước phát triển về chất lượng lẫn số lượng. Từ đầu năm 1990, tại Thừa Thiên - Huế đã có chùa, tự viện có sinh hoạt GĐPT với hơn 10.000 người tham gia trong đó có 1036 huynh trưởng; ở Quảng Nam - Ðà Nẵng có hơn 4.000 người, ở các tỉnh khác có nơi có từ 1.000 - 2.000 người.

Trước tình hình trên, tại Ðại hội Phật giáo toàn quốc kỳ III (1992), Hiến chương Giáo hội  được tu chỉnh đã đưa hoạt động GĐPT trực thuộc Ban hướng dẫn nam nữ Phật tử trung ương GHPGVN. Ban Tôn giáo Chính phủ đã có Thông tư số 01/TT/TGCP ngày 3-5-1995 về việc "Sinh hoạt của GĐPT" của GHPGVN. Về phía Giáo hội, có Thông bạch Thông bạch số 455/TB/HÐTS ngày 21-7-1995, Nghị quyết số 473/NQ/HÐTS ngày 20-8-1995 của Hội đồng Trị sự trung ương quy định về chủ trương của Giáo hội đối với việc quản lý sinh hoạt GĐPT. Từ đó đến nay, GĐPT không ngừng được củng cố và phát triển, Phân ban GĐPT TƯ  và các Tỉnh, Thành đã tổ chức thành công các khóa huấn luyện trại Huyền trang, A dục ... và thực hiện được nhiều các Phật sự liên quan đến nghi lễ, từ thiện, văn hóa văn nghệ của Giáo hội.

Trong GÐPT, lực lượng nòng cốt là thanh, thiếu niên với thành phần huynh trưởng lãnh đạo là cư sĩ trí thức Phật giáo có uy tín và vai trò quan trọng đối với tín đồ phật tử và giáo hội, cho nên tổ chức GÐPT đã đào tạo ra được không ít những cư sĩ sẵn sàng dấn thân vì đạo vì đời, và cũng đã có nhiều vị cao tăng của Phật giáo Việt nam hiện nay xuất thân từ GĐPT.

2. Thực trạng đạo đức xã hội hiện nay :

Đạo đức xã hội là một hình thái ý thức bao gồm những chuẩn mực định hướng và điều chỉnh hành vi của con người, có tác dụng và giá trị được xã hội thừa nhận. Đạo đức có chức năng giáo dục, là nền tảng không thể thiếu được của một hệ ý thức. Với chức năng và giá trị ấy, đạo đức không chỉ là cái gốc của mỗi con người, mà cùng với pháp luật, nó còn là nền tảng quan trọng để xây dựng trật tự xã hội.

Bàn về thực tiễn đạo đức xã hội trong thời kỳ hội nhập hiện nay, các báo cáo của một số cơ quan ban ngành đã chỉ ra những biểu hiện tha hoá, xuống cấp của đạo đức xã hội trong bối cảnh phát triển kinh tế trị trường và hội nhập; những biểu hiện đó ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển xã hội trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị cử tri của Ủy ban Trung ương MTTQVN được trình bày trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa 12 vào ngày 20.5, cho thấy cử tri bày tỏ sự lo lắng trước tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, coi thường tính mạng người khác và chính bản thân mình của một bộ phận giới trẻ; tình trạng học sinh vi phạm pháp luật, sử dụng thuốc lắc, ma túy, xem và lưu giữ phim ảnh đồi trụy, hành xử theo kiểu giang hồ, xã hội đen... có xu hướng gia tăng, nhất là ở các thành phố lớn. Cộng vào đó là tình trạng bạo lực gia đình, nạn bạo hành đối với trẻ em, bạo lực học đường cùng với thái độ thờ ơ của nhiều người... đang là nỗi lo của xã hội.

Trong kỳ họp Quốc hội nói trên, khi thảo luận về chủ đề "Đạo đức xã hội xuống cấp và giải pháp khắc phục" vào ngày 8/6/2010, nhiều Đại biểu nhận định đã tới lúc không thể chậm trễ, cần gióng lên tiếng chuông cảnh báo toàn xã hội về tình trạng xuống cấp nghiêm trọng đã trở nên phổ biến về đạo đức con người Việt nam hôm nay. Điều này không có gì khó thấy. Chỉ cần lướt qua các tiêu đề trên báo chí hàng ngày cũng có thể thấy được, như là "Đạo đức kinh doanh xuống cấp", "Đạo đức học đường xuống cấp", "Đạo đức trong ngành y tế xuống cấp", "Đạo đức xã hội xuống cấp", v.v.. Tóm lại, đạo đức của toàn xã hội đã bị báo động là suy thoái trầm trọng.

Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng xuống cấp của đạo đức xã hội mà các nhà xã hội học đã phân tích đánh giá với nhiều nguyên nhân chủ quan khách quan khác nhau như: Đánh mất truyền thống của đạo đức vốn có, không coi trọng các giá trị văn hóa ứng xử, xã hội bị cuốn theo lối sống hưởng thụ thực dụng, coi trọng giá trị đồng tiền trên mức cần thiết và không có phương pháp giáo dục đạo đức hợp lý, cả trong môi trường gia đình và học đường. Trong đó có một nguyên nhân cốt lõi là không thấy hết vai trò quan trọng của Tôn giáo nói chung, đặc biệt ở Việt Nam chúng ta là Phật giáo với tinh thần từ bi, bình đẳng, vô ngã, vị tha; với triết lý nhận quả, nghiệp báo, luân hồi trong việc giáo dục đạo đức con người mà hàng ngàn năm nay nó vẫn bền bỉ, thủy chung đồng hành tồn tại với dân tộc. Nó là yếu tố vô hình nhưng mang tính quyết định để xây dựng một nền tảng đạo đức cho bất kỳ chế độ xã hội nào. Thực tế cho thấy, quan niệm đạo đức của Phật giáo, một tôn giáo đã du nhập, phát triển và trưởng thành cùng dân tộc gần 2.000 năm lịch sử, đã truyền dạy những chuẩn mực đạo đức mang tính nhân bản, như hiếu thảo với cha mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thiện, tránh xa điều ác...

3. Vai trò chiến lược của GĐPT với việc bảo tồn đạo đức xã hội:

Qua mục đích thiết thực và thành quả tốt đẹp của tổ chức GĐPT đạt được, cũng như qua tình trạng xuống cấp của đạo đức xã hội nêu trên, việc xây dựng và phát triển tổ chức GĐPT có thể xem là giải pháp có tính chiến lược của GHPGVN trong việc góp phần bảo tồn và củng cố truyền thống đạo đức dân tộc đang có hiện tượng suy thoái hiện nay. Hiện nay, trên tinh thần đổi mới nhận thức về tôn giáo, Đảng và nhà nước đã nhìn nhận tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, trong tôn giáo có những giá trị tốt đẹp về đạo đức, văn hóa. Đây chính là cơ hội tốt để Phật giáo chúng ta thực hiện một giải pháp hữu hiệu mang tính bền vững lâu dài trong việc xây dựng và phát triển những tiêu chuẩn đạo đức vốn có của GĐPT, như mục đích của nó đã đề ra, để góp phần ngăn chặn và đẩy lùi sự tuột dốc của đạo đức xã hội hiện tại.

Về nhận thức, điều cần thiết là chư tôn giáo phẩm lãnh đạo Ban trị sự các tỉnh, thành hội và chư tôn đức tăng ni trụ trì các tự viện cơ sở cần thấy rõ tổ chức GÐPT là một sinh hoạt phản ánh nhu cầu và nguyện vọng chính đáng trong quá trình tìm cầu tri thức giáo lý cũng như đạo đức Phật giáo trong một bộ phận Phật tử. Hoạt động của GÐPT chủ yếu là giảng dạy giáo lý, thực hành nghi thức tụng niệm và giáo dục đạo đức hướng thiện. Ðây là vấn đề có sức thu hút vượt trội đối với thanh, thiếu niên trong điều kiện giá trị đạo đức bị suy thoái, các tệ nạn tiêu cực tác động ngày càng nhiều lên xã hội. Từ nhận thức ấy, chư Tôn đức sẽ hoan hỉ hợp tác cùng với Ban HDPT, trực tiếp là Phân ban GĐPT, tạo thuận duyên cho thanh, thiếu niên phật tử được sinh hoạt GÐPT với nội dung đạo đức đầy Phật chất và một phần vui chơi hướng thiện ở các cơ sở tự viện thuộc  GHPGVN. Ðây là nguyện vọng chính đáng của thanh, thiếu niên Phật tử khi đến với mục tiêu trong sáng và lợi ích của GĐPT.

Về phía Phân ban GĐPT cần phải đào tạo, bố trí các huynh trưởng thật sự có tác phong và năng lực để trực tiếp hướng dẫn và quản lý sinh hoạt GÐPT nhằm đảm bảo sinh hoạt tu học giáo lý đạo đức và các vui chơi lành mạnh cho thanh, thiếu niên phật tử. Ngoài các nội dung giáo lý, đạo đức Phật giáo, kỹ năng thường thức, vui chơi theo qui định trong nội qui GĐPT, các huynh trưởng còn cần phải hướng dẫn các em tham gia các hoạt động hướng thiện như từ thiện xã hội nhắm tới mục tiêu ích đạo lợi đời.

Trong Phân ban CSPT hiện nay có Tiểu ban Thanh thiếu nhi Phật tử, đây một sáng kiến mới trong việc hướng dẫn Phật tử trẻ đến với đạo Phật trong bước đầu học Phật. Nhưng dù sao GĐPT vẫn là một hệ thống giáo dục thanh thiếu nhi Phật giáo có tính bền vững và thiết thực mà lịch sử tồn tại gần 70 năm của tổ chức này đã minh chứng./.

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

TT. Thích Thiện Toàn

Phó Ban Hướng dẫn Phật tử TW

http://www.giaohoiphatgiaovietnam.vn/in

 image


]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Thiện Toàn) frontpage Thu, 22 Jul 2010 12:44:34 +0000
VAI TRÒ CỦA PHẬT TỬ TRONG THỜI HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6375-vai-tro-cua-phat-tu-trong-thoi-hoi-nhap-va-phat-trien-cua-dat-nuoc.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6375-vai-tro-cua-phat-tu-trong-thoi-hoi-nhap-va-phat-trien-cua-dat-nuoc.html

Trong giai đoạn đất nước Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển, con người chịu nhiều tác động, điều kiện sinh sống không phải lúc nào cũng may mắn và thuận lợi, đôi lúc cũng phải đối mặt với thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, ốm đau….Đúng như lời đức Phật dạy : “Có thân là có khổ” cũng vì muốn chúng sanh thoát khổ nên Thái tử Sĩ Đạt Ta đã xả bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, uy quyền danh vọng, mà đi tìm con đường giải thoát khổ đau.

Đức Thế Tôn đã vắng bóng hơn 25 thế kỷ qua nhưng nhân cách thánh thiện của Ngài vẫn được mọi người tín ngưỡng tôn thờ, lời dạy của Ngài là kim chỉ nam hướng dẫn loài người thăng hoa tri thức và đạo đức.

Trong thời đại văn minh phát triển hôm nay, giáo lý của Ngài vẫn sáng rực hơn vì mở cho con người một phương pháp giải thoát sự khổ đau, khai thông được những vướng mắc trong cuộc sống thực tại, vì vậy con đường “hoằng pháp lợi sinh” là vấn đề vô cùng quan trọng, giúp chúng ta rút ra được những kinh nghiệm trong việc tổ chức và phát triển các đạo tràng Bát quan trai, đạo tràng niệm Phật cho Phật tử tu tập và cùng tiến bộ phát triển hơn.

Do vậy, đối với người tu sĩ sống trong giai đoạn phát triển như ngày hôm nay là công nghệ thông tin, khoa học kinh tế phát triển…đã cuốn hút lòng người con Phật có tâm hạnh Bồ tát không thể ngồi yên sớm chiều công phu trong chốn thiền môn là đủ, mà phải dấn thân vào đời sống xã hội với tinh thần nhập thế, đem giáo lý của Đức Phật vào đời sống, con người bớt đi những nỗi bất hạnh khổ đau. Đạo Phật càng ngày được phát triển, đời sống con người được hạnh phúc an vui hơn.

Muốn được như thế, Giáo hội phải đào tạo thêm những người con Phật có tâm hạnh vào đời, biết hoà nhập, đem ánh sáng giác ngộ đến với mọi người, nhằm giải quyết những bức xúc thường nhật. Cho nên, chúng ta là người hướng dẫn Phật tử tu tập phải chia sẻ cùng họ những gì thực tế với giáo lý bình dị, đời thường hoá, không nên hướng dẫn những gì cao siêu khó hiểu, mà chỉ hướng dẫn phương pháp giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau, có được an lạc thực tại trong đời sống.

Để thực hiện l‎ý tưởng trên, trong các buổi thuyết giảng các đạo tràng Bát quan trai, đạo tràng Niệm Phật, các khoá tu Phật thất, chúng ta có thể đưa “đạo vào đời” bằng những kinh nghiệm giúp họ tăng trưởng niềm tin nơi Tam bảo, nghị lực vững vàng làm hành trang trên bước đường tu tập giải thoát khổ đau.

Nguyện vọng của Ban HDPT là muốn đem Phật pháp quảng bá đi khắp mọi nơi, kể cả vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số…để cho mọi người được bình đẳng tắm mát trong dòng suối yêu thương của chư Phật, hầu gội rửa bao phiền não ưu tư, tham lam, sân hận, khổ đau, để các đạo tràng Bát quan trai, đạo tràng Niệm Phật, đạo tràng Phật thất được ngày phát triển.

Giáo hội cũng cần đào tạo “Hướng dẫn viên” cho những cư sĩ, Phật tử có tâm huyết, có nhiệt tình với công tác Hướng dẫn Phật tử. Nếu những Phật tử “Hướng dẫn viên” này sống trong cộng đồng dân cư sẽ thuận tiện cho việc hướng dẫn khuyên nhắc người dân đi đúng đường chánh pháp, không bị sai lệt vào con đường truỵ lạc xấu xa, nhằm phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời Giáo hội nên mở các khoá bồi dưỡng Phật pháp cho cư sĩ nam nữ Phật tử nhằm giúp họ có điều kiện nâng cao khả năng chuyên môn, sau này giúp cho các đạo tràng niệm Phật, bát quan trai, ngày càng phát triển hơn.

Với công tác đem “đạo vào đời” làm thay đổi lối sống thiếu lành mạnh, trở thành nếp sống thanh cao, đạo đức, giàu lòng nhân ái, tôn trọng sự sống, ‎ý thức cao với cộng đồng xã hội, hướng đến một xã hội tiến bộ văn minh và giàu đẹp. Tất cả cần những bàn tay và tấm lòng của người hướng dẫn góp sức.

Tuổi trẻ ngày nay hư hỏng, thiếu phẩm chất đạo đức là một vấn nạn cho tương lai và đất nước. Hành vi bạo ngược, ăn chơi sa đoạ, hút chích, uống rượu, cướp của giết người, tình trạng nếp sống thiếu lành mạnh, văn hoá đạo đức của bộ phận thanh thiếu niên trên đà xuống cấp.

Là những người hướng dẫn Phật tử, chúng ta cần gần gũi tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, cách sinh hoạt của thanh thiếu niên hiện nay, chúng ta khéo léo lồng ghép đưa nếp sống văn hoá của Phật giáo vào đời sống thanh thiếu niên. Nên áp dụng nhiều phương pháp tu học, như sinh hoạt nêu gương người tốt việc tốt, nêu rõ lý nhân quả, tổ chức gia đình phật tử, các khoá tu tập của thanh thiếu niên, có khen thưởng cho những việc làm đạt kết quả tốt.

Khi thuyết giảng các đạo tràng vùng sâu vùng xa, người hướng dẫn phải khéo léo đưa Phật pháp vào cuộc sống, phải khê lý, khế cơ, khế thời, khế xứ, diễn đạt thế nào cho phù hợp với thực tế, dễ hiểu mà không xa rời giáo ly của Đức Phật. Nơi vùng sâu vùng xa đa phần là người lớn tuổi, họ không thể hiểu được giáo lý cao siêu, chúng ta cần kể những câu chuyện cổ Phật giáo, giáo lý vô thường,vô ngã, khổ không giúp họ tiếp thu nhanh chóng áp dụng vào đời sống thực tế hơn.

Để Phật tử được mở rộng kiên thức thắm nhuần giáo l‎ý đạo Phật, khi hoằng pháp nên kết hợp phát băng đĩa thuyết giảng, kinh sách đạo Phật, những bài giảng hay họ tự nghe, tự học để lời Phật dạy được thâm nhập vào tâm tư của họ.

Đức Phật dạy: “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật” lời dạy này tương hợp với truyền thống tương thân tương trợ của dân tộc Việt Nam.

Vì vậy, muốn hoằng pháp có hiệu quả, Phật tử tham dự đông đảo, phải kết hợp với từ thiện. Bởi vì “có thực mới vực được đạo”mỗi người Phật tử có hoàn cảnh khó khăn khác nhau, tuỳ theo khả năng mà chúng ta có thể giúp đỡ cho họ, chia sẻ và trợ giúp cho họ có một cuộc sống tốt đẹp cả vật chất lẫn tinh thần, như trợ giúp gạo, tiền, quần áo, thuốc men, đào giếng, xây hồ nước uống, giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học…. Nếu không đủ khả năng ta có thể động viên những mạnh thường quân, những nhà hảo tâm giúp đỡ. Đây cũng là công việc dễ tiếp xúc, tạo thiện cảm với quần chúng xã hội thể hiện lòng từ bi, sự quan tâm chia sẻ, nỗi khổ niềm đau đến những mảnh đời bất hạnh trong xã hội. Sau đó ta có thể đem chánh pháp cải thiện đời sống được thập phần an lạc.

Tóm lại, qua những kinh nghiệm thực tiễn của người hướng dẫn Phật tử giúp cho các đạo tràng Bát quan trai, đạo tràng Niệm Phật, đạo tràng Phật thất…chúng tôi nhận chân được nguyên nhân khổ và phương pháp diệt khổ, lấy cuộc sống đau khổ làm trường rèn luyện ‎y chí, lấy nhân loại khổ đau làm đối tượng để hành đạo. Hiện nay mỗi địa phương đều có mở các đạo tràng Niệm Phật, Bát quan trai, khoá tu Phật thất…nơi đó sẽ tạo ra luồng sinh khí vui tươi, lành mạnh, giảm bớt khổ đau và tệ nạn xã hội, bổ ích cho mọi người nhất là thanh thiếu niên. Ban Hướng dẫn Phật tử phải luôn kết hợp với ban Hoằng pháp và Từ thiện xã hội để đem đạo vào đời, góp phần xây dựng đời sống an lạc, giải thoát cho nhân sinh./.

 

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

Ni sư Thích Nữ Tuệ Minh

Ban hướng dẫn Phật tử tỉnh Tiền Giang

http://www.giaohoiphatgiaovietnam.vn/

 image


]]>
tcanhco@yahoo.com (Thích Nữ Tuệ Minh) frontpage Thu, 22 Jul 2010 12:42:53 +0000
Gia đình Phật tử Nam bộ quá khứ, hiện tại và tương lai hội nhập http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6374-gia-dinh-phat-tu-nam-bo-qua-khu-hien-tai-va-tuong-lai-hoi-nhap.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6374-gia-dinh-phat-tu-nam-bo-qua-khu-hien-tai-va-tuong-lai-hoi-nhap.html PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH PHẬT TỬ THỜI HỘI NHẬP

GIA ĐÌNH PHẬT TỬ NAM BỘ QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI

VÀ TƯƠNG LAI HỘI NHẬP

Tháng 5 năm 1951 cố cư sĩ Pháp Huệ Nguyễn Hữu Huỳnh Phó thư ký Hội Phật học Nam Việt theo phái đoàn miền Nam về Huế dự Đại Hội Phật giáo Bắc Trung Nam và ở lại học trại huấn luyện “ Kim Cang”, một trại cấp cao tổ chức suốt 15 ngày đêm, đào tạo được 33 huynh trưởng (nam nữ) cơ bản cho tổ chức Gia đình Phật tử (GĐPT) sau nầy.

Về Sài Gòn huynh trưởng Pháp Huệ thành lập GĐPT đầu tiên là Gia đình (GĐ) Chánh Tâm và được Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, phó Hội trưởng Hội Phật học Nam Việt làm Gia trưởng, anh Pháp Huệ làm liên đoàn trưởng. Năm 1952 Hội Phật học Nam Việt dời văn phòng về chùa Phước Hòa đường Bàn Cờ, tại đây GĐ Chánh Tâm đổi tên thành Chánh Tín và do cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm Gia Trưởng.

Năm 1954 thành lập Ban Hướng dẫn (BHD) GĐPT Nam Việt và cư sĩ Tống Hồ Cầm được chỉ định làm Trưởng ban Hướng dẫn, cũng trong năm này BHDGĐPT đã về Cần Thơ làm lễ công nhận chính thức 2 GĐPT đầu tiên của thành phố Cần Thơ là GĐ Chánh Đăng và GĐ Chánh Tâm.

Từ một GĐ đầu tiên mang tên Chánh Tâm rồi như sen mùa hạ, GĐPT nở rộ khắp các tỉnh thành miền Đông và miền Tây Nam bộ, GĐ nào cũng lấy chữ “ Chánh” làm đầu.

Tại Sài Gòn Gia Định có các GĐ : Chánh Thọ ( ở chùa Vạn Thọ ), Chánh Đạt ( chùa Từ Nghiêm ), Chánh Giác ( chùa Sùng Đức ) và các GĐ khác như Chánh Minh, Chánh Nguyên, Chánh Đạo; ở Thủ Thiêm có GĐ Chánh An; ở Bình Dương có GĐ Chánh Quang; ở Biên Hòa có GĐ Chánh Thiện; ở Vũng Tàu có GĐ Chánh Kiến và Chánh Pháp; ở Long Xuyên có GĐ Chánh Dũng; ở Trà Ôn có GĐ Chánh Huệ; ở Trà Vinh, Cầu Kè có GĐ Chánh Tiến, Chánh Hòa; ở Sa Đéc có GĐ Chánh Đức; ở Vĩnh Long có GĐ Chánh Trí; ở Sóc Trăng có GĐ Chánh Tín; ở Bạc Liêu có các GĐ Chánh Thiện, Chánh Quang và Chánh Từ; ở huyện đảo Phú Quốc thì có GĐ Chánh Đức.

Về sau tại Sài Gòn Gia Định có một số GĐ lấy thêm chữ “Giác” như : Giác Tín, Giác Dũng, Giác Thanh, Giác Quang, Giác Long, Giác Tâm, Giác Hoa, Giác Huệ, Giác Hoàng, Giác Đạt, Giác Đức; ở Biên Hòa thì có GĐ Giác Lâm, Giác Viên; ở Lộc Ninh thì có GĐ Giác Tâm …v.v…

Mục đích của GĐPT ngoài sự giáo dục Thanh, Thiếu, Đồng niên con em tín đồ Phật giáo thành Phật tử chân chính và thành người công dân tốt của xã hội, GĐPT còn là điểm khởi đầu, là cánh cửa vào Đạo gần nhất, từ đó nhiều đoàn sinh khi lớn lên, người thì xuất gia và trở thành rường cột của Giáo hội, kẻ tại gia thì trở thành hội viên lãnh đạo các đạo tràng, khuôn hội, Niệm Phật đường, có người trở thành cư sĩ xuất sắc phục vụ đắc lực cho Giáo hội hay ít ra cũng là chủ nhân của đa số gia đình có nếp sống đạo đức, văn hóa, tiến bộ trong cộng đồng xã hội Việt Nam.

Trong công cuộc bảo vệ Đạo Pháp (1963 – 1966), GĐPT đã đổ không ít máu, nước mắt và cả thân mạng phải hy sinh, trên hàng Thánh Tử Đạo có đến 14 vị đủ cả ba thành phần: Gia trưởng, Huynh trưởng và Đoàn sinh GĐPT; rất nhiều Huynh trưởng bị bắt bớ giam cầm đánh đập đến chết hoặc mang thương tật suốt đời vì lựu đạn axít; những người làm việc có lương thì bị cách chức, tù đày, sa thải… Tất cả đã nói lên lòng trung kiên bảo vệ Đạo pháp, Dân tộc của hàng ngũ áo lam sen trắng.

Sau năm 1975, trong tình hình khó khăn chung của đất nước nhưng GĐPT vẫn sinh hoạt, dưới sự bao bọc chở che của chư Tăng Ni trú trì và khi thuận duyên đến thì GĐPT lại tiếp tục phát triển.

Sau Đại Hội 4 Ban hướng dẫn Phật tử Trung Ương và các tỉnh thành được thành lập, trong đó có 2 Phân ban: Phân ban GĐPT, Phân ban Cư sĩ Phật tử. Các Ban Hướng dẫn Phật tử hoạt động tích cực, gần cả ngàn đơn vị tái sinh hoạt trong pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, điển hình là 8 tỉnh thành miền Nam Trung Bộ và 5 tỉnh Tây Nguyên, có tỉnh như Thừa Thiên Huế đã quy tụ trên 200 đơn vị GĐPT với 2 ngàn Huynh trưởng và 17 ngàn đoàn sinh. Tại Nam bộ, đã có 12 tỉnh thành có GĐPT sinh hoạt như Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP.Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và một số tỉnh khác đang chuẩn bị tái sinh hoạt. Tại phía Bắc vừa tổ chức xong một “Trại họp bạn GĐPT các tỉnh thành phía Bắc” tại huyện Tam Đảo, ngoài Thủ đô Hà Nội còn có các GĐPT ở Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên và một số tỉnh thành khác tham dự.

Ngày nay xã hội thì ngày càng phát triển, càng mở cửa ra với thế giới bên ngoài, tuổi trẻ thanh thiếu niên càng ngày càng tiếp thu nhiều cái mới lạ, nhiều bản sắc văn hóa khác biệt, trong đó có cả nền văn hóa đối nghịch làm suy thoái nền văn hóa Việt Nam, văn hóa Phật giáo.

Trong bối cảnh hội nhập hiện đại, GĐPT rất cần được sự chỉ đạo và hỗ trợ nhiều hơn nữa của Giáo hội từ Trung Ương đến các Ban Trị sự tỉnh thành.

Trong phạm vi hạn hẹp của một bài tham luận, chúng con chỉ xin nêu lên những ý kiến chân thành nhỏ bé của mình với mong ước được lắng nghe, thấu hiểu và chấp thuận cho GĐPT được phát huy, hội nhập để làm tròn sứ mệnh mà Giáo hội đã tin yêu giao phó suốt 70 năm gắn bó thăng trầm cùng Giáo hội./.

 

 

(Trích tham luận Hội thảo Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

Huynh trưởng cấp Dũng

Thiện Điều. Nguyễn Thắng Nhu

Trưởng Phân ban Gia đình Phật tử TW

http://www.giaohoiphatgiaovietnam.vn

 image

]]>
tcanhco@yahoo.com (Thiện Điều. Nguyễn Thắng Nhu) frontpage Thu, 22 Jul 2010 12:41:18 +0000
ĐỐI TƯỢNG “TIỀN PHẬT TỬ” PHẢI LÀ PHẬT TỬ CHÍNH THỐNG http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6373-doi-tuong-tien-phat-tu-phai-la-phat-tu-chinh-thong.html http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/6373-doi-tuong-tien-phat-tu-phai-la-phat-tu-chinh-thong.html

Phật giáo du nhập vào Việt Nam gần 2.000 năm lịch sử và đã trở thành tôn giáo của dân tộc, với mối liên hệ bất khả phân ly đã đồng cam cộng khổ, suốt chiều dài lịch sử thịnh suy của dân tộc. Tiếp nối truyền thống đó, chư Tôn Thiền đức Tăng Ni và Phật tử phấn đấu phát huy nội lực, phụng sự Tổ quốc trên tiêu chí “hộ quốc dân an”:

“Như bông hoa tươi đẹp

Có sắc lại thêm hương

Lời hay cũng như thế.

Do làm có kết quả”

(Kinh Pháp Cú)

Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương đã tổ chức hội thảo Hướng dẫn Phật tử miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Với mười chủ đề tham luận trong hội thảo, sẽ là một cách nhìn tổng quát, sâu sắc. Từ đó có một kế hoạch hoạt động hữu hiệu hơn trong những năm kế tiếp của Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương nói riêng và GHPGVN nói chung.

Là thành viên trong cấu trúc tứ chúng đồng tu, chúng tôi nhận thấy vai trò, bổn phận của người Phật tử trong thời kỳ mới rất quan trọng. Người cư sĩ Phật tử phải là cánh tay đắc lực của Tăng già, góp phần làm tăng số lượng tín đồ Phật giáo khắp mọi vùng miền của tổ quốc. Vì thế trong bài tham luận này với tất cả tâm thành, con xin trình bày quan điểm của mình về việc phát triển tín đồ Phật giáo Việt Nam với tiêu đề: Đối tượng “tiền Phật tử” phải là Phật tử chính thống.

1- NHỮNG CON SỐ:

Theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ năm 2005, Phật giáo có gần 10 triệu tín đồ. Nhưng theo thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo có gần 45 triệu tín đồ đã quy y Tam bảo. Như vậy, so với dân số Việt Nam là gần 86 triệu (2009) tín đồ Phật giáo chiếm 52,3% dân số Việt Nam. So với các tôn giáo khác trên nước Việt Nam, tín đồ Phật giáo có phần khá hơn. Tuy nhiên với chiều dài lịch sử gần 2000 năm có mặt, Phật giáo đã hòa quyện trong nền văn hóa dân tộc và đã trở thành mạch sống của dân tộc, được thể hiện qua câu thơ:

“Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tiên”

Với chiều dài lịch sử như thế, có lẽ chúng ta chưa cam lòng với con số tín đồ đang có. Thực ra Phật giáo không đặt nặng con số tín đồ như các tôn giáo khác. Nhưng mục đích của Phật giáo là độ tận chúng sanh. Bởi mục tiêu xuất hiện của Đức Phật trên cuộc đời là: “Ta ra đời vì hạnh phúc cho số đông, vì an lạc cho số đông…”.

Nhìn vào con số 86 triệu dân Việt Nam, trong đó tín đồ Phật giáo chiếm 52,3%, còn lại là tín đồ của Thiên Chúa giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa Hảo, Hồi giáo,... và một số là không tôn giáo. Bên cạnh đó còn có sự tăng dân số hàng năm. Số công dân này có số là con Phật tử, con tín đồ các tôn giáo khác và con của số người không tôn giáo. Theo số liệu của Ban Dân số Việt Nam, chiến lược dân số 2001-2010 được Chính phủ phê duyệt Quyết định 147/2000 QĐ-TTg ngày 22/12/2000. Qua 5 năm thực hiện (2001-2005) dân số Việt Nam tăng như sau:

- Năm 2.000 là 77,6 triệu dân.

- Năm 2005 là 83,12 triệu dân.

Bình quân mỗi năm tăng 1,1 triệu người. Đây là số công dân lý tưởng, người chủ nhân tương lai của Việt Nam. Trong số này có Đối tượng “tiền Phật tử” mà tham luận xin được nêu ra.

2- “TIỀN PHẬT TỬ”:

Y học cho biết trên phần da của con người có một loại Vitamin có tên là tiền Vitamin D. Chỉ cần có ánh sáng mặt trời chiếu vào thì tiền Vitamin D sẽ thành Vitamin D có lợi cho cơ thể con người. Nếu ánh sáng mặt trời không chiếu vào, tiền Vitamin D mãi mãi là tiền Vitamin D và dần hư mất.

Số người thuộc diện không tôn giáo, số dân tăng hàng năm thuộc diện con Phật tử, con của số người không tôn giáo. Tham luận này gọi là “tiền Phật tử”. Bởi họ có chất liệu để trở thành Phật tử. Nếu có một tác động tích cực, Phật giáo gọi là duyên, thì số “tiền Phật tử” này sẽ trở thành Phật tử chính thống. Ngược lại, số “Tiền Phật tử” này sẽ mãi mãi là “Tiền Phật tử” hoặc theo một tôn giáo khác. Số “Tiền Phật tử” này rất lớn, nếu để mất đi thật là đáng tiếc.

3- NHỮNG HẠN CHẾ:

Câu “con Vua thì được làm Vua” có phần đúng nhưng con Phật tử chưa hẳn là Phật tử, đã có xảy ra trên cuộc đời này. Phải chăng ta đã tưới tẩm quá ít niềm tin, niềm tôn kính Tam Bảo ở các em. Có lẽ ta chỉ nuôi các em bằng những loại sữa đắc tiền mà thiếu đi sữa “Phật pháp”. Vì thế các em được lớn lên khỏe mạnh, được tung tăng trong vùng trời tri thức của học đường, được thừa hưởng những thành quả tiến bộ của khoa học. Các em đã có tất cả, duy các em chỉ thiếu một thứ, một thứ rất cần cho các em trên cuộc đời này và chuyến đi dài trên con đường sinh tử. Đó là đức tin kiên định vững chải nơi Tam Bảo. Thế nên khi đến tuổi hôn nhân, các em sẵn sàng theo lý tưởng tôn giáo của người mình yêu. Đây là một sự thật, một sự thật đau cả lòng, nhói cả tim, khi mà chúng con biết được các con em của Phật tử, đã trở thành tín đồ ngoan đạo của tôn giáo khác.

Thêm vào đó, khi nhìn vào thực trạng các đạo tràng tu học, những ngày sám hối, lễ lớn… đa phần chỉ thấy phụ nữ, người lớn tuổi. Nam giới, thanh thiếu nhi chỉ là con số rất khiêm tốn. Mặc dù có những đạo tràng lớn như chùa Hoằng Pháp, chùa Phổ Quang… thu hút đủ thành phần Phật tử. Nhưng đây chỉ là con số quá ít, thật đáng lo ngại. Ta cũng hiếm thấy các ngày sám hối, lễ lớn… mà cả nhà Phật tử cùng đi lễ chùa.

4- PHÁT TRIỂN TĂNG THƯỢNG DUYÊN:

Nêu lên những hạn chế, bài viết không nhằm phủ nhận các mặt tích cực to lớn của Giáo hội – Ban Hướng dẫn Phật tử, Ban Hoằng pháp, chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử trong suốt chiều dài truyền bá đạo Phật. Bởi vạn pháp do duyên sinh. Những mặt hạn chế chẳng qua là hiện tượng của sự thiếu duyên. Khi thấy được nguyên nhân, dựa vào tâm huyết, ý chí, sự đồng tâm hiệp lực của đại chúng sẽ tạo nên một tăng thượng duyên, góp phần đưa số tín đồ Phật giáo tăng cao hơn nữa, xứng đáng với vị trí của một tôn giáo đã tồn tại hàng nghìn năm trên đất nước này. Tăng thượng duyên ở đây sẽ là một chủ trương kế hoạch lớn, lâu dài của Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương. Những người thực hiện là chư Tăng Ni và Phật tử Việt Nam.

Qua hạn chế nêu ở mục 3. Truy tìm nguyên nhân có lẽ phải nói đến Phật hóa gia đình chưa cao, chưa trọn vẹn. Do đó, khắc phục hạn chế phải khắc phục chủ điểm Phật hóa gia đình. Nói đến Phật hóa gia đình là nói đến kế hoạch lớn của Ban Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương. Bằng cả tấm lòng thành, hạn hẹp trong bài tham luận, con xin góp một hạt cát nhỏ vào sa mạc bao la ấy.

Phật hóa gia đình phải bắt nguồn từ các gia đình của Phật tử. Trước nhất các bậc cha mẹ phải là tấm gương tu tập tinh tấn, mẫu mực trong cuộc sống. Phải có trách nhiệm với con cái, nhất là trách nhiệm về tu tập của các em. Thường xuyên chăm sóc, tưới tẩm đức tin, sự tôn kính Tam Bảo cho các em. Biết rằng, đạo Phật là tự giác không bắt buộc, nhưng tuổi các em còn nhỏ, có những việc các em chưa đủ sức hiểu là tốt, là có lợi. Trách nhiệm chúng ta là phải khéo léo hướng dẫn các em vào nề nếp tu tập. Điển hình như việc học ở trường, khi còn nhỏ các em không biết học là có ích, không tự nguyện đi học mà do ta bắt buộc các em học. Thế thì việc tu học, vì lợi lạc cho các em, đôi khi ta cũng phải bắt buộc các em tu tập, không thể để cho các em giữ nhà, đi chơi, chỉ có ba mẹ đi chùa. Phải tạo điều kiện, thậm chí “bắt” con cùng đi chùa để trẻ được sống trong môi trường đạo đức, được lễ Phật tụng kinh nghe Pháp, tăng trưởng đức tin tôn kính Tam Bảo. Gia đình phải là lớp Phật pháp vỡ lòng cho các em. Nhà chùa tiếp theo là lớp học Phật Pháp nâng cao dần trình độ Phật học và đức tin nơi các em. Được sự dạy dỗ chăm chút thứ lớp như thế, các em sẽ có đức tin tôn kính Tam Bảo vững chắc.

Lễ Hằng thuận là lễ thành hôn nơi cửa Phật của Phật tử. Người khởi xướng là ông Đồ Nam Tử (Nguyễn Trọng Thuật 1883-1940) quê Hải Dương. Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám đã tổ chức lễ này đầu tiên cho con gái đầu lòng là Lê Thị Hoành và Hoàng Văn Tâm năm 1930 tại chùa Từ Đàm - Huế. Tiếp tục chư vị Tôn đức Tăng Ni cũng đã tổ chức lễ thành hôn nơi cửa Phật khi Phật tử có nhu cầu. Đến năm 1971, Hòa Thượng Thích Thiện Hòa đã dùng hai chữ “Hằng thuận” để chỉ cho việc kết hôn nơi cửa Phật. Từ đó đến nay, Phật tử một số nơi thỉnh thoảng đến chùa xin tổ chức lễ này.

Tuy lễ Hằng thuận không phải là truyền thống của Phật giáo, nhưng xét thấy đây là nét đẹp trong đời sống hôn nhân của Phật tử. Khi được đối trước Tam Bảo kính lễ và phát nguyện sống chung hạnh phúc theo năm nguyên tắc cơ bản của Phật giáo. Được chư Tôn đức Tăng Ni dạy bảo bổn phận làm vợ, chồng, cha, mẹ… Những nguyên tắc sống hạnh phúc mà Phật đã dạy trong kinh Thi - Ca- La - Việt. Từ đây sẽ tạo nền tảng tâm linh hướng thượng của các em, với lời hứa trước Tam bảo cũng tạo nên một sức mạnh, giúp các em vượt qua những chướng ngại, khó khăn, trắc trở thường có sau hôn nhân. Căn bản là một Phật tử lại được trang bị đạo đức, bổn phận trong buổi lễ Hằng thuận. Các em sẽ có cuộc sống hạnh phúc, đức tin Tam bảo ngày càng kiên định. Do đó thế hệ con các em sẽ được giáo dưỡng tốt trong môi trường đạo đức Phật giáo. Như thế những “Tiền Phật tử” này sẽ là Phật tử chính thống.

Hôn nhân nơi cửa Phật - Lễ Hằng thuận là nét đẹp trong hôn nhân Phật tử và cũng là chiến lược tăng số lượng tín đồ Phật giáo.

6- KIẾN NGHỊ:

Để Phật hóa gia đình đạt kết quả tốt, nhằm giữ gìn và phát triển “tiền Phật tử” (đối tượng con Phật tử) thành Phật tử chính thống. Nơi tham luận này, con xin kiến nghị:

- Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương nên soạn thảo nghi thức lễ Hằng thuận – cách tổ chức lễ. Về nội dung: Thâm sâu ý nghĩa; về hình thức: Văn minh tiến bộ. Để từ đó, từng lúc phổ biến và đưa vào từng gia đình cư sĩ Phật tử, dần dần tạo nên lễ thành hôn nơi cửa Phật cần phải có của Phật tử.

- Ban cần soạn thảo những tập sách giáo lý cơ bản thống nhất cả nước. Tập sách này được soạn thảo theo lứa tuổi nhi đồng và thanh thiếu niên. Nội dung ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu.

- Ban cần soạn thảo nghi thức tụng niệm cho đối tượng thanh thiếu niên và nhi đồng thống nhất cả nước.

- Về việc in ấn sách giáo giáo lý, nghi thức tụng niệm nên gọn - đẹp.

* Qua vấn đề đặt ra: Đối tượng “tiền Phật tử” (đối tượng con của Phật tử, những người không tôn giáo và con của họ) phải là Phật tử chính thống.

Với sự hiểu biết hạn hẹp của mình, chúng tôi đã cố gắng trình bày những quan điểm nhằm đưa đối tượng “tiền Phật tử” (con của Phật tử) trở thành Phật tử chính thống. Có thể sẽ còn rất nhiếu ý kiến hay cho vấn đề này. Xin được tiếp nhận để tăng thượng duyên cho Phật sự này được thành tựu như ý. Còn lại “tiền Phật tử” (Đối tượng người không tôn giáo và con của họ) xin được thỉnh ý chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử cả nước góp phần tăng thượng duyên, để Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương xây dựng kế hoạch khả thi giúp đối tượng này thành Phật tử chính thống. Nâng cao số lượng tín đồ Phật giáo, nhằm thực hiện tốt sứ mạng độ sanh của người con Phật./.

 

(Trích tham luận Hướng dẫn Phật tử năm 2010 tại Tp. Cần Thơ)

Cư sĩ Minh Hải

Thư ký Phân ban Hướng dẫn CSPT Tỉnh Bến Tre

http://www.giaohoiphatgiaovietnam.vn

alt


]]>
tcanhco@yahoo.com (Cư sĩ Minh Hải) frontpage Thu, 22 Jul 2010 12:36:30 +0000