Home Chư Kinh Giảng Giải Chú giải Kinh Bắc Truyền Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn Giảng Lục
06 | 01 | 2009
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn Giảng Lục PDF. In Email
Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
Viết bởi Thích Trí Nghiêm   
Chỉ mục bài viết
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn Giảng Lục
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn Giảng Lục
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn Giảng Lục II
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn Giảng Lục III
Tất cả các trang
Mẹ Hiền Quán Thế Âm Bồ TátChúng ta đã thấy rõ chân nghĩa Phật pháp, nếu chẳng phát tâm hành trì, thời như nói món ăn, đếm hộ của tiền cho người khác, và như chiếc bánh vẽ chẳng ích gì dạ đói. Rốt cuộc đến cùng, tự mình chẳng được một điểm thọ dụng nào cả.

Cho nên cứ mỗi buổi sáng tinh sương, khi mới thức dậy, liền niệm Quán Thế Âm Bồ tát bảy tiếng. Đấy là y theo giải mà khởi hành – mắt và chân đều có công dụng đồng thời. Hy vọng quý vị buông thả muôn duyên chơn thật tiến tu, bỏ lìa tình nhiễm, và vượt khỏi sự thấy biết tầm thường, lão thật trì niệm, khắc kỳ mà chứng lấy, mong sao được sự lợi ích thù thắng. Được vậy mới xứng đáng là chơn Phật tử.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát

Phổ môn Giảng Lục

Pháp sư Bảo Tịnh giảng thuật

Thôi Chú bình & Tôn Tử Á kính lục

Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm dịch

Sài gòn PL. 2516 – 1972

(Quyển dò này dò y bổn cũ, không có nhà xuất bản, trong bổn cũng không có mục lục, chúng tôi thêm vào. bttdtkvnMục Lục

Thay Lời Tựa

Lời Nói Đầu

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

I/ Giải Thích Đề Kinh

1. Diệu Pháp

2. Liên Hoa

3. Kinh

4. Quán Thế Âm Bồ tát

5. Phổ Môn

6. Phẩm

II/ Dao Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập Dịch

III/ Tại Sao Gọi Là Quán Thế Âm

IV/ Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Được Giải Thoát

V/ Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Cứu bảy nạn

1. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Được Giải Thoát Nạn Lửa

2. Xưng Danh Hiệu Bồ tát Được Cứu Khổ Thủy Nạn

3. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Được Cứu Nạn Hắc Phong La Sát Quỷ

4. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Được Cứu Nạn Đao Binh Gia Hại

5. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Được Cứu Nạn Quỷ Dạ Xoa Và La Sát

6. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Được Cứu Nạn Lao Ngục

7. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Được Cứu Nạn Oán Tặc

Kết Luận: Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Được Cứu Khổ Bảy Nạn

VI/ Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Giải Ba Độc

1. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Giải Trừ Lòng Dâm Dục

2. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Giải Trừ Giận Dữ

3. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Giải Trừ Ngu Si

Kết Luận: Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Giải Trừ Ba Độc

VII/ Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để ứng Hai Cầu

VIII/ Niệm Quán Thế Âm Bồ tát Để Được Vô Lượng Vô Biên Phước Đức

IX/ Quán Thế Âm Thị Hiện 32 Hoá Thân Để Cứu Khổ Chúng Sanh

1. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Thân Phật Để Nói Pháp

2. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Thân Duyên Giác Để Nói Pháp

3. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Thân Thanh Văn Để Nói Pháp

4. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Thân Phạm Vương Để Nói Pháp

5. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Thân Đế Thích Để Nói Pháp

6. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Thân Tự Tại Thiên Để Nói Pháp

7. Thị Hiện Đại Tự Thiên, Thiên Đại Tướng Quân, Tỳ Sa Môn Để Nói Pháp

8. Thị Hiện Thân Tiểu Vương, Trưởng Giả, Cư Sĩ, Tể Quan… Để Nói Pháp

9. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Nữ Nhân Để Nói Pháp

10. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Đồng Nam Đồng Nữ Để Nói Pháp

11. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Thân Trời, Rồng, Dạ Xoa, Cà Thát Bà, A Tu La, Ca Lầu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhơn, Cùng Phi Nhơn Nữ Để Nói Pháp

12. Quán Thế Âm Bồ tát Thị Hiện Chấp Kim Cang Thần Để Nói Pháp

Kết Luận Về 32 Ứng Thân Của Quán Thế Âm Bồ tát

X/ Vô Tận Ý Bồ tát Cúng Dường Quán Thế Âm Bồ tát

XI/ Vô Tận Ý Bồ tát Nói Kệ Hỏi Đức Phật

XII/ Trì Địa Bồ tát

XIII/ Chánh Đẳng Chánh Giác

Phụ Lục

Bài Bạt

Thay Lời Nguyện của người ấn tống

Thay Lời Tựa

Đầu mùa Thu năm Mậu Thân tức 1968 có một số Cư sĩ học Phật tại Nha Trang này muốn nhờ tôi giảng cho bộ Kinh Pháp Hoa. Tôi nhận lời và đã khai giảng vào ngày 25 tháng 9, mỗi tuần giảng 3 buổi. Giảng xong quyển Vô Lượng Nghĩa, tôi dự định sẽ giảng Phẩm Phổ môn vào trong dịp Tết Kỷ Dậu. Thời ngày 25 tháng chạp, vừa giảng đến Phẩm Diệu Âm Bồ tát.

Bộ Kinh Pháp Hoa 7 quyển, có 28 Phẩm tất cả. Mà Phẩm Diệu Âm thứ 24, Phẩm Phổ môn 25 là đúng như sự đã dự định. Vả lại, ngày 25 tháng Chạp Âm là ngày Quốc lục "giáp ấn" nghĩa là những công việc gì đã bày ra trong năm, đến ngày ấy, dù đã xong hay chưa, đều vẫn phải sắp lại để đó, lo vui Tết nhất cái đã rồi ra giêng sẽ hay, thời Phật sự cũng như thế.

Cái năm Mậu Thân con khỉ, tài giỏi nhảy múa lung tung ồn ào, gây rắc rối tai hại cho thiên hạ đã qua; năm Kỷ Dậu con Gà, vỗ cánh dương mào, cất tiếng gáy thanh tao thảnh thoát để cảnh giác mọi người thức giấc thành tâm lễ bái trì niệm trước khi ánh bình minh chiếu sáng hoàn cầu. Tôi tiếp tục khai giảng lại Kinh Pháp Hoa Phẩm Phổ môn giảng lục vào chiều ngày mồng 3 Tết tân Xuân Kỷ Dậu.

Phẩm Phổ môn giảng lục do Pháp sư Bảo Tịnh đã giảng vào năm 1937 tại Phật giáo Cư sĩ Lâm ở lục địa Trung Quốc. Tôi giảng liên tiếp 12 ngày xong. Đang khi giảng, các Phật tử đến dự nghe tuy không đông lắm nhưng đều có ý muốn tôi dịch thành Quốc văn để phổ biến rộng rãi mọi người được đọc hiểu, nhờ đấy tăng thêm lòng tin đối với Đức Quán Thế Âm Bồ tát. Do đó, nên sau khi giảng xong, tôi mạo muội bắt đầu dịch thuật.

Trong bản dịch này, phần chánh văn, sao lại trong Kinh Pháp Hoa do Thượng Tọa Trí Tịnh đã dịch trọn bộ. Tôi chỉ dịch phần giảng lục và thuật thêm cho rõ ràng những ý nghĩa còn hàm súc bởi Hán văn thâm thúy. Các Phật tử hãy đọc phần giảng lục, mới thấy ơn đức Pháp sư Bảo Tịnh là dường nào! Ngài đã đem trí tuệ thâm viễn mà Bố thí Giáo pháp cho chúng ta.

Nếu chẳng gặp được hân hạnh này, thời chúng ta làm sao biết được những điều đã cảm ứng của Quán Thế Âm Bồ tát.

Ngoài ra còn có bài lời nói đầu của Phí Phạm Cửu Cư sĩ, bài bạt của Thôi Chú Bình là một trong hai Cư sĩ đã từng dự giảng Hội và theo dõi ghi chép từ đầu chí cuối những lời giảng của Pháp sư. Các Phật tử đọc hai bài này sẽ thấy: Phật pháp khó gặp là dường nào; trên dưới bốn trăm năm chỉ có vài lần giảng; động cơ nào đã thúc đẩy nên mới có cuộc giảng trước đây 32 năm đã diễn ra quang cảnh phồn thịnh đông đảo làm sao và cũng nhờ đó mới có bản dịch này. Phải thật thà, xin thú thật rằng những điều như trên ở xứ ta khó mà thấy được.

Phẩm Kinh giảng lục này, Pháp sư giảng vào giữa mùa Xuân, qua Đông mới in thành sách, và cũng chỉ lưu hành trên lục địa Trung Quốc mà thôi. Sau 18 năm mới lọt qua Hương Cảng, và nhờ hai Phật tử là Trần Khoan Hằng và Lâm Bổn Minh phát tâm in ấn tống vào năm 1956, chính nhờ đấy nên Pháp Bảo này mới tới tay tôi. Đủ biết công đức lưu thông Kinh sách, phổ biến Giáo pháp lợi ích lớn lao biết chừng nào!

Vậy nên tôi thành tâm cầu nguyện Đức Quán Thế Âm Bồ tát Từ bi gia hộ hai Phật tử: Trần Khoan Hằng và Lâm Bổn Minh đều được: Thân tâm thường an lạc, tăng trưởng cội Bồ đề, chóng viên thành Phật quả.

Về việc khuyến khích các Phật tử nên thành tâm trì niệm Đức Quán Thế Âm Bồ tát mới được lợi ích thật sự thì Pháp sư Bảo Tịnh đã từng nhắc đi nhắc lại hàng mấy mươi lần cho các Phật tử bên Tàu. Thời tôi cũng mong rằng: các Phật tử bên ta nên tuân theo những lời dạy của Pháp sư mà thực hành đi thì cũng chắc được sự lợi ích như những vụ đã có ứng hiện và đã ghi chép đầy đủ trong phần giảng lục này.

Đang khi ngồi cặm cụi dịch phẩm Kinh này, tôi vừa hay tin Phật tử Lê Đình Thám đã mãn phần. Người rất có công với Đạo Pháp. Tôi thành tâm chú nguyện cầu xin Đức Phật A Di Đà Từ bi tiếp độ hương linh Phật tử Lê Đình Thám Pháp danh Tâm Minh siêu sanh về Phật quốc. (Hưởng thọ 73 tuổi).

Sau cùng nguyện đem công đức này hồi hương về Pháp giới chúng sanh mau thành Phật quả.

Ngưỡng vọng:

NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI TẦM THANH CỨU KHỔ CỨU NẠN QUẢNG ĐẠI LINH CẢM ỨNG QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT MA HA TÁT.

chứng minh gia hộ

Nha Trang, ngày Phật Đản 2513 - 1969

DỊCH GIẢ CẨN CHÍ

Lời Nói Đầu

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn giảng lục của Cư sĩ Phi Phạm Cửu dịch.

Đức Phật thường dạy phước huệ song tu, mà giảng Kinh là yếu kiện (1) của tu huệ, vì có đủ trí huệ thời phước đức cũng nhờ đấy mới được dồi dào thêm. Vậy việc giảng Kinh, ta thường thấy nơi các vị Cổ đức đã soạn thuật như sau: Đầu đời nhà Nguyên có sách Ngữ Lục của Ngài Hoài Hải Hòa thượng, cuối đời nhà Minh cũng có sách Ngữ Lục của Ngài Lãnh Sơn Thiền sư. Khoảng trên dưới bốn trăm năm trời mà chỉ có vài lần giảng Kinh này mà thôi: từ đấy trở đi hẳn không còn nghe Pháp âm diễn giải Kinh điển này nữa, vì vắng teo không người thừa kế. Mãi đến khi Dân quốc được thành lập thì việc diễn giảng Kinh điển mới dần dần bắt đầu thạnh hành:

1 – Cư sĩ Lưu Linh Hoa giảng Kinh Pháp Hoa tại Hội Giáo Dục.

2 – Pháp sư Thái Hư giảng phẩm Phổ môn tại Quán Âm Nham.

3 – Pháp sư Nhân Sơn giảng Kinh A Di Đà tại chùa Pháp Luân.

4 – Pháp sư Bảo Tịnh giảng Phẩm Phổ môn tại Đường Áp Cư sĩ Lâm. (2)

Trong bốn lần giảng này, 3 lần trước, hãy còn thuộc về thời kỳ phát khởi lòng tin cho mọi người, nên thính giả thưa thớt có thể đếm được. Mà lần thứ tư thời thật là đông đảo phi thường hơn 3 lần trước rất nhiều. Những kẻ thiện nam tín nữ ở gần xứ Đường Áp chừng 10 hay 20 dặm họ đều dự bị đem theo những thực phẩm quà bánh tiền bạc, họ chịu đựng gió lạnh, tuyết rơi cùng nhau lũ lượt đến phó Hội thính giảng ngày một đông thêm cả hàng vạn người mỗi ngày thật là một quang cảnh đông đảo náo nhiệt phi thường. Mỗi khi giảng xong, tiếng niệm Phật hồi hướng vang dội tận từng mây. Vì Giáo pháp đã thấm nhuần những vùng lân cận nên tự nhiên được đông đảo náo nhiệt như thế, in như sắp có đại kiếp sẽ xảy đến nên người ta lo chuẩn bị trước vậy. Rất lấy làm lạ thay! phải chăng đó là do sức từ tâm bi nguyện của Quán Thế Âm Bồ tát mà khiến vậy thôi!

Phẩm Phổ môn này mà được giảng giải rất tường tận và rõ ràng là nhờ Pháp sư Bảo Tịnh, Pháo sư đã dùng diệu trí thâm viễn, đối cảnh mà giải thích diễn đạt thấu suốt nơi tai, vào tuột xuống tận đáy lòng của thính chúng. Một khi hạt giống thiện tịnh đã được trồng xuống là bắt đầu nứt mộng rồi lên cây, nảy lá nở hoa và kết quả – khiến cho gia đình trở thành gia đình Phật hóa, xã hội trở thành xã hội Phật hóa; mỗi người, trong gia đình, ngoài xã hội đều tùy theo chức phận của mình chẳng nên vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường: cha lành, con thảo, bạn bè kính tin, vợ chồng thuần khiết trinh lương cứ thế mà dũng tiến… thời đối với nhân sanh hạnh phước, quốc gia thạnh trị là hữu ích biết bao kể sao cho xiết!

Đến ngày nay Pháp âm của Pháp sư đã cùng với thời gian bay đi tản mác xa rồi, nhưng pháp môn thanh giáo của Pháp sư vẫn còn được truyền lại là nhờ hai vị Cư sĩ Thôi Chú Bình và Tôn Tử Á đã phát tâm thường trực trong lúc nghe giảng chú tâm theo dõi lời giảng của Pháp sư từng câu từng tiếng mà biên chép lại tường tận đầy đủ sau 14 ngày liên tục vừa thính giảng vừa ghi chép xong (bắt đầu khởi giảng vào ngày 2 tháng 2 năm Mậu Dần tức vào năm 1937) trình lên Pháp sư xin ngày phủ chính và hoàn thành xong một quyển sách rồi đem cho xuất bản lưu thông với mục đích là để cho những ai chưa gặp may mắn nghe Pháp âm mà được phẩm Kinh này cũng như được tham dự nghe giảng; còn ai đã may mắn dự hội cùng nghe lại gặp Kinh này là như được thấy Pháp hội Linh Sơn một lần nữa, chẳng khác. Đấy là cái thâm ý của những vị hảo tâm cúng tiền để in thành sách và ấn tống vậy.

Phật giáo Cư sĩ Lâm là do Cư sĩ Trần Dự Đường đứng ra cổ động và củ hợp một số đông thiện nam tín nữ gần xa tùy nguyện sung vào sáng lập, chẳng quản gì nhọc thân khổ trí trăm cay ngàn đắng vẫn chẳng từ nan. Sau khi bản Lâm đã được thành lập xong bèn thỉnh Pháp sư về giảng Kinh thuyết giới, sự tốn kém hàng bạc vạn, mà ban đầu không dự bị một ngân khoản nào để chi phí. Trần Cư sĩ đã từng thầm lo đuối sức vì tài chánh kém, nhưng vẫn nhờ sự thành tâm của đàn việt bốn phương quy về như mây mưa mà cúng thí nên trên từ hương án Phật đài, dưới đến nhà trù bếp táo không phiền lo lắng, cho nên công việc được mau chóng thành tựu viên mãn – tỏ bày ra đây một niệm may sao có thể làm một chứng phán tiêu trừ tam tai bát nạn vậy ư? Tôi kính cẩn viết mấy lời này ngõ hầu thắp ngọn đèn trí huệ, đốt nén tâm hương, sanh lòng hoan hỷ. Mỗi khi lật quyển hành trình, cúi đầu cung kính cầu nguyện mọi người đều tinh tiến tu trì phước huệ song song.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát

Phổ môn Giảng Lục

I/ Giải Thích Đề Kinh

DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH là đề chung của một bộ Kinh. QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỒ MÔN PHẨM là mục riêng của một Phẩm vậy. Đời nhà Dao Tần có Ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch Kinh này. Đây là dịch đề. Trước giảng đề chung, sau giải mục riêng, rồi sau mới lại giảng dịch đề.

Hiện nay giảng Kinh này là Pháp vi diệu rất khó gặp được và chẳng phải dễ dàng nghe hiểu đến. Mà nay quí vị hớn hở dũng mãnh đến nghe là việc tốt đẹp lắm vậy. Nhưng trong khi nghe Kinh bất cứ hiểu được thấu suốt và rõ ràng hay chăng, quý vị đều cần phải cung kính, yên lặng thành ý để mà lắng nghe. Ai nghe thấu rõ cố nhiên được đến chỗ lợi ích của Diệu Pháp, còn những ai chẳng lãnh hội nổi thời chỉ nên đem lòng chí thành cung kính cũng vẫn có thể được lợi ích chẳng phải nhỏ nhen, vì công đức nghe Kinh chẳng thể lường được vậy. Bởi lẽ đó, nên quý vị cần phát tâm Từ bi, tâm ân trọng đặt mình trong khung cảnh vắng lặng để nghe Kinh, được vậy là có thể lãnh thọ được Diệu Đạo trong Kinh Pháp Hoa này, như ăn nhai cho tan nát, nước miếng thấm vào thời mới nghe có ý vị. Bằng trái lại là sự lãnh hội chẳng thấu rõ được.

Phẩm Phổ môn tuy là một Phẩm trong bộ Kinh Pháp Hoa, nhưng là có thể đại diện cho toàn bộ, bởi vì Diệu Pháp đều là Pháp bất khả tư nghì vậy. Kinh Pháp Hoa toàn bộ 7 quyển cộng tất cả có 28 phẩm. Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn là phẩm thứ 25. Thế là đã chẳng phải toàn một bộ Kinh, mà tại sao phẩm này lại được trích riêng ra và lưu hành lẻ loi ư? Bởi vì phẩm Kinh này đã từng có điều cảm ứng phi thường vậy. Nguyên do như sau:

Vào khoảng đầu đời nhà Tấn cuối nhà Bắc Lương, ở xứ Trở Cừ, có ông Mông Tốn nhân bị bệnh nặng, Thầy thuốc chữa không lành. Nhơn lúc bấy giờ có Ngài Tôn Giả Đàm Vô Sấm, đến nhà thăm và Ngài bảo: “Bệnh này là bệnh nghiệp chướng nên niệm Phẩm Phổ môn trong Kinh Pháp Hoa tức có thể lành được”. Mông Tốn liền tuân theo và trì tụng chưa được hai ngày thời bệnh ông quả thật được lành ngay. Nhơn đó Mông Tốn mới phát nguyện trích riêng phẩm này và đơn hành lưu thông với hai Kinh nưã là A Di Đà và Kim Cang gọi là bộ Kinh Tam bảo vậy. Cũng nhờ đó mà các xứ giảng giải phẩm Kinh này rất nhiều, vì Đức Quán Thế Âm Bồ tát là Đức Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm cùng với chúng sanh ở cõi Ta bà chúng ta đã có cơ duyên sâu nặng và thuần thục, vậy nên không một ai chẳng biết đến danh hiệu Ngài và cũng không có người nào mà chẳng sanh lòng cung kính đến Ngài vậy. Vả lại đã có biết bao nhiêu người đã cảm đến việc linh ứng của Bồ tát. Cho nên hôm nay các thính chúng hớn hở dị thường dắt tay nhau mà đến nghe Kinh.

Hơn nữa, bản Lâm này (Cư sĩ Lâm) nhân ngày 19 tháng 2 mỗi năm là ngày Vía của Bồ tát Quán Thế Âm mà thỉnh giảng Phẩm Phổ môn thật là giáo pháp đã thích ứng với thời cơ và có Thể, có Dụng, có Sự, có Lý lắm vậy.

Nay đã muốn giảng Kinh, tất nhiên trước phải giải thích đề Kinh. Giờ đây trước hết là giảng 5 chữ DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là lấy Pháp và Dụ mà lập Đề. Kinh Phật có 7 thứ lập đề gọi là: đơn có 3 thứ, kép có 3 thứ, đầy đủ chỉ có một.

Đơn có 3 là:

1) Đơn nhơn, như Phật Thuyết A Di Đà Kinh.

2) Đơn Pháp, như Niết Bàn Kinh, Bát nhã Kinh.

3) Đơn Dụ, như Phạm Võng Kinh, Anh Lạc Kinh.

Kép có 3 là:

1) Nhơn và Pháp, như Địa Tạng Bồ tát bổn nguyện Kinh (Địa Tạng là Nhơn, bổn nguyện là Pháp)

2) Nhơn và Dụ, như Như Lai Sư Tử Hẩu Kinh (Như Lai là Nhơn, Sư Tử Hẩu là Dụ. Ý nói Đức Như Lai thuyết pháp như con sư tử rống).

3) Pháp và Dụ, như Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

Đầy đủ (cả 3) chỉ có 1 là: Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (Đại Phương Quảng là Pháp, Phật là Nhơn, mà Hoa Nghiêm là Dụ). Kinh này thuộc loại Pháp và Dụ mà lập Đề.

1. Diệu Pháp

Diệu Pháp là Pháp mà Liên Hoa là Dụ. Bởi vì Diệu Pháp khó hiểu nên mới mượn cái Hoa sen để làm ví dụ cho dễ hiểu vậy. Diệu Pháp là Pháp ấy mầu nhiệm chẳng thể dùng lời nói mà nói được. Pháp ấy là Pháp gì? Tức là sơn hà đại địa, thế giới quốc độ, y báo chánh báo, thế gian pháp, xuất thế gian pháp, sắc pháp, tâm pháp; tuy là muôn trượng giăng bày đầy nhẫy nhưng nói tóm lại thời chẳng ngoài 3 món là: Phật pháp, tâm pháp và chúng sanh pháp. Ba pháp này vốn không sai khác nên gọi là Diệu Pháp.

Tại sao không sai khác ư? Trước xin giảng rõ tâm của người ta ở tại đâu. Thông thường người ta chẳng rõ, hằng đêm trái tim nằm trong lồng ngực bảo là cái tâm của người ta đó. Kỳ thật là cái tâm của ngũ tạng chứ chẳng phải chơn tâm vậy, vì cái tâm ấy là cái tâm cục thịt. Và lại là cái tâm tập khởi, tâm phân biệt, tâm vọng tưởng; một mai chết rồi thời nó hủ hóa tiêu tan chẳng còn tư lường phân biệt được nữa vì đấy là tâm duyên lự chứ chẳng phải chơn tâm của chúng ta vậy. Nên biết rằng chơn tâm chúng ta là khắp cả hư không bao trùm pháp giới; trong Kinh Lăng Nghiêm gọi hư không mười phương ở trong tâm chúng ta giống như miếng mây điểm giữa thái thanh. Ta thử xem tất cả muôn pháp đều do tâm sanh, thường gọi tâm sanh thời các pháp sanh, tâm diệt thời các pháp cũng diệt theo. Trên đến bốn bực Thánh, dưới tận Thiên đường Địa ngục đều do tâm mà có. Nên biết rằng ngoài tâm không có các pháp, tâm tức là bản thể của muôn pháp. Như ai thấu rõ được đạo lý này thời kẻ ấy ngộ được diệu lý hư không nhỏ xíu vậy. Cho nên tâm pháp gọi là Diệu Pháp.

Lại nữa, phải biết ác niệm trong tâm sanh khởi tức chỉ một niệm sanh diệt mà đã biến thành Nhân của ba ác đạo: Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh. Mà một thiện niệm sanh là liền sanh và ba thiên đạo là Trời, Người và A tu la. Niệm không, bèn thành Nhị thừa. Niệm Từ bi bình đẳng liền thành Phật, Bồ tát. Nên gọi là mười phương thế giới đều do tâm mà có, vì tâm đủ mười pháp giới sự lý chẳng hai vậy. Lý đủ mới tạo thành sự đều ở nơi nhất tâm vậy. Cho nên Phật giới, chúng sanh giới thảy đều ở trong tâm bao la muôn tượng, mới có mầu nhiệm bất khả tư nghì. Nếu dùng tâm phân biệt tức là quấy, nên gọi là móng tâm tức sai, động niệm tức trái; nghĩ chẳng đến, tìm chẳng gặp. Nếu như ai biết được tâm này tức là chốn đại địa không một tấc đất.

Như ngày hôm nay là pháp hội giảng Kinh thạnh đại như thế này, đầu tiên là nhân thiện tâm vị chủ trì bản Lâm máy động nghĩa là "muốn", thế là pháp hội thạnh đại, tức thì thực hiện được ngay. Lại nữa, như các cơ giới hiện nay: nào là phi cơ, tàu thủy xe lửa v.v… tất cả muôn vật đâu từng chẳng phải đều do tâm sanh mà có ư? Những điều vừa sơ lược kể trên có thể chứng minh rằng tâm lực bất khả tư nghì, tâm bao cả thái hư, lượng khắp cả sa giới. Cho nên THÍCH CA, DI ĐÀ đều do tâm ta tạo thành, Tam thừa Thánh nhân cũng là tâm ta gây nên; và lục đạo chúng sanh đâu chẳng phải như thế ư?

Cho nên chúng sanh là chúng sanh trong tâm các Đức Phật mười phương, mà mười phương các Đức Phật là các Phật trong tâm chúng sanh. Quán Âm là Quán Âm trong tâm chúng sanh, mà chúng sanh là chúng sanh trong tâm đức Quán Âm Nên gọi tâm này là Phật, tâm này phải làm Phật; tâm này là Bồ tát, tâm này phải làm Bồ tát. Chỉ cần phải có tu có hành mới đều có thể thành Phật thành Bồ tát được! Cho nên nói gọi rằng tâm là "Diệu".

Nếu ai mê muội bản tâm bèn thành lục đạo chúng sanh là trời, người, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh. Nên gọi là tâm đủ Địa ngục, tâm tạo Địa ngục, tâm đủ thiên đường, tâm tạo thiên đường; và Ngạ quỷ, Súc sanh cũng đều như thế cả. Thiên đường Địa ngục đã đều do tự tâm tạo tác cho nên gọi tâm pháp là Diệu.

Ba nghiệp thân, khẩu và ý của chúng sanh đều do phiền não tác nghiệp gây nên rồi chịu quả báo sanh tử luân hồi. Nhưng phiền não vốn là trống không, tức là liễu nhân Phật tánh. Phiền não nguyên là trí huệ, bởi lầm dụng tâm mà đem trí huệ làm thành phiền não. Trí huệ từ đâu mà có? Thể của phiền não tức là trí huệ, chẳng nên ngoại cầu. Thân khẩu ý có thể tạo nên thập ác, mà cũng có thể tạo thành Thập thiện. Kinh Lăng Nghiêm đã nói: Sanh tử luân hồi hay là an lạc diệu thường, chẳng bởi ai khác duy sáu căn này mà thôi.

Bản tánh của chúng ta vốn là bất sanh bất diệt. Nhưng vì hư vọng nhân duyên hòa hiệp mà sanh, nhân duyên tách rời hư vọng mà diệt. Như vậy là biết từ duyên mà sanh tức là chẳng sanh, do duyên mà diệt tức là chẳng diệt. Cho nên tác nghiệp nguyên là giải thoát; sanh diệt tức là Pháp thân. Vì vậy nên Phật THÍCH CA MÂU NI, khi mới thành đạo, Ngài liền than rằng: Lạ thay, lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có Như Lai trí huệ đức tướng, nhưng bởi vọng tưởng chấp đắm nên chẳng chứng được đấy thôi! Vậy là biết trong tâm chúng sanh đủ Phật ba đức, cho nên gọi chúng sanh pháp là "Diệu".

Tâm pháp, chúng sanh pháp đã Diệu, thời ông Phật đã dứt rốt ráo năm chỗ phiền não và dứt hẳn hai món sanh tử lại càng "Diệu" biết bao. Chúng sanh là chúng sanh trong tâm Phật, sơn hà đại địa muôn trượng giăng bày, không một vật nào chẳng phải ở trong tâm Phật, không có sai khác, vậy nên mới gọi Phật pháp là Diệu. Tâm, Phật và chúng sanh là ba điều không sai khác. Pháp mà không sai khác ấy là Diệu pháp vậy.

Diệu pháp này người người vốn sẵn có đủ, không ai chẳng có. Phẩm Phổ môn trong bộ Kinh này tức là Diệu pháp không sai khác. Pháp này chẳng phải đem tư lường phân biệt mà có thể hiểu được. Sanh khởi phân biệt vọng tưởng là chẳng phải Diệu, tức Diệu mà thành thô. Như niệm Phật, niệm Quán Âm niệm được nhất tâm bất loạn, không tư lường phân biệt, tức là Diệu. Ai có thể vượt khỏi kiến chấp của phàm phu chẳng chấp có; có thể thoát khỏi kiến giải của bực Thánh chẳng chấp không. Vượt tình thức, lìa kiến chấp tức là Diệu pháp. Nếu mà chấp có, chấp không là rơi vào phàm tình vọng duyên tức Diệu mà thành thô.

Nếu vô sở trụ mà sanh khởi tâm, lìa quá, tuyệt phi ấy là Diệu pháp. Mà hữu sở trụ, sanh khởi tâm, tức là Diệu pháp mà thành thô pháp. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Phật tánh tức là Diệu pháp. Vậy nên mọi người đều có Diệu pháp, mọi người đều có thể thành Phật. Sự tu chứng của mười phương ba đời các đức Phật là chứng Diệu pháp không sai khác này mà thành Phật. Chúng sanh mê muội lầm dùng Diệu pháp không sai khác này rồi quấy khởi phân biệt tư lường tức Diệu mà thành thô, thành khổ não chúng sanh.

Bởi hoặc nên gây nghiệp. Do nghiệp sanh tử; như tâm của phàm phu đều cho tất cả là có, rồi chấp có tướng nhân ngã. Bởi đó mà khiến pháp Diệu này thành bất Diệu.

La Hán tuy liễu được sanh tử, nhưng đắm nơi không, rồi ôm lấy thái độ tiêu cực mà chẳng độ sanh. Tuy là đã chứng quả La Hán, lại là thô mà chẳng diệu chút nào cả.

Quyền Thừa Bồ tát chấp đắm nhị biên, hoặc đãn trung, nhưng cũng chưa phải là rốt ráo, lại là thô cách nơi Diệu vậy. Duy Phật chẳng chấp không, có, nhị biên và đãn trung, lìa quá tuyệt phi siêu tình ly kiến, chứng Diệu pháp hoàn toàn, đấy là Chơn Diệu.

Nay dùng một ví dụ để nói rõ nghĩa trên: Chúng sanh sẵn đủ Diệu pháp nhưng chẳng tương ưng như vàng còn ở trong mỏ. Các Đức Phật chứng Diệu pháp nên đã tương ưng như vàng đã được đem ra khỏi mỏ. Vàng tuy có tại mỏ và ra mỏ khác nhau, nhưng bản thể nó chẳng hai, nên Kinh đã nói: Cần hết vọng duyên, tức Như Như Phật; một niệm xoay Tâm quang, liền đồng bản giác sẵn có.

Chúng sanh chỉ cần buông thả phàm tình, riêng không Thánh giải. Nơi các Phật chẳng thêm, nơi phàm phu chẳng bớt; ở chúng sanh chẳng dơ, ở các Phật chẳng sạch, tại các Phật chẳng sanh, tại chúng sanh chẳng diệt. Chỉ cần một niệm quay ánh sáng trở lại thời đương thể bèn là…

Nhưng hiện tiền vọng tưởng chấp đắm nên chưa chứng được, chỉ có Diệu pháp Phật tánh đủ sẵn mà thôi, nên gọi là Lý tức Phật. Quý vị đến đây nghe giảng Kinh, hiểu rõ được tâm tức Phật trọn đủ Diệu pháp thời gọi là danh tự tức Phật.

Nhưng tuy biết mình sẵn đủ Diệu pháp, nếu chẳng chơn thật tu hành thời chẳng có thể tu hành thành Phật được, như vàng chẳng gạn lọc được tức chưa thành vàng ròng thuần túy được. Vậy chúng ta ngay từ bây giờ buông thả muôn duyên, một mảy tơ chẳng dính nơi lòng, già dặn niệm Phật, yên lặng nghe Kinh – lãnh hội rõ ràng tâm cảnh đều tiêu vong – nhất tâm dụng công tu hành như thế, thời tuy chưa chứng đến Diệu pháp mà đã có thể hàng phục được phiền não, gọi là quán hạnh tức Phật.

Nếu là niệm Phật, niệm Quán Âm sáu căn đều nhiếp, tịnh niệm nối luôn – bên trong vong cả sáu căn, bên ngoài vong hết sáu trần; trong quên cả thân tâm, ngoài quên hết cả thế giới – xa thoát căn trần chỉ còn một điểm linh quang sáng rực rỡ. Đấy tức là tự tánh Quán Âm tương tự xuất hiện. Đấy tức thường gọi là Diệu pháp. Đến lúc này xem mà chẳng thấy, ngóng mà chẳng nghe; đến nỗi ăn vẫn bất tri kỳ vị nữa! Vì đã được vô nhân tướng, vô ngã tướng tâm và cảnh đều tiêu vong. Dụng công tu hành đến bực này, sáu căn mới thanh tịnh. Những phiền não bởi thấy và nghĩ mà có đều bị rơi rụng hết, gọi là tương tự tức Phật.

Tiến lên nữa, phá vỡ căn bản vô minh, đích thân chứng Diệu pháp; bên Thiền Tôn gọi là đích thân thấy được bộ mặt thật bị bỏ quên từ xưa nay. Bên Thiên Thai Tôn thì bảo viên chứng được tam đế quán, mà Tịnh độ Tôn cho là lý nhất tâm bất loạn, bất động tự tánh, chuyển thức thành Trí. Trí tức là Diệu pháp. Chúng sanh chuyển trí thành thức, chư Phật chuyển thức thành trí, nên thân kiến được bổn lai diện mục. Chẳng Diệu mà Diệu. Đích thân thấy được tự tánh Quán Âm và còn thấy đến cha mẹ đời trước nữa là khác, tức là đã chứng được Diệu pháp vậy. Đến tới địa vị này là có thể phân thân ra trăm cõi để thành Phật độ chúng sanh, nên gọi là phần chứng tức Phật.

Tuy đã xác chứng đến Diệu pháp Phật tánh, nhưng chưa rốt ráo, còn quyết phải dứt rốt ráo năm chỗ phiền não an trụ và dứt hẳn hai món sanh tử. Kiến tư, trần sa và vô minh ba thứ phiền não này thảy đều dứt rốt ráo thanh tịnh. Phân đoạn và biến dịch hai món sanh tử cũng đều giải thoát rốt ráo. Tác nghiệp đã hết, tình thức trống không mới thực chứng được Chơn giải thoát. Như Đức THÍCH CA đã chứng rốt ráo Diệu pháp này, nên mới gọi là cứu cánh tức Phật.

Đây là dùng Diệu pháp để hiển hiện nghĩa lục, tức Phật. Nghĩa này do Tổ Thiển Thai sáng lập. Dụng ý cho người tu hành, tự biết mình đã đến bực Phật nào một trong sáu. Chữ Tức là nghĩa chẳng rời nhau vậy.

Chúng ta đối với tất cả sự vật đều dùng suy lường phân biệt. Mà suy lường là tác dụng của thức thứ bảy; phân biệt là tác dụng của thức thứ sáu. Một khi sanh khởi suy lường phân biệt là liền rơi vào trong hố thẳm của ý thức, che khuất tâm tánh diệu bảo. Đấy tức là căn bản của sanh tử vậy.

Như chúng ta có thể chẳng sanh khởi hằng thẩm suy lường, chẳng khởi theo niệm so đo phân biệt, thời vô sở trụ nghĩa là trụ bên "Hữu" mà phân biệt; chẳng trụ bên "Không" mà so đọ. Nhị biên chẳng trụ, trung đạo chẳng ở, tức thì Diệu pháp hiển hiện. Đến đây tức là vô trụ sanh tâm, dù có phân biệt cũng chẳng phải là ý thức vậy. Nay đem việc ăn và ngủ mà nói, tuy việc rất tầm thường nhỏ nhen, nhưng cũng vẫn là Diệu pháp. Tức thường gọi là đầu đầu thị đạo, tả hữu phùng nguyên nghĩa là gặp gì cũng là Đạo; và hai bên thành giếng cũng gặp được mạch nước, chớ chẳng cần đào thẳng đến đáy sâu mới có mạch.

Ngày trước có ông Cư sĩ tên Bàng Uẩn, nhà ông rất giàu có. Sau khi đã hiểu Đạo và vì muốn tu đạo, nên ông đem cả gia tài giàu sang ấy mà đổ hết xuống sông Hán Dương, rồi nguyện cam phần nghèo khổ. Và ông khiến người con gái đan đồ tre để bán, người con trai cày ruộng để làm kế sanh sống cho cả gia đình. Một hôm cả gia đình hội nghị để đàm Đạo – cố nhiên ông là vị chủ trì. Sau khi khai mạc, ông mới bắt đầu vào nội dung rằng: Dụng công tu hành chẳng phải dễ. Chứng được Diệu pháp khó, khó, khó, khó. Mười hộc hột mè rải ngọn cây (ý nói khó còn một hột dính đầu cây). Bởi vì còn tham lam ăn ngon mặc đẹp và thói quen của ân ái, nó hay phân biệt nghĩ bậy bạ – từ hồi nào đến nay nó đã thành thói quen nặng nề. Ngày nay tuy đã hiểu rõ đều là "không". Nhưng trên sự thật muôn việc nó chẳng chịu "không" được, vì phiền não vọng hoặc thả buông nó chẳng rơi xuống và cũng vì con đường vọng hoặc nó đã quen thuộc lắm rồi, nên chẳng dễ sanh lòng niệm Phật, tham thiền và tu quán. Nay muốn chứng Diệu pháp là con đường sanh lộ mà chẳng dễ quen. Vậy biết tu hành là thật khó, thật khó.

Vợ ông là Bàng Bà, nãy giờ chăm nghe và ứng rằng "Dễ dễ dễ. Trăm đầu ngọn cỏ ý Tổ sư, ngắt một cọng mà nêu lên đều là… Đạo. Lũy tre xanh, hoa mai vàng thảy đều là Bát nhã. Hạt sương mai đọng đầu cỏ và cảnh vật màu xanh màu vàng… đã có người nhân đấy mà ngộ Đạo – thì việc gì mà mình than khó". Ý Bà, Tô Đông Pha đã bảo Tiếng khe róc rách lưỡi rộng dài, sắc núi xanh biếc thân thanh tịnh. Địa Thủy Hoả Phong Căn Trần Thức Giới đều là Diệu pháp, Phàm tình vọng duyên, tánh đó vốn không, tức nơi thô là Diệu. Không một quyền mưu nào mà chẳng phải chơn thật Diệu tánh thiên nhiên xưa nay vẫn như vậy, cho nên bà ta mới nói "Dễ".

Đến cô con tên Linh Chiếu thông minh dị thường, cô thưa: "Cũng chẳng khó, cũng chẳng dễ. Hễ đói thời ăn, mỏi đi ngủ". Đi Đứng Ngồi Nằm đều là Diệu Pháp. Bất quá chúng ta ăn với ngủ đều chẳng thành quan trọng. Thử nghĩ khi ta ăn ngủ, thường khởi vọng tương sanh phân biệt rau tốt rau xấu, vị ngon vị dở. Rồi với ngon tham mà ăn nhiều, với dở thời chán mà ăn ít. Đấy là tức Diệu Pháp mà thành thô pháp. Nếu như có thể nhất tâm bất loạn bình thản đến mâm cơm ăn, trực nhiên mà ăn, chẳng khởi tư lường phân biệt. Thường gọi là trọn ngày ăn cơm mà chẳng có nhai trúng hột gạo nào hết, vì vô ý thức tác dụng vậy. Cho nên ăn cơm như vậy gọi là ứng cúng, gọi đó là Diệu pháp Phật sự. Ăn cơm đã như thế thời ngủ thức cũng thế.

Khi ngủ điên đảo mộng tưởng là chẳng phải ngủ thật. Ngủ thật phải như người thật ngủ nghĩa là không mộng mới phải. Không điên đảo mộng tưởng thức hay ngủ nhất như tức là Diệu pháp. Ngày xưa có người sư huynh của Ngài Ngọc Lâm Quốc sư, cả ngày chỉ có ngủ với thức mà thôi. Người ta cho là lười biếng. Nhưng cái ngủ của Ngài chẳng đồng với cái ngủ của người khác. Trong giấc ngủ mơ mơ tỉnh tỉnh, tỉnh tỉnh mơ mơ, lối dụng công tu hành ấy của Ngài thật hơn Quốc sư Ngọc Lâm rất nhiều. Cho nên mới nói ngủ với thức như vậy cũng tức là Diệu pháp. Ngủ và ăn đã như vậy thời tất cả các pháp đều đâu chẳng phải như thế ư? Nói tóm lại là pháp này chẳng phải dùng suy lường phân biệt mà có thể hiểu thấu. Nên gọi đó là Diệu pháp.

Cho nên chẳng cần bỏ phân biệt và suy lường, nhất tâm lặng lẽ thoạt vậy không ghé vào đâu. Tôn Thiên Thai gọi là nhất tâm tạm quán; Tôn Tịnh độ cho là nhất tâm bất loạn. Chỉ cần chừng đấy đủ cùng với Diệu pháp thấy mặt nhau được rồi. Cho nên ngày xưa Đức Phật THÍCH CA phải mất thời gian lâu tám năm mới giảng xong hai chữ Diệu Pháp. Tổ Thiên Thai Trí giả cũng phải ba tháng tròn đàm luận mới xong Diệu Đạo. Nếu mở rộng ra để luận đàm thời thuyết ngang thuyết dọc cho đến cùng kiếp cũng khó mà hết được vậy. Chỉ cần một điều là do quí vị đích thân chứng kiến đến, may ra mới xong việc.

Trở lại gia đình họ Bàng: Một hôm ông hỏi cô con đã đến giờ Ngọ chưa Ta sắp nhập diệt? Dạ chưa. Cô thưa. Rồi cô liền thượng lên pháp Tòa do ông thiết sẵn mà nhập diệt. Sau khi tống táng cô con xong, ông sai người ra đồng báo tin cho cậu con biết ông sắp nhập diệt. Cậu con được tin, cậu liền nhập diệt, thân vẫn đứng, tay còn nắm cái chui cày. Thế là ông bị hai lần chậm trễ mới đến mình. Sau khi chôn cất hai con và chồng xong, bà Bàng nghĩ rằng còn ai nữa mà chôn lấp mình, nên bà tự vào trong hang đá mà nhập diệt. Nên có câu “Bàng Bà ẩn thạch gian.”

Còn nói về tài sản: Từ hồi nào đến giờ, bị trôi lăn quanh quẩn mãi trong tam giới lục đạo, nguyên do đều bởi tiền tài danh vọng nên đã gây nhiều nghiệp chướng tham lam, chấp đắm, sân si mỗi khi đắc thất. Nay muốn ra khỏi luân hồi được tự tại giải thoát, tất nhiên phải nới bỏ những thứ dây ràng buộc ấy mới được thành công chắc chắn.

Vậy thì sao chẳng đem Bố thí, có phải tốt lành hơn không?

Mình đã nhận biết sanh ra tội lỗi bởi nó mà đem cho kẻ khác thời họ tài gì nhận của cải đó mà tạo thành hạnh phúc. Cho nên cho nó xuống sông, khỏi gây lụy cho ai là tốt hơn hết.

2. Liên Hoa

Hoa sen này chẳng đồng với Hoa sen của phàm thường, nhưng mượn đấy làm ví dụ để dụ Diệu pháp vậy thôi. Hoa sen trong có hột, ngoài có hoa. Hột là quả, hoa là nhân. Hoa với quả cùng sanh, ví dụ nhân quả đồng một lúc nghĩa là chẳng lìa bản giác diệu tâm. Cái gốc sen nằm kín trong bùn nước, mà hoa sen vượt hẳn lên trên nước bùn. Bùn ví cho lục đạo chấp "hữu"; nước, dụ cho Nhị thừa đắm "không", Hoa sen vượt lên trên bùn nước tức ví dụ Diệu pháp vượt hẳn lên trên "hữu không" mà hiển lộ chơn lý trung đạo nghĩa chẳng phải không, chẳng phải hữu. Cái gốc sen chẳng rời nơi bùn nước tức dụ Diệu pháp song chiếu tức không tức hữu hiển lộ đạo lý Viên trung diệu đế chiếu cả chơn lẫn tục; ngăn cả hai, chiếu cả hai, ngăn và chiếu chẳng hai, vì tâm trùm cái hữu của lục đạo và cái không của Nhị thừa. Cho nên mới có thể rộng độ lục đạo và tam thừa. Cho nên đấy là mầu nhiệm của dụ, pháp trong Kinh này vậy.

Lại nữa, Hoa sen và hột sen hai vật ấy chẳng rời nhau: Có hoa tất có hột, tức chứng nhân quả bất nhị. Đức THÍCH CA khi mới thành Phật, vì cơ duyên thành Phật của chúng sanh chưa thuần thục, nên chẳng thể nói ngay Diệu pháp của Pháp Hoa được. Mà chỉ nên giảng pháp quyền môn phương tiện mà thôi: Như Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát nhã các Kinh. Trước là để khéo léo, dẫn dụ, khuyến khích, dắt dìu. Nên trước tiên giảng tam quy Ngũ giới, sau mới nói mười hai nhân duyên và các pháp tam thừa. Nhưng, tuy dạy các đạo pháp ấy, mà kỳ thật vì Phật thừa nên gọi là vì Thật mà phải thi thiết Quyền; tức như vì hột mà có hoa.

Sau bốn mươi năm liền liên tục ngày đêm thuyết giáo, bây giờ thời đã đến, và căn cơ của chúng sanh đã thuần thục, Phật mới mở Hội Pháp Hoa, mới khai quyền hiển thật đem tam thừa đồng qui về nhất Phật thừa không thô nào chẳng Diệu tức như hoa nở là hột hiện. Kinh nói: Nếu có kẻ nào nghe Pháp này, không một ai chẳng thành Phật. Lại nói: Một xưng Nam Mô Phật, đều cộng thành Phật đạo. Lại như hoa rơi hột thành dụ cho bỏ Quyền lập Thật. Ngoài Thật không có Quyền; ngoài Diệu không có thô. Khi mà Diệu pháp đã hoàn toàn hiển lộ không một chúng sanh nào chẳng phải là Phật. Đấy là 14 phẩm trước của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa này vậy.

Nhưng người đời chỉ biết Đức THÍCH CA trước là Tất Đạt Đa Thái Tử, lên 19 tuổi xuất gia, tu khổ hạnh 6 năm, đi du lịch 5 năm, đến năm 30 tuổi mới thành Phật. Họ đâu biết rằng sự thật Thích Ca với vô lượng trần sa kiếp về trước đã sớm thành Phật và đã chứng thấu Diệu pháp này rồi. Thế thì tại sao phải tái lai mà thành Phật nữa ư? Vì thương xót chúng sanh còn đang chịu khổ sanh tử luân hồi, cho nên chẳng sanh mà hiện có sanh, chẳng phải diệt mà hiện ra diệt, qua qua lại lại trong cõi thế giới Ta bà này chẳng biết bao lần mà kể Như Kinh Phạm Võng nói. Ta nay đến cõi Ta bà thế giới lần này nữa, kể cả trước sau cộng là tám ngàn lần rồi! Đấy cũng là ước về Hóa tích mà nói, chứ chơn diện mục của Đức Phật này là khai hóa tích để hiện bổn môn hiện thân độ sanh giống như "ngàn sông nước trong ngàn trăng hiện". Trăng dưới nước là hóa tích, trăng trên trời là bổn môn. Do Bổn mà giáng Tích, như vì hột nên mới có hoa. Khai Tích để hiện Bổn như hoa nở là hột hiện ra. Bỏ Tích lập Bổn thời như hoa rụng hột được thành tựu vậy. Tích Môn ba dụ, Bổn Môn ba dụ không một dụ nào chẳng phải ví dụ cho Diệu pháp. Diệu pháp mầu nhiệm sâu sắc e quí vị chẳng dễ hiểu rõ ràng, nhân dùng Hoa sen làm ví dụ. Những kẻ trí giả nên lấy dụ hoa sen để mà lãnh hội giác ngộ Diệu pháp vậy.

3. Kinh

Tiếng Phạn gọi Tu đa la, Tàu dịch là Khế Kinh. Trên là khế hiệp với Phật đạo, dưới khế hiệp với quần cơ, nên gọi là Kinh. Lại Kinh là thường vậy: ngàn nẻo đều quy về một gốc, thường trụ chẳng biến đổi vậy. Lại nữa, Kinh là Pháp: Cho nên chỉ dạy cho người ta phải dùng pháp độ phép tắc vậy. Lại thêm nữa, Kinh là đường tắt, nghĩa là con đường cho chúng to tu hành đi thẳng vậy. Lại còn là một nghĩa này, Kinh là khuôn khổ nghĩa là làm khuôn khổ để hoằng dương Phật pháp mà giáo hóa chúng sanh vậy. Đây là giải thích nghĩa của chữ Kinh có tất cả bốn nghĩa khác nhau như vậy.

Từ trước đến đây giải thích năm chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là Tổng Đề đã xong.

4. Quán Thế Âm Bồ tát

Kế đây giải thích Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn Phẩm. Phẩm này là đã thuộc về phần lưu thông Kinh Pháp Hoa, là để hoằng dương Diệu pháp. Bởi vì Quán Âm hóa hiện 32 ứng hóa thân đâu chẳng là đối với căn cơ mà thuyết pháp. Nhân chứng bệnh mà cho món thuốc nghĩa là nên dùng thứ thân nào mà hóa độ được, tức liền hiện thân ấy mà vì nói Pháp. Tùy thân hiện ra có: Phật, Bồ tát, bốn chúng đệ tử, đồng nam đồng nữ, trời rồng và tám Bộ v.v… chẳng đồng, nên Pháp nói ra cũng có: thông viên quyền thật đốn tiệm sai khác nhau, nhưng thảy đều vì Diệu pháp. Đức Bồ tát Quán Âm đã chứng được Diệu Pháp viên thông, cho nên có thể tùy từng loại mà hiện thân thuyết pháp. Bọn chúng ta luân hồi trong lục đạo mà sanh tử, tuy đầy đủ Diệu Pháp, nhưng bị phiền não che khuất chẳng hay hiển hiện được. Cho nên Quán Thế Âm Bồ tát hiện thân khắp cửa khai đạo cho chúng sanh, Từ bi giáo hóa đều khiến thoát khỏi trần lao mới được giải thoát. Cho nên mới có thuyết Quán Âm Phổ môn Phẩm ra đời. Nay theo thứ lớp mà giảng giải.

Quán Thế Âm Bồ tát là Nhân, Phổ môn Phẩm là Pháp. Bởi vì Quán Âm đã chứng được Diệu pháp môn của Phổ môn. Quán Thế Âm Bồ tát là Người năng chứng. Mà Phổ môn là Pháp bị người chứng. Cho nên Phẩm này lấy Nhân Pháp mà lập đề. Quán Thế Âm Bồ tát đối với cõi Ta bà của chúng ta cơ duyên đã thuần thục, cho nên quý vị đều hiểu được Ngài và thường tụng niệm danh hiệu của Bồ tát. Quán Thế Âm là biệt hiệu, mà Bồ tát là thông hiệu.

Quán là trí năng quán, Thế Âm là cơ sở quán. Quán là dùng trí quán sát. Có Tạng – Thông - Biệt - Viên bốn Giáo pháp. Bên tạng giáo là Pháp quán chia chẻ; bên thông giáo là Pháp quán thể đạt, bên biệt giáo là Pháp quán thứ tự; bên viên giáo là Pháp quán thật tướng.

Quán có cạn có sâu: Quán tất cả các pháp sanh diệt vô thường cuối cùng chung qui về bại hoại tiêu tan. Đây là cách quán chia chẻ. Thể đạt muôn pháp đều trống không, tức nơi sắc là không. Đấy gọi là thể pháp không quán. Trước quán Không, kế quán Hữu, cuối cùng quán Trung đạo Không Hữu chẳng hai, tuần tự tiến dần tới. Đấy gọi là thứ đệ quán.

Kẻ phàm phu chấp Hữu nên lấy Không mà phá trừ. Tiến tới một bước nữa là không mà chẳng không tức là diệu hữu. Chẳng không mà không tức là chơn không. Chẳng không mà không, phi hữu mà hữu, không hữu chẳng hai. Đấy gọi là trung đạo quán.

Nếu viên quán thì: Một Không tất cả đều Không, một Hữu tất cả dều Hữu, một Trung tất cả đều Trung. Một tức là ba, ba tức là một. Viên tam quán về nơi nhất tâm. Pháp quán của Quán Âm tức là diệu quán ba, một chẳng hai bất tư nghì vậy.

Thế là thế gian: một, chúng sanh ở cõi Dục; hai, chúng sanh ở cõi Sắc; ba, chúng sanh ở cõi Vô sắc, đều là thế gian hữu lậu. Nhị thừA la hán là thế gian vô lậu; Bồ tát là thế gian Nhị biên, Phật thời là thế gian trung đạo.

Tam giới lục đạo thế gian hữu lậu tức là cõi Thánh phàm đồng cư. Thanh văn Duyên giác Nhị thừa thế gian vô lậu tức là cõi phương tiện hữu dư. Bồ tát thế gian nhị biên tức là cõi thật báo trang nghiêm. Phật thời là thế gian viên dung trung đạo tức là cõi thường tịch quang độ vậy. Cho nên Đức Quán Âm bèn dùng mười pháp giới thế gian và bốn cõi mà làm cảnh thế gian sở quán vậy.

Âm là âm thanh. Trong mười pháp giới thế gian có hàng bao nhiêu tiếng tăm như: tiếng ác, tiếng thiện, tiếng hữu lậu, tiếng vô lậu, tiếng nhị biên và tiếng trung đạo đều là tiếng tăm bị quán. Quán là trí năng quán; thế gian tức là cảnh sở quán. Như trong Phẩm này nói: Nhất tâm xưng danh Quán Thế Âm Bồ tát tức thời quán sát tiếng tăm ấy đều được giải thoát. Nghĩa là Đức Quán Thế Âm quán sát tất cả tiếng tăm bị khổ não cầu cứu của mười cõi thế gian, liền lúc đó, khiến cho lìa khổ mà được vui. Và tiêu tai miễn nạn, nên có danh hiệu là Quán Thế Âm

Nhưng tiếng tăm phải dùng tai mà nghe chứ sao gọi là quán? Bởi vì sáu căn của Bồ tát là Viên thông cho nên có thể dùng thay đổi nhau được, mà bọn phàm phu chúng ta là chẳng phải thế. Tai chỉ nghe tiếng mà chẳng hay xem sắc, mắt chỉ hay xem sắc mà chẳng nghe tiếng được. Nên Kinh gọi: Mắt chẳng vượt khỏi sắc, tai chẳng vượt khỏi tiếng. Quán Thế Âm Bồ tát quán tiếng tăm của mười pháp giới rồi đến giáo hóa cứu vớt chúng sanh, không khổ nào chẳng vớt, không nạn nào chẳng cứu, nên gọi là Quán Thế Âm.

Thế gian phàm phu có 3 khổ, 8 khổ và vô lượng các khổ, cho đến khổ kiến tư phiền não, Quán Thế Âm Bồ tát quán tiếng tăm trì danh cầu cứu khổ kia, liền được giải thoát. Kỳ dư như chúng sanh ở cõi đồng cư có khổ phân đoạn sanh tử, Thanh văn Duyên giác là Nhị thừa chúng sanh có những khổ trần sa phiền não và khổ biến dịch sanh tử ở cõi phương tiện hữu dư; Bồ tát là Đại đạo tâm chúng sanh, có những khổ vô minh phiền não và khổ biến dịch ở cõi thật báo trang nghiêm. Một phen xưng danh hiệu của Bồ tát thời những khổ phiền não sanh tử của chúng sanh đang ở trong chín giới ba cõi đều khiến thoát ly, đều được thành Phật. Cho nên danh hiệu Quán Thế Âm chẳng những phàm phu nên niệm, mà La Hán Bồ tát cũng cần niệm trì.

Đức Quán Âm không khổ não nào chẳng cứu vớt, không cõi nước nào chẳng hiện thân. Trí năng quán của Bồ tát cùng với cảnh sở quán thế giới chúng sanh duy thị là nhất tâm, nên gọi Quán Thế Âm Phải biết Quán Thế Âm Bồ tát có bổn môn và tích môn: Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại bi nói Vị Bồ tát này có sức oai thần bất khả tư nghì, ở vô lượng kiếp về trước đã thành Phật rồi, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Đấy là bổn môn. Ngài đã thành Phật mà sao lại thị hiện Bồ tát? Vì Đại bi nguyện lực để cứu khổ chúng sanh vậy. Đấy là Tích môn. Kinh Quán Âm tam muội nói: Xưa đã thành Phật hiệu Chánh Pháp Minh Như Lai, Phật Thích Ca đã từng ở dưới Pháp tòa, sung vào trong đám đệ tử khổ hạnh để mà gần gũi. Ngày nay Đức Thích Ca thị hiện thành Phật thời Quán Thế Âm Bồ tát trở lại làm đệ tử để mà gần gũi lại. Cho nên một Phật ra đời ngàn Phật phò trì.

Kinh Bi Hoa nói: Ngày xưa, vô lượng kiếp về trước, khi còn là phàm phu, có Đức Phật Bảo Tạng ra đời. Bấy giờ đệ nhất Thái tử của vua Chuyển Luân Thánh Vương phát tâm cúng dường Phật và Tăng thời gian ba tháng. Rồi Thái tử bèn ở trước Đức Phật Bảo Tạng phát Bồ Đề tâm và lập đại thệ nguyện rằng: Nếu có thế giới chúng sanh bị khổ não mà xưng niệm danh hiệu Ta và được thiên nhãn của Ta xem thấy, và thiên nhĩ nghe thấy, nếu kẻ ấy chẳng được cứu thoát, Ta thề chẳng thành Phật. Ngay khi đó, Phật Bảo Tạng khen ngợi lời hoằng nguyện cứu khổ và cho vui chúng sanh, và Phật liền đặt cho Pháp danh là Quán Thế Âm. Lại nữa trong Kinh Lăng nghiêm Bồ tát tự nói rằng: Tôi tự nhớ lại được, Tôi ở vô lượng kiếp về trước đã từng gần gũi. Đức Cổ Phật Quán Thế Âm và Tôi làm làm kẻ đệ tử Phật. Rồi được Đức Phật ấy dạy cho rằng ngươi nên từ nơi nhĩ căn mà bắt đầu tu, rồi do nghe, suy nghĩ và tu thời ngươi sẽ vào được chánh định. Ban đầu Tôi ở trong tánh nghe, rồi mới vào giòng mà quên nơi chỗ.

Thông thường, nhĩ căn chúng ta hướng ngoại, giong ruổi tìm tòi, theo tiếng mà trôi lăn. Nay chỗ dùng công phu của Quán Âm tức dùng nhĩ căn quay ngược căn cơ trở lại mà nghe tự tánh. Cho nên mới có thể bên ngoài vong lục trần; bên trong vong lục căn. Năng sở đều vong. Đã vong được Sở, tức vào giòng pháp giới, bèn chứng được quả viên thông bổng nhiên siêu vượt, được hai món thù thắng, cho nên mới có 32 ứng thân, 14 Vô úy, bốn bất tư nghì, vô tác diệu đức. Đức Phật kia nhân vì Tôi mà thọ ký cho và đặt tên là Quán Thế Âm Do đấy mà biết Đức Quán Thế Âm thuần do tự mình quay lại quán tính nghe tức là chiếu cố tánh sẵn có. Sau khi rổng phá ngũ uẩn là liền chứng được viên thông.

Nếu chuyên nghe bên ngoài, chẳng hay quay lại nghe tự tánh, tức là ngoài tâm cầu pháp. Cho nên Đức Quán Thế Âm nhờ chẳng quán tiếng chỉ dùng quán trí để quán tánh nghe liền được giải thoát. Đấy là y theo Kinh Lăng Nghiêm ước về tự lợi mà giải thích Quán Âm. Nếu y theo Kinh Pháp Hoa ước phần lợi tha để giải thích Quán Âm, thì lợi tha là Bi mà tự lợi là Trí. Cho nên danh Hiệu Quán Âm có đức tự lợi lợi tha và công bi trí song vận vậy.

Sao gọi là Bồ tát? Bồ tát là lược xưng. Tiếng Phạn là Bồ đề Tát đỏa. Bồ đề dịch là giác, Tát đỏa dịch là hữu tình. Giác tức trên cầu giác ngộ Phật đạo, là tự lợi. Hữu tình tức dưới hóa độ chúng sanh hữu tình, là lợi tha. Cho nên có công thượng cầu hạ hóa và đức tự lợi lợi tha. Đấy là danh xưng của những người tu hành theo Đại thừa giáo. Người đời đều cho Thành hoàng, Thổ địa, Đông nhạc, Tài thần v.v… xưng là Bồ tát thật là sai lầm lớn lao. Vì những vị Thần vừa kể trên là thuộc về Đa Tài Quỷ trong loại Quỷ thần, gọi đó là Thần đạo. Mà Bồ tát là ngôi vị ở trên Trời, người, La Hán và ở dưới Phật Đà. Còn Thần đạo thời ở dưới Trời, Người đâu được lạm xưng là Bồ tát.

Hễ ai chưa thành Phật mà trước phát tâm độ người, đấy là cảnh giới Bồ tát, như lội qua sông vậy. Người lội do bờ bên này đến bờ bên kia mà chiếc thuyền thời ở giữa giòng. Bờ bên này dụ sanh từ luân hồi, bờ bên kia dụ Niết Bàn Thánh địa. Bồ tát tự mình đã xong sanh tử mà chẳng trụ ở sanh tử như chẳng trụ ở bờ bên này. Tuy đã chứng Niết Bàn, bất sanh bất diệt mà là chẳng trụ Niết Bàn, như chẳng trụ bờ bên kia, tức là cảnh giới Bồ tát. Và cũng là chơn diện mục của Phật giáo tích cực cứu thế. Cùng với những kẻ tu Tiểu thừa chỉ biết tự độ mà chẳng cần lợi tha thật khác xa chẳng đồng.

Phải biết Bồ tát quý vị đều có thể làm được cả. Chúng sanh ai ai cũng đều có bổn phận, như Từ bi ích vật lợi sanh, như thế cứ mà làm đi, tức là nhục thân Bồ tát. Sau khi quý vị nghe hiển, như tự lợi là Tiểu thừa. Nếu chẳng những tự lợi mà phát tâm vì chúng sanh nên nghe Kinh. Sau khi nghe đi khuyến hóa tất cả quyến thuộc, thân thích bằng hữu khiến cho mọi người đều hiểu biết được, đều tu trì được tâm đấy tức là tâm Bồ tát. Như sáng lập Cư sĩ Lâm mỗi cá nhân đều mưu đồ quyền lợi, mong cầu danh vọng. Bề ngoài tuy làm sự nghiệp công chúng nhưng kỳ thật vẫn là cảnh giới Tiểu thừa. Nếu được quý vị đó vì mưu cầu hạnh phúc chung, khiến mọi người đều được nghe Phật pháp, có chỗ nương về. Dụng tâm như thế, thời không luận gì các chức viên trong ban đổng lý sự đều là Bồ tát cả.

Bồ tát trọng tại xả kỷ lợi nhân là tích cực cứu đời, như tu những hạnh Phóng sanh, Bố thí, phần hương lễ bái, tụng Kinh niệm Phật. Rồi đem công đức ấy đều hồi hướng cho pháp giới tất cả chúng sanh và phổ cập đến đại chúng đều được lợi ích; hy vọng thế giới hòa bình, mọi người đều lìa khổ được vui. Đấy tức là pháp môn Bồ tát vậy.

Như tu niệm Phật vì muốn độ thoát chúng sanh mà niệm Phật cầu sanh Tây phương. Niệm được nhất tâm bất loạn, khi lâm chung được vãng sanh và gần gũi Đức Phật Di Đà, rồi mới trở lại cõi Ta bà mà độ sanh. Bề ngoài là cá nhân niệm Phật in tuồng tư lợi, nhưng kỳ thật vì chúng sanh mà niệm Phật sanh Tây là tâm địa Bộ Tát, tức là một mặt niệm Phật, một mặt khuyến hóa chúng sanh đấy cũng là đạo Bồ tát vậy. Nếu cao hơn nữa, cho rằng công phu tự mình hãy chưa thành tựu, mà vì muốn độ sanh vậy nên cần ở nơi nhà tranh vách lá, đạm bạc bần hàn kham tu khổ hạnh. Thân tuy ở sơn lâm chẳng hề tiếp xúc với dân chúng, nhưng lấy độ sanh làm tiền đề thời cũng là một sự nghiệp của Bồ tát vậy. Vì có làm thế mới đã phá được ngã kiến, hy sinh được tất cả. Cho nên mỗi khi động tĩnh đâu chẳng phải là đạo Bồ tát?

Ngài Vĩnh Gia Đại sư có nói rằng: Nhị thừa tinh tiến chẳng đạo tâm, ngoại đạo thông minh không trí huệ. Như các tổ chức Đồng thiện xã Tam thời hội, Lý môn, Vô vi, Tiên thiên v.v…tuy họ siêng năng khổ hạnh, hiểu biết mọi sự, nhưng chỉ được gọi là vô ích khổ hạnh, vì đấy là thế trí biện thông, với Phật đạo hãy còn xa xôi lắm. Đấy chính là không trí huệ, chẳng đạo tâm vậy. Người đời đối với thông minh và trí huệ thường lầm lẫn, họ chẳng phân biệt được, thật thì sai khác nhau như trời vực. Bởi thông minh chẳng hay liễu sanh tử được. Kể những khoa học, triết lý học, vật lý học, thanh quang, hóa, điện học v.v… đều là bác học thông đạt, đấy là thế gian thông minh, do lòng tham đắm mê muội nhận cho thật có trời dài đất lâu, nên đối với muôn pháp khám phá không nổi, chính là có thông minh mà không có trí huệ.

Ngược lại có những người chẳng biết các môn khoa học, không có học vấn, nhưng họ có thể hiểu rõ thế giới là huyễn hóa. Đối với tất cả họ khám phá được, nhận thức thấu đáo, và họ an bần lạc Đạo, chẳng mong cầu gì mà nhân phẩm tự nhiên cao khiết. Đấy là có trí huệ mà không thông minh. Nếu với thế gian có học thức rộng cao mà biết đem dùng hoằng dương Phật pháp tức chuyển thế gian thông minh thành trí huệ xuất thế. Cũng như Tiểu thừA la hán, tuy chịu đựng khổ cực nhọc nhằn, nhưng chỉ có tinh tiến dũng mãnh mà không có đạo tâm. Và chỉ biết tự cố bản thân mà chẳng chịu nhở một mảy lông để làm lợi ích cho người, trời. Nếu ngược lại mà làm lợi cho kẻ khác, thế là có đạo tâm Bồ tát vậy.

Cho nên quý vị đến đây nghe Kinh, đa phần là Phật giáo đồ, phàm khi lễ Phật tụng Kinh niệm Phật, cần phải phát tâm tích cực cứu đời, dù cho lực bất tùng tâm đi nữa, cũng nên phát quảng đại tâm, hễ có nguyện tất thành tựu có ngày. Được như thế mới là có tư cách Bồ tát. Đức THÍCH CA và Bồ tát QUÁN ÂM đều sớm thành Phật lâu rồi, nhưng vì tâm độ sanh tha thiết, cho nên; tái lai thị hiện ra đời. Quán Âm thị hiện 32 ứng thân, vì đối với cơ nghi nên hoặc hiện nam thân, hoặc hiện nữ thân, do đó mà người đời bảo Quán Âm là nữ nhân, kỳ thật chẳng phải vậy. Trên núi Ngũ Đài có đắp tượng Quán Âm bằng một tướng Thầy Tỳ kheo. Đức Quán Thế Âm có nhiều thị hiện: như tay xách giỏ cá, bồng con nít, mặc áo trắng, ngàn tay ngàn mắt, chân đạp rùa cá v.v… tuy đều là nữ thân, nhưng chỉ vì cứu độ một hạng nữ nhân nào đó nên phải thị hiện đó thôi, chớ kỳ thật đồng là một bản thể Quán Âm vậy.

Thuở xưa có một xứ, dân chúng chẳng chịu tin Phật pháp vì họ cho là mê tín. Bồ tát Quán Âm vì muốn giáo hóa bọn chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng kia, nên hóa hiện một nữ nhân, tay xách giỏ tre, trong có đựng mấy con cá, đi vào thôn xóm rao bán. Người trong thôn xóm thấy cô bán cá mà sao dung nhan mỹ mạo đẹp đẽ dị thường, nên ai cũng lấp lẽm và tranh nhau muốn cưới. Người thì xin cưới về làm dâu, người thì muốn cưới làm vợ, và có ông đòi cưới cho kỳ được dắt về làm hầu. Người ta bu quanh nơi cô càng lúc càng đông, nhất là các cậu thanh niên mò theo sát gót. Cô đi đến đâu cũng như đến đấy, cả ngày, cá bán không được vì người ta ham mua người mà thôi. Thấy đã đến lúc, cô nói: Các ông là đông người, còn tôi chỉ có một mình tôi, làm sao làm vợ cho đủ? Nhưng tôi xin đưa ra một đìều kiện, nếu các ông bằng lòng, là ai đọc thuộc lòng phẩm Kinh Phổ môn nội trong ba ngày nhất định thời tôi làm vợ kẻ đó tức thì? Liền tức tốc người làng đi khắp xứ tìm phẩm Phổ môn về đọc tụng. Sau ba ngày mãn hạn những người đọc thuộc lòng được bốn năm mươi người. Cô bảo: Các ông vẫn còn số nhiều, không nói chắc các ông cũng biết, một mình tôi mà làm vợ cho nhiều người bất tiện vì nhiều lẽ. Vậy tôi xin một lần nữa là ai đọc thuộc lòng quyển Kinh Kim Cang nội trong một năm tròn, tôi xin chân thành phụng sự người đó là chồng duy nhất của đời tôi. Thế là người ta một lần nữa phải khó khăn, vì văn tự của Kinh này lặp đi lặp lại, trùng điệp điệp trùng, quần quấn rắc rối chứ chưa kể chi đến nghĩa lý Bát nhã Ba la mật. Thế nhưng nghiệp lực nó mạnh lắm. Mãn hạn năm ngày có được mười người trúng tuyển. Cô ta lên tiếng: Cũng vẫn bất tiện thưa các người: Pháp luật hiện hành và luân lý cổ truyền xứ ta, chính ngày hôm nay mà vẫn chưa cho phép một vợ mà mười chồng. Xin quý Ngài một lần chót này nữa là nếu ai đọc thuộc lòng bộ Kinh Pháp Hoa trong hạn bảy ngày chẵn, thời tiện thiếp xin trân trong tuyên bố đem danh dự của kẻ hàng tôm hàng cá ra mà đảm bảo giữ đúng lời hứa đã hứa mấy lần trước. Lần này người ta gặp phải cái khó đặc biệt là tìm cho đủ bẩy quyển và ngồi xếp bằng mà lật từng trang từ đầu chí cuối cho hết bộ Kinh Pháp Hoa cũng đã mất bao ngày giờ, huống là học thuộc lòng. Một tuần lễ trôi qua, mãn hạn bảy ngày, vậy mà vẫn có một người đạt được mục đích cuối cùng, vẻ vang nhất đời, đó là chàng thiếu niên họ Mã. Chàng thông minh lịch sự, tiền nhiều, sang trọng. Dĩ nhiên cô bán cá phải giữ lời hứa. Sau một đêm hoa đăng rực rỡ, yến tiệc linh đình, đến giờ động phòng, tân nương bỗng phát cơn đau bụng bão dữ dội và chết luôn.

Ôi thôi! Mã thiếu niên tội nghiệp cho chàng biết bao! Chết, chết, đời ai tránh khỏi cái chết! Mà chết như thế này là nghĩa làm sao? Đời ai chẳng nên đáng sống! Mà sống như thế này là sống để làm gì? Chết sống như thế này phải có trời đất nào để nại cho thấu tai mới nghe! Mã thiếu niên đã dùng hết tâm cơ ba khoa ứng thi đậu Hoàng giáp cả ba, phần thưởng xứng đáng nhất là được một mỹ nhân tuyệt thế. Đó là hạnh phúc chứ gì? Nhưng hạnh phúc đã chớp cánh bay bổng rồi. Bay đi mà không ngày đậu lại, cách biệt vĩnh viễn. Giờ đây và tại đây chỉ còn một giả danh hạnh phúc và một thây chết nằm cứng đờ như những thây chết khác không hơn không kém. Sau khi tống táng xong, chàng ta tự hận là mình bạc phước. Để tránh bạc phước ấy, chàng thề trọn đời chẳng màng cưới vợ nữa. Rồi chàng tự nhìên sang qua sống một đời sống của những kẻ thất tình; dấn thân đây đó như kẻ si cuồng. Một hôm bất giác chàng đi tình cờ gặp một vị lão Tăng mặc áo tím, lão nhận thấy nơi anh ta có bộ dạng âu sầu khổ não nên Ngài mới gạn hỏi. Thì Mã quân đem hết đâu đuôi chuyện mới xảy ra mà thưa. Nghe xong Ngài bảo: Người nữ nhân ấy là Bồ tát Quán Thế Âm hóa thân, vì Bồ tát thấy bọn các ngươi chẳng tin Phật pháp nên mới thị hiện nữ nhân để giáo hóa đấy thôi. Ngài tiếp: Trong Kinh Phật dạy: Trước lấy tình dục câu dắt nó, sau mới khiến vào Phật trí vậy. Mã quân trở về nhà và thuật lại việc mình vừa gặp lão Tăng bảo như thế cho bà con nghe. Nhưng họ chưa tin nên họ quật mồ cạy nắp quan thời trong quan không có chi cả. Do đó dân chúng mới tin, và Phật pháp cũng do đó mà được thịnh hành. Sau vụ này được minh bạch, Mã quân cho là mình làm người thế gian cũng không còn ý nghĩa gì nữa, nên ông xuất gia làm Tăng, rồi vào tu đạo trong một hang núi. Về sau người ta đặt tên hang này là Mã lang động, tức là hang động chàng họ Mã. Động ấy đến nay vẫn còn.

Quán Âm mọi người đều đủ, đều có thể làm Bồ tát được. Như niệm Quán Âm để cầu phước báo. Tức là người, trời Quán Thế Âm Bồ tát. Nếu tu phước và huệ ba vô số kiếp, trăm phước tướng hảo, mà còn chấp tướng Bố thí, năng thí, sở thí chẳng tiêu vong, tức là Tạng giáo thủ tướng Quán Thế Âm. Nếu thể đạt muôn pháp đều không, đương thể tức là chơn, tuy rộng tu Lục độ mà thể của ba luân trống không: Ví như tu Bố thí, chẳng thấy ta là người năng thí, cũng chẳng thấy vật là của sở thí, và trung gian cũng chẳng thấy có người thọ của thí. Thí như sáng lập Cư sĩ Lâm đâu chẳng phải lợi sanh ích vật, lại như thi tác Phật sự, kiến lập đạo tràng nên coi đó là vầng trăng dưới nước, hoa đóm giữa hư không, huyễn hóa không thật, nên chẳng chấp lấy cho là thật có. Đây tức là Thông giáo Quán Thế Âm Bồ tát. Quán Không là tiêu cực, mà quán Hữu là tích cực, quán Trung đạo là tiêu cực mà tích cực. Còn quán thứ lớp, trước Không, kế Hữu, sau Trung, tức là biệt giáo Quán Thế Âm Bồ tát vậy. Nếu viên dung ba Quán đối với tiếng tăm của mười pháp giới đều là cảnh mà ta nhất quán: Chơn không chẳng phải không, diệu hữu chẳng phải hữu, duy là tam quán nhất tâm, tuyệt đãi viên dung. Sau khi đã chứng thấu triệt các nghĩa trên, mới từ thể trung đạo khởi dụng ứng hóa, tức là Viên giác Quán Thế Âm Bồ tát.

Tuy có Tạng – Thông – Biệt - Viên Quán Âm của Bổn giáo, nhưng kỳ thật đồng là một Quán Âm không hai không khác, bất quá sở kiến của mỗi người nên mới có chẳng đồng mà thôi. Nên gọi là kẻ nhân thấy là nhân; người trí thấy là trí vậy. Như nước ở cõi này, người thấy là nước, mà Ngạ quỷ thấy là lửa, cá ếch rùa trạnh thấy là nhà của chúng nó, mà trời xem thấy thời là ngọc lưu ly quý đẹp lắm. Tâm lượng nhỏ thấy Quán Âm nhỏ; tâm lượng lớn, thấy Quán Âm lớn. Tự như trống, chuông đánh lớn kêu lớn, đánh nhỏ kêu nhỏ. Bồ tát tự mình không có chia rẽ lớn nhỏ nhân ngã gì hết. Bất quá căn cơ của chúng sanh chẳng đồng nên Quán Âm phải khắp cả pháp giới, nên có câu:

Xứ xứ trì trung hữu minh nguyệt,

Gia gia môn hội hữu Quán Âm

Nghĩa là:

Ao nào cũng có ánh trăng,

Nhà nào cũng có Quan Âm hiện hình,

Vì Quán Âm là Quán Âm ở trong tâm chúng sanh. Như tuy chúng sanh mê muội điên đảo, nhưng sáu căn năng duyên kiến phần, mà cái thể của nó nguyên là quán trí của Quán Thế Âm mà sáu trần là sở duyên tướng phần, thời cái thể nó thật là thế âm của Quán Thế Âm vậy. Quán tức là trí như như, Thế Âm tức là lý như như. Sáu căn dính khít sáu trần, căn trần tiếp nhau là tự tánh bị che khuất chẳng hiển hiện được.

Quán Thế Âm như trăng mát mẻ trên trời, thường du đi giữa hư không rốt ráo. Cũng thế, chỉ cần tâm nhơ bẩn của chúng sanh được rửa sạch; căn, trần nới thoát, thời ánh trăng Bồ tát tự nhiên ứng hiện vào trong, như nước trong trăng hiện vậy, nên mới có nghĩa cảm ứng đạo giao mầu nhiệm. Phàm gặp các tai nạn, giặc cướp, nước lửa xảy đến thân thời chăm lòng chí mạng niệm Quán Âm niệm được nhất tâm bất loạn, tâm thủy lóng trong thời tự tánh Quán Thế Âm hiển hiện là được giáng xuống cứu thoát. Bởi đó mới có thể biết rằng đạo lý niệm Quán Âm cứu khổ rất là bình thường giản dị chẳng có gì kỳ lạ quái gở, vì trong tự tâm sẵn đủ mầu nhiệm ấy vậy.