16 | 03 | 2010
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Kinh Viên Giác Lược Giải PDF. In Email
Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
Viết bởi Thích Duy Lực   
Chỉ mục bài viết
Kinh Viên Giác Lược Giải
Kinh Viên Giác Lược giải Tr. 2
Kinh Viên Giác Lược giải Tr. 3
Kinh Viên Giác Lược giải Tr. 3
Kinh Viên Giác Lược giải Tr. 4
Tất cả các trang

Nguyên văn chữ Hán của Kinh Viên Giác chỉ có hơn mười ba ngàn chữ mà bao gồm tất cả giáo pháp đốn tiệm của thượng căn và hạ căn. Phật dùng đủ thứ phương tiện giảng rõ các pháp tu chứng và thiền bệnh, độc giả theo đó tu hành thì chẳng đọa tà kiến.

Vì dịch giả là người nước Kế Tân, đối với văn phạm tiếng Hán chưa thông thạo lắm, nên lời văn chưa được lưu loát, thành có nhiều chỗ tối nghĩa nên chúng tôi phải nhờ trực giải của Ngài Hám Sơn (người đã kiến tánh) thêm vào để sáng tỏ nghĩa Kinh, gặp chỗ khó hiểu lại tùy văn ghi chú hoặc lược giải để giúp cho người đọc dễ hiểu, nhưng vẫn cố giữ nguyên văn của người dịch tiếng Phạn, chẳng bỏ sót một câu nào cả.

Nói tóm lại, chúng tôi dịch Kinh này là muốn giúp cho người đọc hiểu thấu nghĩa Kinh, để theo đó tu hành cho đến kiến tánh, nên chẳng chú trọng sự trau chuốt lời văn, có thể còn nhiều khuyết điểm, xin độc giả hoan hỷ chỉ giáo cho.

Kinh Viên Giác Lược Giải

Hán dịch: Sa Môn Phật Đà Đa La

Việt dịch và giải: Tỳ kheo Thích Duy Lực

(Kinh này nguyên nằm trong Quyển: Chư Kinh Tập Yếu, Thích Duy Lực Biên Soạn, Thành Hội Phật Giáo Tp. Hồ Chí Minh, Ấn Hành: PL.2537 – 1993 nhưng nội dung của các kinh khác nhau đồng thời trong các bản ấn hành trước đều in riêng rẽ nên chúng tôi tách ra để dễ phân loại. Ngoài ra chúng tôi dựa trên nội dung và ý của tác giả thêm chữ hai chữ "lược giải" ở tựa kinh bttdtkvn)

Lời Dịch Giả

Nguyên văn chữ Hán của Kinh Viên Giác chỉ có hơn mười ba ngàn chữ mà bao gồm tất cả giáo pháp đốn tiệm của thượng căn và hạ căn. Phật dùng đủ thứ phương tiện giảng rõ các pháp tu chứng và thiền bệnh, độc giả theo đó tu hành thì chẳng đọa tà kiến.

Vì dịch giả là người nước Kế Tân, đối với văn phạm tiếng Hán chưa thông thạo lắm, nên lời văn chưa được lưu loát, thành có nhiều chỗ tối nghĩa nên chúng tôi phải nhờ trực giải của Ngài Hám Sơn (người đã kiến tánh) thêm vào để sáng tỏ nghĩa Kinh, gặp chỗ khó hiểu lại tùy văn ghi chú hoặc lược giải để giúp cho người đọc dễ hiểu, nhưng vẫn cố giữ nguyên văn của người dịch tiếng Phạn, chẳng bỏ sót một câu nào cả.

Nói tóm lại, chúng tôi dịch Kinh này là muốn giúp cho người đọc hiểu thấu nghĩa Kinh, để theo đó tu hành cho đến kiến tánh, nên chẳng chú trọng sự trau chuốt lời văn, có thể còn nhiều khuyết điểm, xin độc giả hoan hỷ chỉ giáo cho.

(Thích Duy Lực)

Kinh Viên Giác

Tôi nghe như vầy: Một thuở Phật nhập định Thần Thông Đại Quang Minh Tạng, là nơi trụ trì Thường Tịch Quang Trang Nghiêm của tất cả Như Lai, cũng là giác địa vốn trong sạch của tất cả chúng sanh, tất cả thánh phàm đều tùy thuận bản thể bình đẳng bất nhị của tự tánh đầy khắp mười phương không gian và thời gian, thân tâm Tịch diệt mà hiện cảnh bất nhị nơi các cõi Tịnh độ, cùng với mười vạn Đại Bồ tát, bậc thượng thủ là: Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Phổ Nhãn Bồ tát, Di Lặc Bồ tát, Kim Cang Tạng Bồ tát, Thanh Tịnh Huệ Bồ tát, Oai Đức Tự Tại Bồ tát, Biện Âm Bồ tát, Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ tát, Phổ Giác Bồ tát, Viên giác Bồ tát, Hiền Thiện Thủ Bồ tát, v.v... cùng các môn đồ đều nhập chánh định, đồng dự pháp hội bình đẳng của Như Lai.

Bấy giờ Văn Thù Sư Lợi Bồ tát trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật, chắp tay qùy gối bạch Phật rằng:

Xin Đại Bi Thế Tôn vì pháp chúng dự hội này giảng về nhân địa phát tâm trong sạch của Như Lai phải dựa theo pháp nào, tu theo hạnh gì mà được thành Phật. Và những Đại thừa Bồ tát đã phát tâm trong sạch nguyện độ chúng sanh thành Phật, nhưng chẳng biết dụng tâm tu hành như thế nào mới được chánh tri kiến, xa lìa các thiền bệnh, khiến cho mạt pháp chúng sanh đời vị lai cầu pháp Đại thừa chẳng đọa tà kiến.

Ngài Văn Thù Bồ tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật bảo Văn Thù Bồ tát rằng:

Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ tát hỏi về nhân địa phát tâm của Như Lai dựa theo pháp nào, tu hạnh gì, lại vì tất cả chúng sanh đời mạt pháp cầu pháp Đại thừa được trụ nơi chánh pháp, chẳng đọa tà kiến. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Lúc ấy Văn Thù Bồ tát và đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

Thiện nam tử! Có pháp môn Tổng trì của Vô thượng Pháp Vương gọi là Viên giác. Từ pháp này kiến lập tất cả thanh tịnh, Chơn Như, Bồ đề, Niết bàn và Ba la mật để dạy Bồ tát và chúng sanh về nhân địa phát tâm của tất cả Như Lai, đều nên y theo giác tướng trong sạch chiếu soi đầy đủ, dứt hẳn Vô minh mới thành Phật đạo.

Thiện nam tử! Thế nào là Vô minh? Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay đủ thứ điên đảo, ví như kẻ lạc đường nhận lầm phương nam thành phương bắc, vọng cho tứ đại là thân tướng thật của mình, cho vọng tâm tạo huyễn ảnh thành lục trần là tâm tướng thật của mình, ví như kẻ bị nhặm thấy hoa đốm trên không và thấy mặt trăng thứ hai.

Thiện nam tử! Hư không vốn chẳng hoa đốm, vì bệnh nhặm vọng chấp thành có. Do vọng chấp ấy, chẳng những không biết tánh hư không, lại còn lầm nhận chỗ sanh ra hoa đốm là thật. Từ cái vọng này thành có sanh tử luân hồi, nên gọi là Vô minh.

Thiện nam tử! Vô minh này chẳng có thật thể, như người trong mộng lúc chiêm bao thì có, đến khi thức tỉnh thì chẳng còn gì cả. Cũng như hoa đốm diệt nơi hư không, chẳng thể nói nhất định có chỗ diệt. Tại sao? Vì chẳng có chỗ sanh vậy.

Tất cả chúng sanh ở nơi pháp vô sanh vọng thấy có sự sanh diệt, cho nên gọi là sanh tử luân hồi.

Thiện nam tử! Như Lai nơi nhân địa tu theo tự tánh Viên giác, chiếu soi bản thể của tự tánh vốn Tịch diệt, biết rõ thân tâm thế giới như hoa đốm trên không, vậy thì thân tâm vốn không, lấy gì để thọ sanh tử luân hồi? Cái KHÔNG này là vì bản tánh vốn không, chẳng phải do tạo tác thành không. Cái biết đó ví như hư không, kẻ biết như hư không đó tức là tướng hoa đốm cũng chẳng thể nói không có tánh tri giác, CÓ với KHÔNG đều lìa, ấy mới gọi là tùy thuận giác tánh trong sạch.

Tại sao? Vì tánh hư không thường trụ chẳng động. Trong Như Lai Tạng vốn chẳng có sự sanh diệt nên chẳng có sự tri kiến sanh diệt trong đó, cũng như pháp giới tánh, rốt ráo viên mãn đầy khắp mười phương không gian và thời gian, ấy mới gọi là nhân địa phát tâm theo chánh pháp, tu hành theo chánh hạnh.

Bồ tát vì thế ở nơi Đại thừa phát tâm trong sạch, chúng sanh trong đời mạt pháp theo đó tu hành chẳng đọa tà kiến.

Lúc ấy Thế Tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Văn Thù ngươi nên biết,

Tất cả các Như Lai,

Từ nơi bản nhân địa,

Đều nhờ trí huệ giác.

Thông đạt nơi vô minh,

Cũng như hoa đốm kia.

Thì khỏi bị luân hồi.

Cũng như người trong mộng,

Thức tỉnh cảnh mộng mất.

Giác ngộ như hư không,

Bình đẳng chẳng lay động.

Bản giác khắp mười phương,

Liền được thành Phật đạo.

Huyễn chẳng chỗ sanh diệt,

Thành đạo cũng vô đắc,

Vì bản tánh viên mãn.

Bồ tát ở trong đó,

Khéo phát tâm Bồ đề.

Chúng sanh đời mạt pháp,

Tu theo lìa tà kiến.

Khi ấy Phổ Hiền Bồ tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật, chắp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

Xin đại bi Thế Tôn vì các Bồ tát trong hội này và tất cả chúng sanh đời mạt pháp, người tu Đại thừa khai thị cảnh giới trong sạch của Viên giác này nên tu hành như thế nào? Bạch Thế Tôn! Nếu chúng sanh ấy đã biết thế giới như huyễn, thân tâm cũng huyễn, tại sao lại dùng huyễn để tu huyễn?

Nếu các tánh huyễn đều diệt hết thì chẳng có tâm, vậy còn ai tu hành? Tại sao lại nói tu hành như huyễn?

Nếu những chúng sanh vốn chẳng tu hành thường chịu sanh tử nơi huyễn hóa, thì chẳng biết ấy là cảnh giới như huyễn, làm sao khiến tâm vọng tưởng được giải thoát?

Xin Thế Tôn vì tất cả chúng sanh đời mạt pháp chỉ dạy nên dùng phương tiện nào để tu tập theo thứ lớp, lìa hẳn các huyễn.

Ngài Phổ Hiền Bồ tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật bảo Phổ Hiền Bồ tát rằng:

Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp, hỏi Như Lai về phương tiện và thứ lớp tu tập chánh định như huyễn của Bồ tát, khiến cho chúng sanh được lìa các huyễn. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Lúc ấy Phổ Hiền Bồ tát và đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đủ thứ huyễn hóa đều sanh nơi diệu tâm Viên giác của Như Lai, ví như hoa đốm từ hư không mà có, hoa đốm dù diệt, tánh hư không chẳng hoại, huyễn tâm của chúng sanh dù theo huyễn diệt, các huyễn diệt hết, bản giác chẳng động. Do Huyễn nói Giác, giác cũng là huyễn, nếu nói Có Giác vẫn chưa lìa huyễn, nói không Có Giác thì cũng như thế, nên nói các huyễn diệt hết gọi là bản giác chẳng động.

Thiện nam tử! Tất cả Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp nên xa lìa tất cả huyễn hóa, những cảnh giới hư vọng do vọng tâm cố chấp mà sanh. Nay xa lìa vọng tâm, cái tâm năng lìa cũng là huyễn, cũng phải xa lìa. Có sự xa lìa cũng là huyễn cũng phải xa lìa. Có sự xa lìa để lìa vẫn là huyễn, cũng phải lìa luôn, lìa rồi lại lìa nữa, đến chỗ chẳng có sở lìa mới dứt hẳn các huyễn. Ví như dùi cây lấy lửa, hai cây chà xát vào nhau, lửa ra thì cây cháy thành tro, khói diệt tro bay, đất chỗ nơi đốt vốn chẳng động; vậy dùng huyễn tu huyễn cũng như thế, các huyễn diệt hết nhưng chẳng phải đoạn diệt.

Thiện nam tử! Biết huyễn tức là lìa, chẳng lập phương tiện; lìa huyễn tức là giác, cũng chẳng thứ lớp. Tất cả Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp theo đó tu hành, như thế mới được lìa hẳn các huyễn.

Lúc ấy Thế Tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Phổ Hiền ngươi nên biết,

Tất cả các chúng sanh.

Vô thủy huyễn vô minh,

Đều nương tâm Viên giác,

Của Như Lai kiến lập.

Ví như những hoa đốm,

Nương hư không có tướng.

Hoa đốm nếu diệt rồi,

Hư không vốn chẳng động,

Huyễn từ bản giác sanh,

Huyễn diệt giác viên mãn.

Bản giác vốn chẳng động,

Như tất cả Bồ tát,

Và mạt pháp chúng sanh.

Thường nên xa lìa huyễn,

Các huyễn thãy đều lìa,

Như dùi cây lấy lửa,

Cây hết lửa cũng diệt.

Giác vốn chẳng thứ lớp,

Phương tiện cũng như thế.

Khi ấy Phổ Nhãn Bồ tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

Xin đại bi Thế Tôn vì các Bồ tát trong hội này và tất cả chúng sanh đời mạt pháp giảng về sự tu hành theo thứ lớp của Bồ tát, nên quán như thế nào? An trụ tâm như thế nào? Những chúng sanh chưa ngộ, dùng phương tiện gì khiến đều được khai ngộ? Bạch Thế Tôn! Nếu những chúng sanh ấy chẳng biết phương tiện và Thiền quán của Chánh Pháp, nghe Phật thuyết chánh định này tâm sanh mê muội, thì ở nơi Viên giác chẳng thể ngộ nhập. Xin Phật từ bi vì chúng con và chúng sanh đời mạt pháp giả thiết phương tiện để được vào cửa tu hành.

Ngài Phổ Nhãn Bồ tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật bảo Phổ Nhãn Bồ tát rằng:

Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp hỏi Như Lai về Thiền quán và an trụ tâm như thế nào, phải nên theo thứ lớp tu hành như thế nào, cho đến giả thuyết đủ thứ phương tiện. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Lúc ấy, Phổ Nhãn Bồ tát và đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

Thiện nam tử! Những Bồ tát sơ học và chúng sanh đời mạt pháp muốn cầu tâm Viên giác trong sạch của Như Lai, nên dùng chánh niệm để xa lìa các huyễn.

Lược giải:

Chánh niệm tức là Vô niệm, Vô niệm tức là lìa niệm, lìa niệm tức là lìa huyễn, lìa huyễn tức là tùy thuận bản giác trong sạch, phàm có khởi tâm động niệm, nơi bản thể Viên giác đều thuộc về huyễn hóa. Ý Phật ở đây là: Ngoài bản niệm ra chẳng sanh một niệm nào thì các huyễn tự diệt, nên nói: "Xa lìa các huyễn".

(Lược giải hết.)